Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội - Chương 2 doc - Pdf 17

Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…

Chương 2 Đánh giá
của các nhà đầu tư nước ngoài
về môi trường kinh doanh Hà Nội
Phạm Thị Huyền
10

Diễn đàn Phát triển Việt Nam và
Trường Đại học Kinh tế Quốc dânMỞ ĐẦU
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment - FDI) đã và đang
được xem xét là một trong những nguồn lực quan trọng đem đến một làn gió
mới, một động lực mới thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, đặc biệt tại các
nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, dòng vốn này không tự nhiên mà
có, nó phụ thuộc vào sức hấp dẫn của địa phương, thể hiện qua các yếu tố tự
nhiên như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khoáng sản cùng với cơ chế, chính
sách, con người và các vấn đề xã hội khác của địa phương đó. “Làm thế nào để
thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài” đã và đang được đặt ra như một
vấn đề lớn với không chỉ các bộ ngành mà còn là dấu hỏi lớn cho từng địa
phương ở Việt Nam. Hà Nội, với vị thế là Thủ đô - trung tâm văn hóa - kinh tế
và cũng là một trong những điểm nhấn chủ yếu của dòng FDI vào Việt Nam
trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, dòng vốn này vẫn “chưa xứng tầm” của
Hà Nội.
Dưới góc nhìn marketing, chúng tôi cho rằng, mỗi nhà đầu tư/quốc gia và vùng
lãnh thổ sẽ có nguồn lực nhất định và do đó, họ có mục tiêu và định hướng riêng

10
Nghiên cứu được thực hiện vào nửa cuối năm 2005 trong Chương trình Hỗ trợ Hà Nội

Marketing là một khái niệm, một triết lý được chia sẻ bởi các doanh nhân, các
nhà nghiên cứu và các chính khách trên hầu khắp các quốc gia có nền kinh tế
phát triển. Nguyên lý cơ bản nhất của marketing chính là hiểu biết nhu cầu và
ước muốn của khách hàng và sử dụng phương pháp hiệu quả nhất để đáp ứng
chúng. Đóng góp của marketing với các tổ chức/doanh nghiệp chính là khả năng
đề xuất phương pháp sử dụng một cách hiệu quả nhất những nguồn lực hữu hạn
để thực hiện những mục tiêu chung đã xác định. Marketing hướng tới việc tạo ra
các giải pháp giúp khách hàng giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải. Trong
24
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…
marketing, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau qua giá trị lợi ích, qua giải
pháp chứ không phải qua sản phẩm cụ thể. Ngày nay, nguyên lý này đã trở thành
triết lý trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị hay xã hội.
Marketing đã thể hiện được vai trò của mình trong việc giúp cho các địa phương
thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đặc biệt là vốn FDI nhằm phát triển kinh tế địa
phương.
Marketing địa phương là tập hợp các chương trình hoạt động được địa phương
thực hiện nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế
11
. Các chương
trình hoạt động đó bao gồm (i) Hoàn thiện toàn diện cách thức, thủ tục cũng như
nhận thức về vai trò và chức năng của các cơ quan chính quyền, (ii) Sử dụng một
cách có hiệu quả các công cụ khuyến khích tài chính, (iii) Tái cấu trúc tổ chức
theo cách có thể kiểm soát tốt hơn, qua đó xây dựng cho địa phương một hình
ảnh mới triển vọng hơn, hấp dẫn hơn. Những chương trình marketing nhằm tạo
cho địa phương những đặc tính khác biệt “nhân tạo” chứ không phải những yếu
tố tự nhiên như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên. Các chương trình marketing
hiệu quả sẽ giúp địa phương trở nên hấp dẫn hơn trong đánh giá của các nhóm
khách hàng mục tiêu nhà đầu tư, của các chính khách đủ tâm và tài, các du
khách có khả năng chi trả và những công dân được đào tạo chuyên môn. Nói

Chủ thể thực hiện marketing địa phương chính là những tác nhân tham gia vào
hoạt động marketing, bao gồm tất cả các tổ chức và cá nhân sống và làm việc tại
địa phương. Chính quyền địa phương sẽ là người khởi xướng, chịu trách nhiệm
quy hoạch và phát triển địa phương. Hệ thống quản lý công, các chính sách và
định hướng phát triển của chủ thể ảnh hưởng lớn tới nhận thức của khách hàng
về địa phương. Các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân chịu trách
nhiệm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đảm bảo thỏa mãn nhu cầu xã hội nói
chung và khách hàng mục tiêu nói riêng. Thái độ phục vụ, chất lượng dịch vụ
ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Cách sống,
làm việc và xử sự của cư dân địa phương ảnh hưởng không nhỏ tới hình ảnh của
địa phương. Đội ngũ ăn xin, trộm cắp vặt, nạn bán hàng rong hay thậm chí hành
vi xả rác bừa bãi cũng làm cho địa phương mất đi sức hấp dẫn với khách hàng.
Khách hàng của marketing địa phương chính là những đối tượng mà địa phương
muốn hướng tới. Có bốn loại khách hàng mà một địa phương có thể hướng tới:
(i) Du khách - những người đến với địa phương với mục tiêu tham quan, nghỉ
ngơi, khảo sát hoặc thăm thân, (ii) Người lao động và thân nhân của họ
12
-
những người góp phần tạo ra của cải vật chất và tạo nên phong cách của một địa
phương, (iii) Nhà đầu tư
13
- những người chủ trương tạo ra của cải vật chất tại
địa phương bằng việc sử dụng và kết hợp có hiệu quả nguồn lực, trí tuệ và công
nghệ của họ mang tới với nguồn lực của địa phương, và (iv) Thị trường xuất

12
Không thể chỉ thu hút người lao động bởi thuộc tính gia đình và xã hội của con người
13
Nhà đầu tư sẽ đi cùng với những người ủng hộ họ, gia đình và đối tác
26

27
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội

luôn có cơ hội thành công cao hơn, cho dù nguồn lực tự nhiên vốn có không quá
nhiều
14
.
Marketing địa phương trong việc thu hút FDI
Vốn đầu tư từ bên ngoài luôn là một trong những nguồn lực quan trọng và cần
thiết để phát triển các điều kiện kinh tế địa phương. Chúng ta có thể chỉ ra một số
những ảnh hưởng tích cực của vốn đầu tư từ bên ngoài tới phát triển kinh tế xã
hội một địa phương:
- Là một nguồn lực quan trọng, tăng cường dòng tài chính thúc đẩy phát
triển kinh tế địa phương: Xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin và
các điều kiện căn bản khác cho phát triển kinh tế;
- Tiếp nhận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản trị: Theo thời gian, những
công nghệ và kỹ năng này được chuyển giao dần cho các nhà quản lý và
dân cư địa phương;
- Tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đảm bảo cuộc sống
cho nhiều người khác có liên quan;
- Giúp cho sản phẩm và nhân lực của địa phương tiếp cận với thị trường
quốc tế tốt hơn với khả năng cạnh tranh cao hơn.
Cũng giống như các chiến lược marketing khác, marketing địa phương nhằm thu
hút FDI là sự kết hợp của 4 công cụ marketing - mix 4Ps cơ bản: Sản phẩm –
Products; Giá cả - Price; Kênh phân phối - Place; và Truyền thông marketing –
Promotion. Tuy nhiên, yếu tố sản phẩm luôn được đặt lên hàng đầu.
Sản phẩm ở đây không được xem xét một cách đơn giản là các chính sách mà nó
cần được hiểu là môi trường đầu tư. Tất cả những gì mà nhà đầu tư nhận được từ
địa phương, cả những yếu tố khách quan (cứng) như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng,
tài nguyên thiên nhiên và những yếu tố chủ quan (mềm) như chính sách, cơ chế,

các báo, tạp chí quốc tế, qua mạng internet, qua văn học, qua khách du lịch, hay
tham gia hội thảo, triển lãm đầu tư là những công việc mà địa phương nên làm để
xúc tiến đầu tư. Bên cạnh đó, hành vi của các tổ chức, doanh nghiệp và cộng
đồng tạo nên hình ảnh của địa phương trong nhận thức của nhà đầu tư; nó cũng
cần được coi là một phương thức truyền thông trong marketing địa phương.
Trước kia, các địa phương thường tìm cách phát huy các nguồn lực tự nhiên
nhằm đạt được mục tiêu định lượng trong thu hút vốn FDI mà thiếu đi sự quan
tâm tới nhu cầu của nhà đầu tư. Ngày nay, với mục tiêu phát triển bền vững, các
29
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội

quyết định marketing của địa phương xuất phát từ nhu cầu của chính nhà đầu

15
nhưng đồng thời, các địa phương cũng quan tâm nhiều hơn tới ảnh hưởng
liên vùng cũng như bảo vệ môi trường.
2. Tình hình dòng vốn FDI vào Việt Nam và Hà Nội
Xu hướng dòng vốn FDI trên thế giới
Theo Báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD, dòng vốn FDI trên toàn thế giới có
dấu hiệu phục hồi trong năm 2004 kể từ sau khi đạt mức 1.400 tỷ USD năm
2000
nhưng giảm liên tục ba năm sau đó. Năm 2003, tổng dòng FDI trên toàn cầu chỉ
đạt 653 tỷ USD. Năm 2004, theo tính toán của UNCTAD, FDI toàn cầu đạt mức
755 tỷ USD so với 633 tỷ USD năm 2003.
Châu Á vẫn là miền đất hấp dẫn nhất thế giới với các nhà đầu tư, hiện đang tiếp
nhận lượng vốn FDI nhiều nhất trong số các nước đang phát triển. Trong đó, các
nước giàu tài nguyên trở nên hấp dẫn và thu hút được nhiều FDI hơn. Trung
Quốc đứng đầu danh sách 10 nước tiếp nhận FDI nhiều nhất thế giới năm 2003,
tiếp đến là Hồng Kông, Singapore, Ấn Độ và Hàn Quốc. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, hội nhập khu vực đã khuyến
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Vốn đăng ký
(t

USD)
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000

Giai đoạn thứ hai từ năm 1997- 2002, số vốn đăng ký mới và bổ sung đã liên tục
sụt giảm. Trong 6 năm này, 2.695 dự án được cấp phép mới, với tổng vốn đăng
ký mới và bổ sung đạt 10.9 tỷ USD, bình quân đạt 1.8 tỷ USD mỗi năm.
Giai đoạn thứ ba tính từ năm 2003 đến nay, số vốn đăng ký mới và bổ sung đã
liên tục tăng lên; trong giai đoạn này đã có 1.920 dự án được cấp phép mới, với
tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 12.6 tỷ USD, bằng 41,3% so với 9 năm đầu
và cao hơn tổng vốn trong 6 năm từ 1997-2002, bình quân hàng năm đạt hơn 4 tỷ
USD, cao nhất trong 3 giai đoạn.
Có thể thấy rằng, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam nói chung hiện nay đang
tăng lên theo thời gian cả về số lượng các dự án lẫn tổng lượng vốn đầu tư. Tính
đến nay, Việt Nam đã thu hút được những dự án mới có quy mô vốn lớn, nhiều
dự án đang hoạt động xin tăng vốn. Trong đó, vốn đầu tư đăng ký tập trung chủ
yếu trong công nghiệp và dịch vụ.
Cho dù tốc độ tăng trưởng không giống nhau nhưng thực tế, lượng vốn đầu tư và
cả số lượng dự án đăng ký đầu tư vào Việt Nam đã và đang tăng lên. Tuy nhiên,
tỷ lệ vốn thực hiện tương đối thấp, chỉ đạt khoảng 49%. Việt Nam đã hấp dẫn
được một số nhà đầu tư quy mô lớn với tổng số vốn đăng ký cao như dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển CDMA của Luxembourg với số vốn đăng ký
lên đến 665 triệu USD. Hơn nữa, rất nhiều dự án xin tăng vốn đầu tư ở Việt
Nam, đặc biệt trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Bảng 1 cho thấy,
Tp.HCM là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 1.834 dự án và lượng vốn
đăng ký lên tới 12,2 tỷ USD, tính đến thời điểm tháng 3/2006.
32
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…
Bảng 1: Một số địa phương có lượng vốn FDI lớn nhất
tính đến 3/2006
Đơn vị tính: Triệu USD

Thành phố Số dự án Tổng vốn
đăng ký

ở mức trên 2 tỷ USD như năm 2005, dù đã có cải thiện so với 2 năm trước. Tiềm
năng FDI vào Việt Nam là trên mức 5 tỷ USD/năm.
Bảng 2: Lượng vốn đầu tư từ một số nhà đầu tư lớn nhất tại
Việt Nam tính đến tháng 8 năm 2005
Đơn vị tính: triệu USD

Quốc tịch Số dự án
Tổng số vốn
đăng ký
Vốn chủ sở
hữu
Vốn thực
hiện
1 Đài Loan 1.422 7.769 3.364 2.830
2 Singapore 403 7.610 2.831 3.620
3 Nhật Bản 600 6.289 2.860 4.670
4 Hàn Quốc 1.064 5.338 2.307 2.590
5 Hồng Kông 360 3.728 1.576 1.986
6 Trung Quốc 357 739 409 183
7 Hoa Kỳ 265 1.456 750 746
8 Úc 115 664 297 342
9 Luxembourg 15 810 726 21
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Hà Nội
Vốn đầu tư nước ngoài vào Hà Nội bắt đầu từ năm 1989 và đạt mức kỷ lục năm
1996, sau đó giảm dần đến năm 2000. Từ sau năm 2000, lượng vốn FDI vào Hà
Nội bắt đầu tăng chậm trở lại. Năm 2005 là năm khởi sắc nhất của Hà Nội trong
thu hút FDI với tổng số dự án đăng ký là 113, lượng vốn đăng ký mới xấp xỉ 1,2
tỷ USD. Số dự án đầu tư nước ngoài tại Hà Nội đến tháng 3/2006 đạt tới 634 với
tổng số vốn đăng ký đạt 9,32 tỷ USD. Năm 2005 là năm Hà Nội dẫn đầu cả nước 0
500
1000
1500
2000
2500
3000
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
Tổng vốn
đăng ký

Tỷ
trọng
Cả nước Hà Nội
Tỷ
trọng
1988-1990 213 12 5,6% 1.793.000 343.258 19,1%
1991-1995 1.330 203 15,2% 16.683.000 3.332.045 20%
1996-2000 1.672 227 13,5% 20.623.000 4.672.000 22,6%
2001-2005 3.522 322 9% 10.629.000 2.964.000 27,8%
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, 2006
Luồng vốn FDI và hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Hà Nội đóng một vai
trò quan trong trong phát triển kinh tế địa phương cũng như có đôi chút tác động
tích cực tới phát triển kinh tế liên vùng
17
. Bảng 5 thể hiện đóng góp của bộ phận
FDI vào phát triển kinh tế địa phương.
Bảng 5: Đóng góp của khối FDI vào phát triển kinh tế Hà Nội
Hạng mục 1990-1995 1996-2000 2001-2005
Đầu tư xã hội 45% 26% 15%
Giải quyết việc làm 23% 15% 10%
Kim ngạch xuất khẩu 28% 46% 21%
Nộp ngân sách 12% 15% 10%
Giá trị sản xuất công nghiệp 30% 41% 34%
Đóng góp GDP 17% 23% 15%
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, 2006

17
Xin tham khảo thêm vấn đề này ở Chương 6 – TS. Lê Hà Thanh
36
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…

Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội

tính minh bạch và trách nhiệm, (iv) chi phí thời gian vào việc thực hiện các quy
định của nhà nước, (v) chi phí không chính thức, (vi) mức độ thực hiện chính
sách của nhà nước ở các địa phương, (vii) ưu đãi với doanh nghiệp nhà nước,
(viii) tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, và (ix) chính sách phát
triển khu vực kinh tế tư nhân. Sở dĩ họ sử dụng những chỉ số đó là họ muốn so
sánh giữa các tỉnh và tập trung vào đánh giá của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
mà thôi. Trong nghiên cứu đó, năm 2004, Hà Nội được xếp hạng khá, đạt thứ 14
trong số 42 tỉnh thành được xếp hạng với điểm số 60.32 trên tổng số 100 điểm.
Như vậy, Hà Nội còn đứng sau 13 tỉnh thành khác của Việt Nam, trong đó có
Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Đồng Nai, Quảng Ninh… Tuy nhiên, Hà Nội
lại đứng trên Tp.HCM, BR-VT, Hải Phòng… Thế nhưng, cho đến năm 2005, chỉ
số năng lực cạnh tranh của Hà Nội giảm sút nghiêm trọng, tụt từ vị trí 14/42
xuống vị trí 40/64 tỉnh thành xếp hạng năm 2005 với 9/10 chỉ số chỉ đạt dưới
mức trung bình thấp. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu tập trung vào các doanh
nghiệp nhỏ và vừa nên nó không thể hiện đánh giá của các nhà đầu tư nước
ngoài.
TS. Vũ Minh Khương (MPDP) trong nghiên cứu nhằm so sánh khả năng cạnh
tranh của 3 tỉnh thành Hà Nội, Tp.HCM và Hải Phòng được thực hiện năm 2004
cũng sử dụng 9 chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của các tỉnh. Với mục
đích cơ bản là nhằm xác định các chính sách và các điều kiện cơ bản dẫn tới sự
tăng trưởng kinh tế nhanh, nghiên cứu này đã nhận được sự hưởng ứng của 544
doanh nghiệp ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Tp.HCM. Nghiên cứu
đó cho thấy, về mặt tổng thể, Hà Nội tuy có sức cạnh tranh cao hơn Hải Phòng
nhưng lại thua xa so với Tp.HCM. Hà Nội được đánh giá cao về chất lượng
nguồn nhân lực, tài chính, các chính sách vĩ mô và cơ sở hạ tầng. Ngược lại, Hà
Nội lại thua kém Tp.HCM về cạnh tranh nội bộ, các ngành công nghiệp phụ trợ,
tính mở, các thể chế và công nghệ. Tuy nhiên, do nghiên cứu này đề cập tới 3
tỉnh và chú trọng tới mọi doanh nghiệp; đó không phải là kết quả đánh giá của

chung và Hà Nội nói riêng phải đối mặt. Đó chính là những lý do làm cho môi
trường kinh doanh ở Hà Nội vẫn chưa thực sự hấp dẫn với các nhà đầu tư
20
.
Môi trường đầu tư Hà Nội trong đánh giá của chính quyền địa phương
Các chính khách của Hà Nội trong khi gặp gỡ trao đổi với báo chí và các nhà đầu
tư luôn khẳng định: “Môi trường kinh doanh Hà Nội đang được xây dựng theo
hướng thông thoáng, hệ thống cơ chế cụ thể, sát thực và dễ hiểu, đáp ứng nhu
cầu của các nhà đầu tư. Có thể nói các nhà đầu tư vào đây có thể "đọc" được Hà

18
Thuế nhập khẩu ô tô là ví dụ điển hình. Sau khi điều chỉnh (có hiệu lực từ 1/5/2006),
bên cạnh thuế nhập khẩu tuyệt đối cố định, các loại xe nhập khẩu vẫn phải chịu mức thuế
tiêu thụ đặc biệt là 60% trong khi các sản phẩm xe sản xuất trong nước chỉ phải chịu thuế
40%.
19
Nhận xét của Thủ tướng Phan Văn Khải trong cuộc gặp với UBND TP năm 2004.
20
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, VCCI và VNCI thực hiện 2005
39
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội

Nội dành gì, làm gì cho mình và mình có thể tồn tại, phát triển hơn ở nơi này”.
Các sở, ngành hiện đang tập trung rút ngắn thời gian cấp giấy phép đầu tư, giảm
sự phiền nhiễu của các cơ quan công quyền. Hà Nội cũng chịu hết các chi phí
xây dựng những công trình "ngoài hàng rào" như điện, nước, đường xá. Bên
cạnh đó, Hà Nội còn hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo lao động chất
lượng cao. Ngoài ra, những ứng xử hàng ngày liên quan đến nhà đầu tư như thuế
hay an ninh trật tự cũng được Hà Nội xem trọng, bởi có như vậy mới tạo được sự
an tâm cho nhà đầu tư khi quyết định làm ăn lâu dài

Theo lý thuyết marketing, để có thể làm marketing địa phương, cần đứng trên
góc nhìn của khách hàng (nhà đầu tư), với vai trò cung cấp sản phẩm (môi
trường đầu tư) của chính quyền địa phương. Phần này và phần tiếp theo sẽ
xem xét nhu cầu và đánh giá của các nhà đầu tư về các hoạt động marketing
của Hà Nội. Thông tin cho phần này có được từ cuộc nghiên cứu của VDF từ
tháng 9 tới tháng 12 năm 2005. VDF đã gửi bảng câu hỏi đến hơn 100 doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội và một số tỉnh thành lân cận.
Việc hướng tới các nhà đầu tư ở các địa phương khác nhằm nghiên cứu lý do
vì sao họ không chọn Hà Nội để đầu tư. Có 68 bảng câu hỏi được trả lời
trong đó có 55 doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội và 13 doanh nghiệp từ các
địa phương khác
22
. Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn sâu cũng được thực
hiện tới 7 doanh nghiệp Hà Nội và 2 doanh nghiệp ở Tp.HCM. Các doanh
nghiệp trong nghiên cứu này tới từ 9 quốc gia khác nhau. Phần này trình bày
cảm nhận của các nhà đầu tư về các công cụ marketing: Sản phẩm, Giá cả,
Kênh phân phối và Truyền thông marketing mà Hà Nội đã thực hiện nhằm
thu hút FDI.
Thông tin về việc lựa chọn địa điểm đầu tư
Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư. Theo
nghiên cứu của VDF, tiềm năng thị trường là yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất,
tiếp theo là gợi ý của đối tác, mức độ hấp dẫn của chính sách FDI và cơ sở hạ
tầng giao thông. Các nhà đầu tư còn quan tâm tới hệ thống ngân hàng và tài
chính, mức độ thực thi luật pháp, nguồn nhân lực và các ngành công nghiệp phụ
trợ. Yếu tố có ít ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu này là gợi ý của Chính phủ
Việt Nam. Rõ ràng, cần tập trung vào những yếu tố mà các nhà đầu tư cho là
quan trọng thay vì cho họ thấy những yếu tố mà chính quyền nghĩ là quan trọng.
Với cách tiếp cận marketing, chính quyền cần hiểu rõ nhà đầu tư muốn gì và

22

Mức độ quan tâm tới môi trường 2 5 3,24 0,77
Gợi ý của chính phủ Việt Nam 1 4 2,66 0,73
Nguồn: Nghiên cứu của VDF, 2005
Chú ý: Tầm quan trọng của các yếu tố được yêu cầu đánh giá tăng dần từ 1 tới 5.
Điểm trung bình càng cao, yếu tố đó càng quan trọng
Lý do chủ yếu để các nhà đầu tư quan tâm tới thị trường Hà Nội chính là tiềm năng
thị trường. Hà Nội với số dân trên 3,5 triệu người và thu nhập bình quân trên 1.500
USD/người/năm là một thị trường đầy tiềm năng, rất hấp dẫn với các nhà đầu tư. Tuy
nhiên, vẫn tồn tại nhiều khó khăn như hết đất cho xây dựng công nghiệp, giá thuê đất
cao hay sự can thiệp sâu của Chính phủ. Như đã trình bày ở trên, các dự án đầu tư
vào Hà Nội chủ yếu tập trung vào dịch vụ và công nghiệp. Trong nghiên cứu của
VDF, 59% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, gần 35% hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ và chỉ có 6% đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó,
2 trong số 4 doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu này đang đầu tư trong lĩnh vực
42
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…
nông nghiệp nhưng lại có xu hướng chuyển sang lĩnh vực khác. Bảng 7 thể hiện sự
chuyển dịch này.
Bảng 7: Ngành nghề kinh doanh hiện tại và dự định về ngành nghề của nhà
đầu tư tại Hà Nội
Ngành dự định sẽ kinh doanh Nông nghiệp Công nghiệpDịch vụ
Tổng
Nông nghiệp
2 2 - 4 (6,1%)
Công nghiệp
- 33 6 39 (59,1%)
Ngành

Isclue đầu tư” là câu trả lời của giám đốc công ty với câu hỏi “Vì sao lại
chọn Việt Nam làm nơi đầu tư?”
Biểu đồ 3: Sản phẩm - môi trường đầu tư Hà Nội
trong đánh giá của các nhà đầu tư
Nguồn: Nghiên cứu của VDF, 2005; Mức độ tích cực tăng dần từ 1 tới 5
Tuy nhiên, cùng với những điểm mạnh đó, Hà Nội còn rất nhiều điểm cần khắc
phục như hệ thống giao thông, tình trạng tham nhũng hay vấn đề thuê nhà xưởng
văn phòng. Các yếu tố này bị đánh giá ở mức rất thấp, được xem như những vấn
đề mà Hà Nội cần quan tâm cải thiện nhằm tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn
hơn với các nhà đầu tư. Các khó khăn khác liên quan đến hệ thống tài chính ngân
hàng
24
, hệ thống giao thông và các yếu tố cứng khác.
Sự thiếu hụt lao động cũng được một số doanh nghiệp nêu ra nhưng chưa thực sự
cấp thiết bởi Hà Nội là trung tâm đào tạo của cả nước. Tuy nhiên, khi nói chuyện
ngoài lề với một số doanh nghiệp, một số họ cho rằng, công nhân nơi đây chưa
thực sự lành nghề và yêu công việc của mình. Một vấn đề ai cũng có thể hiểu đó

24
Xin xem thêm ở Chương 4, TS. Phạm Văn Hùng
44
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…
là tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”. Các nhà đầu tư cho biết, việc tìm kiếm nhân
viên văn phòng không khó nhưng tìm được những kỹ sư và công nhân lành nghề
vẫn còn là điều khó khăn. Ngoài ra, đội ngũ công nhân thường làm việc thiếu kỷ
luật như những nông dân “thích làm thì làm, thích nghỉ là nghỉ”. Tuy nhiên, họ
cũng đánh giá cao phong cách làm việc của công nhân Hà Nội hơn hẳn các địa

riêng cần phải nhanh chóng khắc phục bởi nó làm xấu hình ảnh Việt Nam trên
trường quốc tế. Tham nhũng đã và đang là yếu tố làm giảm sức cạnh tranh của
nền kinh tế nói chung. Đó cũng chính là lý do cơ bản của việc Việt Nam bị tụt
hạng trong Báo cáo thường niên về Chỉ số tự do kinh tế của Tạp chí Wall Street
Journal, với vị trí 142 trong tổng số 157 quốc gia được xếp hạng năm 2006, tụt 6
hạng so với năm 2005. Các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nói
chung và Việt Nam nói riêng đều cho rằng, họ khó có thể kiểm soát được chi phí
bởi những hành xử của công chức cũng như công an nơi đây.
Tận dụng được lao động giá rẻ chính là một trong những lý do mà các nhà đầu tư
tới với Việt Nam nhưng đó lại không phải là điểm mạnh của Hà Nội. Tuy nhiên,
chi phí lao động ở Hà Nội là mức chi mà các nhà đầu tư có thể chấp nhận được.
Chi phí liên quan tới đất đai của các doanh nghiệp sản xuất cũng là một vấn đề
lớn. Các chi phí liên quan tới giải phóng mặt bằng, tới việc giá đất thay đổi
không thể lường trước được đã làm nhiều nhà đầu tư nản lòng.
46
Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư…
Kênh phân phối
Có thể nói, rất nhiều nhà đầu tư đã không nhận được những gì mà Hà Nội hứa
hẹn cung cấp cho họ. Cho dù Hà Nội có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ
hay hướng dẫn họ trong hoạt động kinh doanh nhưng do kênh phân phối hoạt
động kém hiệu quả, thiếu hợp tác giữa các cơ quan chức năng nên những nỗ lực
trong hấp dẫn hóa môi trường đầu tư của lãnh đạo Hà Nội đã bị công chức làm
cho vô hiệu hóa. Có tới 87% số người được hỏi cho rằng, họ luôn bị các công
chức tại các công sở ở Việt Nam “hành” về thủ tục, giấy tờ. Đây là vấn đề mang
tính hệ thống ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.
Trong môi trường kinh doanh toàn cầu, nhưng những thông tin lẽ ra nhà đầu tư
phải được thông báo thì hầu như họ phải mua hoặc tìm cách có được từ một
nguồn xa lạ chứ không thể có được một cách chính thống. Chính vì vậy, những
chính sách của nhà nước đối với các nhà đầu tư đôi khi họ không thể tiếp cận
hoặc tiếp cận không hoàn toàn. Đó chính là kết quả của một cơ chế quản lý nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status