TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHAN CHÂU TRINH
KHOA: KINH TẾ
LỚP: 07TC1
o0o
Bài tiểu luận:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
Phạm Thị Hoàng Mỹ
Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Đặng Quốc Thông
2. Phạm Thị Thu Vân
3. Trần Thị Mỹ Dung
4. Trịnh Quang Huy
5. Trần Thị Thục Trinh
6. Nguyễn Thị Trí
7. Nguyễn Thị Hà
8. Đỗ Thùy Trinh
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
Hội An, Năm 2010
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 2
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 02
Phần I: Giới thiệu chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) 04
I: Khái niệm 04
II: Bản chất và đặc điểm 04
1: Bản chất 04
2: Đặc điểm 05
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 3
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỉ XXI chúng ta đang bước vào quá trình mở cửa và hội nhập
quốc tế, cùng với quá trình CNH - HĐH đất nước. Với sự hội nhập quốc tế ngày càng
đa dạng đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng không ít thử thách trong quá
trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta đã đạt
được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, VH-
XH, ngoại giao…, nhờ vào quá trình hội nhập kinh tế đã tạo ra những cơ hội hợp tác
kinh tế, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các
nước trong khu vực và trên thế giới. Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế, Việt Nam chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp vốn
của nước ngoài (FDI).
FDI ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế đang trên đà phát triển nói
chung cũng như Việt Nam nói riêng. Nói thể hiện rất cụ thể, sau khủng hoảng kinh tế
năm 1997 khi một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm đi nhanh
chóng đã ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước. Bởi FDI không chỉ là nguồn cung
cấp vốn quan trọng mà còn là con đường cung cấp công nghệ hiện đại, những bí quyết
kĩ thuật cao, đặc biệt là những kinh nghiệm trong công tác quản lý và là cơ hội tốt cho
VN tham gia hội nhập kinh tế thế giới. Thấy rõ được sự cần thiết của đầu tư trực tiếp
nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm qua chúng ta đã
đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng: Thu hút và sử dụng luồng vốn đầu tư trực tiếp
một cách hiệu quả nhất.
Đầu tư trực tiếp là một hình thức đầu tư phổ biến và rất hiệu quả nên thu hút
được nhiều sự quan tâm của các nhà hoạch định cũng như của các doanh nghiệp.
Nhóm chúng tôi đang theo học khoa kinh tế, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng là
những nhà kinh tế trong tương lai, đã quyết định lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu cho bài tiểu luận này.
trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi
là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài).FDI chỉ
ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh
nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khá. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với
một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI.
II. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM:
1. Bản chất.
Đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn
xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, hai hình thức xuất khẩu này lại có mối quan hệ mật
thiết với nhau, hổ trợ và bổ sung nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị
trường của các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là
bước đi tìm kiếm thị trường, tìm hiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu tư. Ngược
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 5
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
lại, hoạt động đầu tư tại các nước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài xuất
khẩu máy móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước đó.
2. Đặc điểm.
- Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là
tìm kiếm lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý
điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ
mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho
mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp
định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm
soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thường quy
định không giống nhau về vấn đề này. Tỉ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ
hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận
và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỉ lệ này.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
hình thành từ sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật
pháp và bản sắc văn hóa, hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản
lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra. Hoạt
động của liên doanh rất rộng, bao gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng
dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
* Những ưu – nhược điểm của hình thức doanh nghiệp liên doanh:
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
+ Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hóa sản
phẩm, đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao động làm
việc và học tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài.
+ Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan
đến đầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp. đối tác
nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lúc liên doanh phải chịu
thua thiệt vì lợi ích nơi khác, những thay đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng tới
tương lai phát triển của doanh nghiệp liên doanh.
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
+ Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối sẵn có của đối tác nước
sở tại, được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lợi nhuận, lĩnh vực bị cấm
hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Thâm nhập được
những thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời gian và chi phí cho
việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ. Chia sẻ được chi phí và
rủi ro đầu tư.
+ Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối
tác. Mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, định giá
tài sản vốn góp, giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước.
Không chủ động trong quản lí và điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh
doanh, khó giải quyết những khác biệt về tập quán, văn hóa.
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 7
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
II. DOANH NGHIỆP 100% VỐN NƯỚC NGOÀI:
TÁC KINH DOANH:
- Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia
kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập
pháp nhân mới.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giữa các đại diện có thẩm
quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thực hiện
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên.
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 8
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
- Đặc điểm là các bên hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong quá trình kinh doanh
các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện
hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phân chia kết quả kinh doanh: Hình thực hợp doanh
không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung
theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận giữa các bên. Các bên hợp doanh thực hiện
nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước sở tại một cách riêng rẽ. Pháp lý hợp doanh là
một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của
pháp luật nước đó. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp
đồng hợp tác kinh doanh.
* Những ưu – nhược điểm:
- Đối với nước tiếp nhận:
+Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo thị
trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành
dự án.
+ Nhược điểm: khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được với một số ít lĩnh
vực dễ sinh lời.
- Đối với nước đầu tư:
+ Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước
sở tại, vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư, thâm nhập được những thị trường
truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu
thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ. Không bị tác động lớn do khác biệt về
- Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đồng BOT, BTO, BT mặc dù
hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan quản lý nhà
nước ở nước sở tại. Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủ
yếu áp dụng cho các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, được hưởng các ưu đãi
đầu tư cao hơn so với các hình thức đầu tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn
hoạt động thì phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ sở hạ tầng đã được
xây dựng và khai thác cho nước sở tại.
* Những ưu nhược điểm:
- Đối với nước chủ nhà:
+ Ưu điểm: thu hút vốn đầu tư vào những dự án có cơ sở hạ tầng đòi hỏi
vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanh
chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi dậy các nguồn lực
trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế.
+ Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý và khó kiểm soát
công trình. Mặt khác nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà
đầu tư.
- Đối với nước đầu tư:
+ Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được đảm bảo, chủ động quản lý, điều hành
và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, không bị chia sẻ lợi nhuận và được nhà nước sở tại
đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.
+ Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thường gặp nhiều
khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và công sức.
V. ĐẦU TƯ THÔNG QUA MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ CÔNG TY CON
(HOLDING COMPANY):
- Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận
rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
- Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ
để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh
hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
phần . Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông, có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết
định cao nhất của công ty cổ phần.
- Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài được
thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp liên
doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần của
doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa.
VII. HÌNH THỨC CHI NHÁNH CÔNG TY NƯỚC NGOÀI:
- Hình thức này được phân biệt với hình thức công ty có 100% vốn nước ngoài ở
chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty con thường
là một pháp nhân độc lập. Trách nhiệm của công ty con thường giới hạn trong phạm
vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiệm của chi nhánh theo quy định của một số
nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng
đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài.
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 11
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
- Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chi phí
thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ ở nước ngoài. Ngoài ra chi
nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lý của công ty mẹ ở nước ngoài
vào phần thu nhập chịu thuế ở nước sở tại.
- Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công ty con.
Do không thành lập một pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh không phải tuân
thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ thông qua việc đăng kí tại các
cơ quan co thẩm quyền của nước chủ nhà.
VIII. HÌNH THỨC CÔNG TY HỢP DANH:
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài
các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên họp danh phải là
cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm toàn
bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty, thành viên goáp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty
hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Các thành viên hợp
khác nhau cùng hoạt động trong một lỉnh vực có thể sáp nhập lại nhằm tăng khả năng
cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn.
Biểu đồ: hoạt động M&A ở VN năm 2004-2009
+ Các công ty vì mục đích quốc tế hóa sản phẩm muốn lấp chỗ trống trong hệ
thống phân phối của họ trên thị trường thế giới.
+ Thông qua con đường M&A các công ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực
nghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông.
+ M&A tạo điiều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngàng công nghiệp và
cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia. Do đó hình thức này đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia.
* Hoạt động được phân thành 3 loại:
+ MA theo chiều ngang xảy ra khi hai công ty hoạt động trong cùng một lỉnh
vực sản xuất kinh doanh muốn hình thành một công ty lớn hơn để tăng khả năng cạnh
tranh, mở rộng thi trường của cùng một mặt hàng mà trước đó hai công ty cùng sản
xuất.
+ MA theo chiều dọc diễn ra hai công ty hoạt động ở hai lĩnh vực khác nhau
nhưng cùng chịu sự chi phối của một công ty mẹ, loại hình MA này thường sảy ra ở
các công ty xuyên quốc gia.
+ MA theo hướng đa dạng hóa hay kết hợp thường xảy ra khi các công ty lớn
tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro và tránh thiệt hại khi một
công ty tư nhân thâm nhập thị trường.
* So với đầu tư truyền thống từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 13
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
+ Về bổ sung vốn đầu tư: trong khi hình thức đầu tư truyền thống là bỏ mỗi
ngày một lượng vốn FDI cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ yếu chuyển sở
hữu từ các doanh nghiệp tồn tại ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài. Tuy
nhiên, về dài hạn hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho
các nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
+ Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm cho
sẽ không có tiền để mua sản phẩm đó. Cơ cấu các ngành trong nền kinh tế cũng ảnh
hưởng tới hoạt động đầu tư vì với cơ cấu của nền kinh tế thiên về những ngành công
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 14
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
nghiệp chế tạo hay công nghiệp cơ khí thì sẽ được các nhà đầu tư sẽ chú ý và cơ hội
nhận được sự đầu tư sẽ cao hơn.
Cơ chế kinh tế của nước sở tại, điều này ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng đầu tư,
cơ chế không phù hợp sẽ tạo ra rào cản đối với họ. Nếu giờ chúng ta vẫn còn giữ cơ
chế tập trung thì thành phần kinh tế quốc doanh vẫn là chủ yếu thì sẽ không thể chấp
nhận một dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được. Do vậy, các nhà đầu tư không dại
gì mà đầu tư vào một quốc gia như thế bởi họ không được hoan nghênh mà khi đâu tư
vào các nước như vậy thì học còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp quốc doanh.
1. 2.Về tình hình chính trị:
Hầu hết các nhà đầu tư thường tìm đến những quốc gia mà họ cảm thấy yên tâm
về tình hình chính trị vì chính trị không ổn định sẽ ảnh hưởng tới dự án của mình và
nhất là xác suất về rủi ro là rất cao, có thể dự án sẽ không tiếp tục được thực hiện dự
án và không có cơ hội sinh lời, thậm chí còn có thể sẽ mất khả năng thu hồi vốn. Các
biến động về chính trị có thể làm thiệt hại cho các nhà đầu tư do có những quy định,
các điều luật đưa ra sẽ được sữa đổi cho phù hợp với tình hình chính trị khi có những
biến động chính trị vì thế cũng có thể thay đổi hoàn toàn những hiệp định ký kết giữa
hai bên do đó các nhà đầu tư phải gánh chịu hoàn toàn những bất lợi khi xảy ra biến
động chính trị.
Đây là yếu tố thường được các nhà đầu tư nước ngoài phải thường xuyên quan
tâm theo dõi trước khi có nên quyết định đầu tư vào bất kỳ một quốc gia nào. Những
bất ổn về chính trị không chỉ làm cho nguồn vốn đầu tư bị kẹt mà còn có thể không
thu lại được hoặc bị chảy ngược ra ngoài.
Nhân tố tác động này không chỉ bao gồm các yêu cầu như bảo đảm an toàn về
mặt chính trị xã hội mà còn phải tạo ra được tâm lý dư luận tốt cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Bất kể sự không ổn định chính trị nào, các xung đột khu vực, nội chiến
hay sự hoài nghi, thiếu thiện cảm từ phía các nhà đầu tư đối với chính quyền các nước
đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nói tóm lại hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh hưởng của các nhân
tố nói trên thì nó còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố: Chênh lệch về năng suất cận
biên của vốn giữa các nước, chu kỳ sản phẩm, lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc
gia, tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại, khai thác chuyên gia và công
nghệ, tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế,
bảo vệ quyền sở hữu…Vì vậy, để hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
diễn ra một cách thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các
nhân tố trên trong mối quan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu
tư trong nước.
PHẦN IV:
THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM
I. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VIỆT NAM:
1. Những thuận lợi:
Việt Nam đã mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ hơn 20 năm
qua nhất là trong 10 năm 2000 - 2009 đạt được kết quả đáng ghi nhận, vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế đất nước. Tuy nhiên, chúng ta cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút
nguồn vốn này.
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 16
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
- Vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất
nước. Đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài vào GDP tăng dần qua các năm 2000
đạt 12,7% giai đoạn 2001 - 2005 tăng cao hơm mức bình quân khoản 14,5% năm. Tỉ
trọng này tiếp tục tăng trong các năm 2006-2009 với các con số là 16,98% - 18,33%.
Biểu đồ: Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (1999-2008)
Biểu đồ: Thực tế đầu tư tại việt nam trong lúc khung hoảng kinh tế
- Giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài cũng gia tăng nhanh chóng, giai
đoạn 2001 - 2005 đạt 34,6 tỷ USD tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước, năm 2006 đạt
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 17
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
2. Những khó khăn:
- Đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí. Mục đích của các nhà đầu
tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu tư vào các
ngành công nghiệp, dich vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy máu chất
xám”. Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu nhập, việc làm do
đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, công nhân
lành nghề của nước ta về làm việc cho họ.
- Chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cách mạng khoa học –
kỹ thuật, quá trình nghiên cứu ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bị
nhanh chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao
sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp. Việc làm đó đã làm cho trình độ
công nghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu.
- Chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nước nhận đầu
tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảm thuế, miễn
thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng ….
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự canh tranh với các doanh
nghiệp trong nước. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt
các doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao
động và các nguồn lực khác.
- Các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể
gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâm nhập vào
nước ta.
* Thực trạng của những tiêu cực đó được thể hiện rõ nét trong những vấn đề
sau:
- Hứa nhiều làm ít
+ Các nhà FDI khi mới vào thường hứa hẹn với các dự án hấp dẫn song
có tường tận mới thấy giật mình. Những công bố về thu hút FDI chỉ là số đăng ký,
còn thực hiện thế nào xin đợi đấy. Từ 1988 đến 2009, tổng số vốn FDI thực hiện được
khối FDI vẫn y nguyên.
+ Nền xuất khẩu của Việt Nam - dù đã được tiếp sức của FDI, so sánh
với chính mình thấy rạng rỡ, nhưng chỉ cần liếc sang các nước trong khu vực thì thấy
vẫn dẫm chân tại chỗ, với những đặc trưng: Gia công - manh mún - hàng thô; trung
gian - giá cả - mấp mô thị trường.
- Khấp khểnh vùng, miền
+ Là những nhà kinh doanh lọc lõi, họ mang vốn liếng sang không phải
làm từ thiện mà để kiếm lời càng sớm, càng nhiều càng tốt. Họ chỉ chọn những thành
phố, những địa phương giáp biển, có cảng hàng không, có trục giao thông huyết
mạch, miền xuôi, vùng có mặt bằng lý tưởng , đỡ phải đầu tư ban đầu. Chỉ có 21/63
địa phương có vốn đăng ký của FDI từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó 6 địa bàn: TP
HCM, Hà Nội, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận đã chiếm
67% tổng số vốn đăng ký FDI trong cả nước. Các tỉnh mạn ngược đất rộng, người
thưa, địa chất công trình tốt, nhưng ngổn ngang khó khăn, nên không được FDI ngó
ngàng. Hố ngăn cách được đào rộng, moi sâu.
- Lấn sân phân phối
+ Các hãng phân phối quốc tế từ lâu đã nhìn thấy Việt Nam là thị trường
bán lẻ hấp dẫn vừa vì dân số lớn mà hệ thống phân phối, mạng lưới bán lẻ của Việt
Nam còn non trẻ. Từ 1/1/2009 - theo lộ trình cam kết quốc tế ta phải mở cửa cho các
hãng phân phối 100% vốn nước ngoài - họ xung trận với vốn liếng dồi dào, hàng hoá
đầy ứ, trình độ quản lý cao, tầm nhìn chiến lược, kỹ năng tiếp thị sành sỏi, quảng cáo,
khuyến mại mê hồn, phương thức văn minh. Trong khi đó, ta có 9.000 chợ các loại,
hơn 70 trung tâm mua sắm, 400 siêu thị lớn nhỏ, kể ra đã là lực lượng hùng hậu so với
20 năm trước đây. Đông mà không mạnh, chẳng hợp sức để cải thiện tình hình ngoại
trừ việc ngoắc tay tăng giá.
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 20
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
+ Hơn thế nữa lực lượng “cổ động viên sân nhà” với tâm lý thích dùng
hàng ngoại, tiền nào của ấy, không lăn tăn về mọi mặt , sớm muộn gì cũng quay lại
cổ suý cho “đội khách”. Trận đấu mới bắt đầu, song hồi kết sẽ tới với kết quả được
nhiễu, phiền hà, song những chiêu này được cấp dưới tiếp thu và vận dụng sáng tạo.
Nhà FDI chả chịu thiệt mà “kính chuyển” tắp lự vào giá thành.
- Gian nan quản lý
+ Toàn bộ quá trình từ đưa máy móc vào - cung ứng nguyên liệu - tổ
chức sản xuất, gia công đến thu xếp đầu ra đều được khép kín, phía Việt Nam không
được phép biết. Vì vậy họ thoải mái dùng các thủ pháp thổi giá vật tư, máy móc để
tâng giá trị dự án và tăng tỷ lệ góp vốn trong liên doanh, khai khống giá nguyên nhiên
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 21
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
vật liệu đầu vào, tạo giá thành ảo, hạch toán vờ, trốn thuế thật. Năm 2009 gần 60% số
doanh nghiệp FDI tại thành phố Hồ Chí Minh báo cáo lỗ. Tựu chung đóng góp vào
ngân sách nhà nước của Khối này đáng thất vọng, trong các năm 2005 - 2008 chỉ
xung quanh 9-10% tổng thu ngân sách quốc gia. Năm 2009, vin cớ khủng hoảng,
đóng góp của họ giảm 11,25%, trong khi khu vực tư nhân chỉ giảm 4,4%, còn doanh
nghiệp nhà nước vẫn tăng 6,2%.
II. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ:
1. Những thuận lợi:
- Do hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,nền kinh tế VN chịu nhiều
biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới như lạm phát cao, giá cả tăng, thị trường
chứng khoán suy giảm. Tuy nhiên các biện pháp đối phó quyết liệt của Chính phủ
VN, nền kinh tế đang có những tiến triển khả quan, dự kiến tăng trưởng GDP trong
năm 2009 của Việt Nam sẽ đạt trên 6.5%. Các nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức quốc
tế đều đánh giá cao những nổ lực của Chính phủ và tin tưởng vào tiềm năng phát triển
lâu dài của nền kinh tế VN, đồng thời cho rằng môi trường đầu tư hấp dẫn, điều kiện
chính trị ổn định của VN là những thuận lợi lớn,có thể thu hút thêm các nguồn vốn từ
bên ngoài trong điều kiện nhiều thị trường đang gặp khó khăn.
* Về con người:
- Việt Nam có chất xám tốt, năng động,nhiều người thật sự có năng lực ngang
hàng với nguồn nhân lực các nước trên thế giới hoặc nước họ, lao động VN có trình
độ khoa học kỹ thuật có thể đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó
nước không can thiệp khi các quyền và nghĩa vụ đó trái luật.
- Thực hiện cải cách hành chính, thủ tục hành chính tạo môi trường thông
thoáng, thuận lợi cho việc sử dụng lao động và tìm kiếm việc làm.
- Sửa đổi một bước những bấc cập trong pháp luật lao động, tạo bình đẳng giữa
các loại hình doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.
Căn cứ vào Bộ luật lao động các Bộ đã tưng bước hoàn thiện hệ thống pháp
luật lao động về cơ bản đã bảo đảm hành lang pháp lí, tạo điều kiện thuận lợi và thông
thoáng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong việc thuê mướn lao động
VN phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình
Bên cạnh đó, quyền và trách nhiệm của các bên được thỏa thuận theo pháp luật
quy định và bình đẳng giữa các loại DN thể hiện như:
- Các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN được quyền trực tiếp tuyển lao
động VN hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm, thay vì trước đây bắt buộc
phải tuyển lao động VN thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm.
- Về tuyển dụng lao động nước ngoài đã được mở rộng cho cả các văn phòng
dự án nước ngoài hoặc quốc tế tại VN.
Như vậy, pháp luật VN luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu
tư nước ngoài.
Bên cạnh những mặt tích cực trong vấn đề pháp luật của VN nêu trên thì phải
nói đến những điểm còn hạn chế như: Luật ban hành cho người lao động thì có,
nhưng khi có việc xảy ra thì quy trình thi hành luật quá lằng nhằng, ban này nghành
nọ cho nên không có tổ chức nào đứng ra bảo hộ cho người lao động cả.
Ví dụ:Trên địa bàn TP.HCM hiện nay đầy rẩy công ty nhận nhân viên vào làm
mà không có bảo hiểm và đồ bảo hộ cho người lao động.
Ngoài luật lao động thì luật bảo vệ môi trường VN không quá khắt khe so với
các nước phát triển,vì thế một số nhà đầu tư không lo ngại về các khoản xử lý chất
thải tại VN
* Địa lý:
Đất đai rẻ, hầu hết là đất ruộng, đồi núi và cát ven biển nên khi đầu tư vào VN
thì sẽ giảm bớt được chi phí đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng hơn so với việc đầu tư
Đông Á. Đây là một lợi thế to lớn để Việt Nam trở thành điểm đến của FDI quốc tế và
điểm sáng của du lịch, dịch vụ, tài chính, tiền tệ quốc tế. Vì vậy, trong 9 tháng đầu
năm 2002, kể cả vốn của các dự án mới cấp phép và vốn tăng thêm của các dự án
đang hoạt động, Việt Nam đã thu hút thêm được trên 127 triệu USD vốn đầu tư nước
ngoài, tính chung 9 tháng đạt 1.475 triệu USD. Theo dự báo mới nhất của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư cả năm 2002 số vốn có thể đạt tới 2 tỷ USD và số vốn này chủ yếu sẽ
tập trung vào các khu công nghiệp không chỉ trên các địa bàn kinh tế trọng điểm.
Đáng chú ý ở một số địa phương như Hải Phòng từ đầu năm 2002 tới nay đã thu hút
thêm 18 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đang ký là 31,03 triệu USD. Thành
phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương dẫn đầu cả nước trong 9 tháng năm 2002 thu hút
gần 239 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài. Tính chung đến nay thành phố Hồ Chí
Minh có 1.203 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư 11.211
triệu USD, trong đó có 772 dự án 100% vốn nước ngoài với tổng số vốn là 3.625 triệu
USD, 383 dự án liên doanh với tổng số vốn 6.177 triệu USD, 48 dự án hợp đồng hợp
tác kinh doanh với số vốn 1.409 triệu USD. Hà Nội thu hút thêm 40 dự án với số vốn
đăng ký 101 triệu USD, nâng tổng số vốn hiện nay lên 3,3 tỷ USD đã thực hiện trên
địa bàn thành phố; Bình Dương từ đầu năm 2002 đến nay thu hút thêm 109 dự án với
tổng số vốn đăng ký 233,4 triệu USD, chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp, chiếm
99,6 số vốn. Như vậy, trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện tại có 580 dự án với số vốn
đăng ký hơn 2,9 tỷ USD. Bắc Ninh, Quảng Ngãi, vùng Đông Nam Bộ, mức gia tăng
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 24
Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút FDI GVHD: Phạm Thị Hoàn Mỹ
đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp đang trở thành một xu hướng khá phổ
biến.
Hiện nay, những cuộc xung đột chết người ở đường phố đã khiến nhiều phần ở
Thủ đô của Thái lan trở thành vùng chiến tranh đô thị, đe dọa các nhà đầu tư nước
ngoài và khiến một quốc gia từng nằm trong số nước tăng trưởng nhanh nhất có nguy
cơ tụt hậu, điều đó 1 phần nào cũng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến với VN.
Sự ổn định về chính trị là 1 ưu điểm lớn nhất của VN trong mối tương quan so
sánh với các nước láng giềng như: Thái Lan, Indonexia. Ngoài ra, Nhà nước VN có
đã đi vào hoạt động nhưng vẫn còn thiếu hàng hóa để mua bán và chưa được kiểm
soát chặt chẽ…
Nhóm SV thực hiện: Win Group Trang 25