BỆNH HỌC THỰC HÀNH - BẠCH HẦU - Pdf 17

BỆNH HỌC THỰC HÀNH
BẠCH HẦU
- Chứng: Lúc đầu hơi nóng, rét, cơ thể đau nhức, tinh thần mệt mỏi,
trong họng sưng đau (cũng có khi không đau), sau đó hai bên đầu họng xuất
hiện những điểm trắng (cũng có khi sau 2- 3 ngày mới thấy) hoặc nổi lên
thành miếng, sắc xám bẩn, dần dần lây lan đến những chỗ trong và ngoài
cửa họng.
Nếu chỗ bị thối nát mà lan rộng ra, kèm chứng nghẹt mũi, khan tiếng,
đờm ủng, khí suyễn, đờm khò khè, ăn uống thì sặc, mặt trắng, môi xanh, đó
là những dấu hiệu xấu. Bạch hầu có thể gây chết vì nghẹt thở.
- Nguyên nhân: Do cảm khí táo, nhiệt và nhiễm dịch độc lưu hành gây
nên.
- Điều trị: Sơ giải dịch độc, dưỡng âm, thanh nhiệt.
. Giai đoạn đầu, có kèm biểu chứng, nên dùng phép Tân lương sơ giải.
Có thể dùng bài
Trừ Ôn Hóa Độc Thang
(Bạc hà, Cát căn, Trúc diệp, Ngân hoa để sơ phong, giải độc; Bối mấu,
Sinh địa, Tỳ bà diệp để dưỡng âm, thanh nhiệt, lợi yết; Mộc thông, Cam thảo
lợi thấp, giải độc).
Hoặc Thần Tiên Hoạt Mệnh Thang (48)
(Thạch cao, Chi tử, Long đởm, Hoàng bá, Bản lam căn để thanh nhiệt,
tả hỏa; Sinh địa, Huyền sâm, Bạch thược để dưỡng âm, thanh nhiệt; Mã đâu
linh, Qua lâu bì để chỉ hạch, hóa đờm; Cam thảo điều hòa các vị thuốc).
Khi biểu chứng hết rồi, nên dùng bài Dưỡng Âm Thanh Phế Thang
(06) để nuôi dưỡng Phế âm, thanh Phế nhiệt.
Bạch hầu bớt mà nhiệt vẫn chưa thanh, có thể dùng bài Thanh Tâm
Địch Phế Thang (43) để thanh hết dư nhiệt.
Nếu Phế âm không phục hồi, nên dùng bài Dưỡng Chính Thang (08),
bỏ Thiên hoa phấn, thêm Chích thảo, Sa sâm để dưỡng Phế âm.
Có thể chọn dùng các bài dưới đây:
Dưỡng Âm Thanh Phế Thang (06), Thanh Lương Giải Độc Thang

quá Vi, tay chân lạnh băng nên dùng vị Sâm và Phụ tử, lượng lớn để hồi
dương. Nếu vì tức giận quá thương tổn Can khí khiến cho huyết vọng hành,
dùng bài ‘Tiêu Dao Tán’ thêm Hắc sơn chi, Sinh địa, Bạch mao căn để thanh
Can. Nếu vì ứ trệ mà sinh thực chứng, đau bụng dưới, nên dùng ‘Thất Tiếu
Tán’ là thuốc khử ứ, hành huyết.
Triệu Chứng
+ Hư Hàn: Lượng huyết rất nhiều, sắc mặt trắng, nặng lắm thì thở khò
khè, ra mồ hôi, tay chân lạnh băng, gần như chứng co cứng, mạch Trầm Vi
muốn tuyệt hoặc Phù Đại hư thoát, nên dùng 'Độc Sâm Thang’ hoặc 'Sâm
Phụ Thang’ thêm bội Nhân sâm. Nếu thiên về huyết hư chứng hiện ra huyết
băng, sắc nhạt, choáng váng, hồi hộp da khô, mạch Tế. Nên dùng bài
‘Khung Quy Giao Ngải Thang’ làm chủ. Nếu khí huyết đều hư nên dùng bài
‘Thập Toàn Đại Bổ Thang’.
+ Huyết Ứ: Huyết băng mà có hòn cục, bụng dưới trướng lên, ấn vào
thấy cứng, mạch Huyền mà Sắc. Cho uống bài ‘Thất Tiếu Tán’, 'Sinh Hóa
Thang".
+ Khí Uất: Sản hậu huyết băng, nóng nảy, bứt rứt hay giận hoặc tinh
thần uất ức, váng đầu, đầu căng, bụng đầy tức, ợ hơi, thở dài, ăn ít, bụng
trướng đau, đại tiện không đều hoặc tiêu lỏng không thông, rêu lưỡi mỏng
trắng, mạch Huyền Tế, nên trị với thang "Tiêu Dao Tán gia vị
Y Án Trị Băng Huyết Sau Khi Sinh
(Trích trong (Nữ Khoa Y Án Tuyển Tuý).
Bà họ Kim sau khi sinh một tháng, huyết cứ lai rai ra mãi, lạnh tay
lạnh chân, tự ra mồ hôi không ngớt, cho uống dưỡng huyết, bổ âm vẫn
không có kết quả. Chẩn mạch thấy 2 mạch xích không đại, không có thần.
Theo sách ‘Chử Thị Di Thư’ thì Huyết dù thuộc âm, huyết vận được thì
dương sẽ hòa, nay huyết nghịch tự ra mồ hôi, mạch Đại vô căn là vì chân
dương Tỳ Thận ở trong suy kém, nên huyết không nơi nương tựa mà thoát ra,
thế là dương hư thì âm phải đi. Cần dùng phép đại bổ chân dương để nhiếp
hư âm. Nếu bổ huyết dưỡng âm sợ huyết chưa kịp sinh mà lại thương tổn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status