BỆNH HỌC THỰC HÀNH
SUY THƯỢNG THẬN
(Insuffisance surrénale lente, Maladie d’Addison, Addisonsmus)
Đại Cương
Bệnh suy tuyến thương thận mạn tính còn gọi là bệnh suy thượng thận
mạn hay bệnh Addison, thường do lao vỏ tuyến thượng thân, teo thượng
thận, bệnh tự miễn, Histoblast, thoái hóa tinh bột, ung thư di căn, thoái hóa
do nhiễm độc tế bào, nhiễm nấm, bệnh bạch cầu, di chứng xuất huyết não,
nhiễm khuẩn, do trị liệu Corticoid kéo dài, phẫu thuật cắt tuyến thượng
thận Đặc điểm lâm sàng chủ yếu là bệnh nhân suy nhược, mệt mỏi, chán
ăn, tăng nhiễm sắc tố, mất nước mất Natri, huyết áp hạ. Bệnh phát sinh phần
lớn ở tuổi thành niên từ 20 đến 50 tuổi. Tuy có tăng tụ sắc tố như chứng "hắc
đởm" nhưng bệnh có nhiều biểu hiện hư hàn, vì vậy được qui vào chứng "hư
lao" trong chứng bệnh nội khoa y học cổ truyền.
Nguyên nhân
Nguyên nhân bệnh có nhiều, do tiên thiên bất túc, mắc bệnh ngoại
cảm hoặc nội thương lâu ngày, do tư tưởng tình cảm có sự đột biến bất
thường (thất tình) làm tổn thương tạng phủ, cũng có thể do sinh hoạt ăn
uống, phòng dục, lao động không điều độ đều có thể gây nên âm dương mất
điều hòa, khí huyết hư tổn, chức năng tạng phủ rối loạn. Và theo nhiều học
giả trong bệnh suy tuyến thượng thận thì chức năng của 3 tạng thận, can, tỳ
bị suy giảm nhiều nhất.
Có thể phân tích cơ chế bệnh lý như sau: Thận là gốc của tiên thiên,
thận tàng tinh, chủ mệnh môn hỏa, là nguồn năng lương và cơ sở vật chất
của sự sống, thúc đẩy sự sính trưởng và phát dục. Do mệnh môn hỏa suy,
năng lượng khí hóa thiếu hụt nên bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối
lạnh, mệt mỏi, tinh thần suy sụp, sinh lý yếu kém, sắc tố lắng đọng thành
xạm đen. Tinh suy nguyên âm không đủ để nuôi cơ thể nên thể trạng âm hư,
người gầy sụt cân, da xạm khô, ù tai, hoa mắt, ngủ ít, hay quên, lòng bàn
chân tay nóng. Can thận đồng nguyên, thận tinh hư thì can âm huyết
cũng thiếu nên chóng mặt ù tai, tóc khô rụng, chân tay tê dại cơ giật
Thường gặp các thể bệnh thượng thận mạn và luận trị như sau:
l) Tỳ thận dương hư: Thường gặp ở những bệnh nhân thể chất dương
hư, lưng đau mỏi, chân tay lạnh sợ lạnh, yếu sinh lý, tóc dễ rụng, tiểu trong
hoặc phù toàn thân, nam thì liệt dương, di tinh, nữ thì bụng lạnh, huyết trắng
nhiều, vô sinh, lưỡi bệu, sắc nhạt, rêu trắng hoạt, người gầy mệt mỏi, chán
ăn, sắc mặt da xạm đen hoặc nâu thâm, mạch Trầm, Trì, Tế, Nhược.
Điều trị: ôn bổ tỳ thận. Dùng bài Hữu Qui Hoàn gia giảm: Thục địa,
Sơn dược đều 15g, Bạch linh, Đơn sâm đều 15g, Sơn thù, Thỏ ti tử, Kỷ tử,
Đỗ trọng, Bạch truật đều 12g, Nhục quế bột 4g (hòa thuốc), Thục phụ tử
10g, Đương qui 12g, Lộc giác giao 10g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 3g, sắc
uống.
- Gia giảm: Khí hư nặng bỏ Đảng sâm thêm Hồng sâm; Có ứ huyết
thêm Kê huyết đằng; Nôn, buồn nôn thêm Khương Bán hạ, Trần bì; Bụng
đầy thêm Hậu phác, Mộc hương; Tiêu chảy thêm Bổ cốt chi, Nhục đậu khấu;
Chán ăn thêm Sa nhân, tiêu Sơn tra, Mạch nha; Tim hồi hộp thêm Ngũ vị tử,
Long nhãn nhục, Sinh Mẫu lệ; Liệt dương thêm Dâm dương hoắc, Lộc
nhung. Trường hợp đang mắc bệnh lao thêm Đông trùng hạ thảo, Bạch cập,
Hoàng tinh
Do bệnh kéo dài có thể dùng bài thuốc hoàn sau: Thục địa, Sinh cam
thảo đều 240g, Sơn thù, Câu kỷ tử đều 180g, Thỏ ty tử 150g, Đỗ trọng 120g,
Nhục quế 60g, Chế Phụ tử 100g, Hoàng kỳ 300g, Lộc nhung 60g, Tử hà xa
240g, tán bột mịn làm hoàn mỗi viên 6g, ngày uống 2 lần sáng chiều, mỗi
lần 2 viên (Hiện Địa Nội Khoa Trung Y Học).
2- Can Thận Âm Hư: Thường gặp ở người thể tạng âm hư, triệu
chứng chính là váng đầu, ù tai, lưng gối nhức mỏi, cơ run giật, chân tay tê
dại, sốt ít, lòng bàn chân tay nóng, mất ngủ, mồ hôi trộm, sắc mặt da xạm và
đen dần, táo bón, nam hoạt tinh, nữ kinh nguyệt rối loạn hoặc bế kinh, chất
lưỡi đỏ khô, rêu ít, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sác.
Điều trị: T'ư thận, dưỡng can, sơ can, hóa ứ. Dùng Mạch đông, Sa
sâm, Sinh địa, Nữ trinh tử, Qui bản, Miết giáp đều 15g, Hạn liên thảo,
Những Bài Thuốc Kinh Nghiệm
+ Ôn Thận Hóa Khí Lợi Thủy Phương: Bệnh viện trưc thuộc số 2 Học
viện Trung y Hồ Nam): Thuc địa, Hoài sơn, Phục linh, Đơn sâm đều 15g,
Sơn thù, Kỷ tử, Thỏ ti tử, Đỗ trọng, Đương qui đều 12g, Lộc giác giao, Qui
bản giao, Chế Phụ tử đều 10g, Nhục quế bột 5g, bột Điền thất 3g, Cam thảo
3g, sắc uống. Đã trị 1 ca suy thượng thận phù toàn thân khỏi hẳn, 17
Setosteroit bình thường, trở lại công tác bình thường, 9 năm không tái phát.
+ Ngũ Ô Nhị Địa Thang (Tưởng Đại Linh, bệnh viện huyện Diêm
Sơn, Hà Bắc).
Thục địa, Sinh địa đều 15g, Kỷ tử, Đơn bì đều 12g, Ngũ vị tử, Bạch
thược, Hoàng cầm, Chỉ xác, Ngưu tất, Sơn thù, Tri mẫu đều 10g, Ô mai 3
quả, sắc nước uống. Đã
trị 2 ca đồng tử dãn, phản xạ ánh sáng yếu được hồi phục hoàn toàn.
+ Bổ Mệnh Môn Hỏa Phương (Trương Thụy Đình, bệnh viện Trung y
Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long): Đảng sâm, Câu kỷ tử, Thục địa hoàng, Nữ
trinh tử, Tiên linh tỳ, Bổ cốt chi đều 9g, Hoàng kỳ, Sơn dược đều 12g, Tang
ký sinh 15g, Lộc giác giao 6g, sắc uống.
Thuốc có tác dụng ôn thận ích khí, đã dùng trị 6 ca có kết hợp cứu đều
khỏi tốt.
+ Phụ Quế Ôn Thận Phương (Trình Ích Xuân, học viện Trung y Sơn
Đông): Thục Phụ tử 12g, Nhục quế, Sơn dược, Sơn thù, Đơn bì, Trạch tả,
Phục linh, Đơn sâm, Chích thảo đều 9g, Thục địa, Hoàng kỳ đều 15g, sắc
uống.
Trường hợp tức ngực hồi hộp thêm Phỉ bạch 12g, bột Hổ phách l,5g
(hòa uống). Đã dùng trị 1 ca khỏi, 17 Setosteroit bình thường, hồi phục công
tác.