Các cao trào cách mạng o VN trong thế kỉ XX - Pdf 17

Chơng trình khai thác thuộc địa của Pháp lần hai có những điểm mới là:
Hoàn cảnh mới:
- Pháp ra khỏi chiến tranh với t cách là nớc thắng trận nhng bị tàn phá nặng
nề:
+hàng loạt các nhà máy đờng xá, cầu cống, nhà ở, làng mạc trên khắp cả nớc
bị phá huỷ.
+nhiều ngành sản xuất công nghiệp bị đình trệ,hoạt động thơng mại bị sa sút
nghiêm trọng.
- chiến tranh cũng tiêu huỷ hàng triệu phrăng Pháp đầu t ở bên ngoài.
- chiến thắng của cách mạng tháng 10 nga đã làm thị trờng đầu t lớn nhất
của Pháp ở châu âu không còn tồn tại.
- nạn lạm phát, leo thang giá cả và đời sống khó khăn đã làm trỗi dậy phong
trào đấu tranh của các tầng lớp lao động.
- Pháp trở thành con nợ lớn trớc hết là của mỹ.
->thực dân Pháp bắt tay ngay vào cuộc khai thác thuộc đị để bù đắp những
thiệt hại do chiến tranh gây ra.
Nội dung khai thác mới:
- quy mô khai thác lớn gấp nhiều lần so với cuộc khai thác lần 1, tăng vốn
đầu t lê 4 tỉ phrăng.
- đẩy rmạnh hơn nữa việc cớp đoạt rợng đất của nhân dân để lập đồng điền,
coi đây là lĩnh vực trọng tâm của việc khai thác.
- đẩy mạnh khai thác mỏ, đặc biệt là mỏ than.
- đẩy mạnh phát teiển thơng nghiệp bằng cách độc chiếm thị trờng Việt
Nam , đánh thuế nặn vào hàng hoá nhập khẩu của Trung Quốc và Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới I, phong trào dân tộc ở nớc ta diễn ra mạnh mẽ,
trong đó, các giai cấp tầng lớp đều đa ra những đòi hỏi của mình đối với chính
quyền thực dân . trớc khí thế của phong trào, thực dân Pháp đã tự lột mặt nạ,
dùng vũ lực để đàn áp phong trào tay không của nhân dân ta. Cuộc đàn áp,
khủng bố của chúng về mặt khách quan đã đẩy một bộ phận lớn liên kết với nhau
trong các tổ chức cách mạng. dần dần, ba tổ chức cách mạng hình thành mà hội
Việt Nam cách mạng thanh niên là tiêu biểu nhất.

nhân dân ta con đờng và cách thức đi đến thắng lợi. Đờng Kách Mệnh chỉ rõ
cách mạng Việt Nam trớc hết phải làmdân tộc cách mạng- đánh đuổi đế quốc,
giành độc lập dân tộc sau đó mới làm giai cấp cách mạng lật đổ phong kiến, t
sản giành tự do dân chủ. Liên minh công nông là then chốt còn học trò, tiều điền
chủ, tiểu thơng là bạn của cách mạng. và Đờng Kách Mệnhkhẳng định nhân tố
quyết định thắng lợi của đảng chính là sự lãnh đạo của một đảng cách mạng.
từ cuối năm 192, sau khi kết thúc lớp huấn luyện chính trị đầu tiên, Nguyễn ái
Quốc đã chọn ra sáu học viên đa về ba trung tâm lớn của Việt Nam là Hà Nội,
Huế và Sài Gòn để tuyên truyền và xây dựng cơ sở cho hội. Hoạt động tích cực
củ những chiến sĩ tiên phong này, các chi bộ đầu tiên của hội đợc thành lập. Trên
cơ sở đó, xuất hiện các cấp tổ chức cao hơn là kì bộ, tỉnh bộ và cuối cùng là
huyện bộ. Cùng với việc xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức của hội ở trong
nớc, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên còn chú trọng xây dựng các chi bộ
trong Việt kiều ở Xiêm.
thời kì đầu xây dựng tôe chức, các hội viên thờng sử dụng các mối quan hệ bạn
bè, ngời thân,thầy trò trong việc thành lập vác chi bộ nên thành phần trí thức tiểu
t sản chiếm tỉ lệ cao. Từ cuối năm 1928, hội đã định hớng mới trong hoạt động
của mình bằng chủ trơng phát động phong trào vô sản hoá-đa những ngời cộng
sản vào các đồn điền, hầm mỏ để sống và làm việc của công nhân nhằm biến
những cán bộ cách mạng thành những ngời vô sản-đại biểu trung thành của công
nhân và truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin trong quần chúng. nhờ vậy mà chủ
nghĩa Mac-lenin đợc truyền bá vào Việt Nam ngày càng sau rộng thêm, giữa lúc
phong trào công nhân phát triển mạnh nhng thiếu đờng lối nên đợc tiếp thu ngay
làm cho phong trào cách mạng phát triển mạnh hơn, đặc biệt là phong trào công
nhân chuyển dần từ tự phát sang tự giác.
những hoạt động trên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã góp phần
quan trọng trong việc kết hợp chủ nghĩa Mac-lenin với phong trào công nhân,
thúc đẩy nhanh quá trình thành lập đảng. đó là truyền bá lí luận cách mạng vào
Việt Nam theo con đờng cách mạng vô sản. đó là giác ngộ giai cấp công nhân,
thúc đẩy phong trào công nhân phát triển sang giai đoạn tự giác . và quan trọng

an đấu tranh. Hoà nhịp với phong trào công nhân, nông dân các huyện cao
lãnh, chợ mới và các tỉnh gia đinh, vĩnh long, cần thơ,bến tre, thủ dầu một
biểu tình đòi giảm thuế.
ở trung kì, nhân dân các tỉnh thanh hoá, nghệ an, hà tĩnh, quảng bình, quảng
trị, quảng ngãi nổi dậy.
ở bắc kì, khu mỏ hồng gai trở thành nơi đấu tranh gay gắt giữa chủ và công
nhân. nông dân các tỉnh thái bình, hà nam, kiến an nổi dậy.
đây là lần đầu tiên, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam công
khai kỉ niệm ngày quốc tế lao động, thể hiện tình đoàn kết quốc tế.
Cao trào cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam phát động kéo dài hơn một
năm và diễn ra trên 25 tỉnh thành khắp cả nớc, đạt đến đỉnh điểm tại mảnh đất
nghệ-tĩnh. Tại đây, phong trào đấu tranh bùng nổ và sáng ngày 1-5-1930 với sự
tham gia của công nhân khu công nghiệp Vinh Bến Thuỷ và nông dân các huyện
lân cận đòi tăng lơng, giảm giờ làm, bỏ su, giảm thuế, chống khủng bố, ủng hộ
cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy dệt Nam Định, ủng hộ Liên Xô. bọn thực
dân đã thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình này. binh lính và cảnh sát đợc điều tới sả
súng vào đoàn ngời biểu tình làm 7 ngời chết, 18 ngời bị thơng và bắt đi 98 ngời.
Nh thêm dầu vào lửa, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân càng quyết liệt,
mạnh mẽ hơn.
có thể nói, ngày 1-5-1930 là một mốc son trong cao trào cách mạng 1930-1931,
vai trò lãnh đạo của đảng và sức mạnh to lớn của liện minh công nhân nông
dân đợc biểu hiện rõ ràng qua các cuộc chiến đâu vang dội đó.
Từ sau ngày 1-5 đến tháng 8-1930, công nhân khu công nghiệp Vinh Bến Thuỷ
tiếp tục đấu tranh hết sức sôi nổi. Ngày 27-6, đợc sự phối hợp tổ chức của các
công hội đỏ, một cuộc biểu tình lớn đợc tổ chức với sự tham gia của hầi hết công
nhân các nhà máy thuộc khu công nghiệp Vinh Bến Thuỷ. Ngày 22-8, cuộc tuần
hành thị uy của công nhân nhà máy xe lửa trờng thi, nhà máy diêm đã kéo theo
các cuọc đình công hởng ứng của công nhân nhiều nhà máy khác.
đến tháng 9-1930,phong trào lên đến đỉnh điểm. Ngày 1-9-1930, hơn 20000
nông dân thanh chơng nổi dậy đấu tranh đòi giảm thuế, thả tù chính trị. Binh lính

đất công cho nông dân, xoá bỏ các thứ thuế vô lí, tực hiện giảm tô, xoá nợ.
Về chính trị, chính quyền mới đã ban bố các quyền tự do dân chủ, quyền tự do
hội họp và sinh hoạt cho các tổ chức đoàn thể nh công hội, nông hội
Xô viết nghệ tính đã trở thành ngọn cờ vẫy gọi và nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho
phong trào cách mạng cả nớc. chỉ trong hai tháng 9 và 10-1930 đã có trên 100
các cuộc nổi dậy của nhân dân. Không còn các khẩu hiệu đấu tranh kinh tế
thông thờng mà nay đã xuất hiện nhiều khẩu hiệu chính trị ủng hộ xô viết nghệ
tĩnh. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nông dân các huyện bình lục(hàn nam), mộ
đức,sơn tịnh(quảng ngãi) và công nhân hãng dầu standa, texaco
Sang năm 1931, thực dân Pháp và tay sai thực hiện nhiều cuộc khủng bố dã man
phong trào cách mạng. nhiều đồn bốt đợc dựng lên,quân đợc điều động tới, lệnh
thiết quân đợc ban bố. đồng thời, chúng sử dụng nhiều thủ đoạ thâm hiểm nh tổ
chức rớc cờ vàng, nhận thẻ quy thuận, truy bắt ngững ngời yêu nớc, tham gia
cách mạng và những ngời cộng sản. mặc dù nhân dân chiến đấu quyết liệt, cảnh
giác trớc mọi âm mu, thủ đoạn của chúng nhng do lực lơng không cân xứng,
phong trào xô viết nghệ tĩnh dần đi xuống.
chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhng xô viết nghệ tĩnh đã thể hiện đợc tính u
việt và bản chất cách mạng của nó.nó là chính quyền của dân, do dân, vì dân,đợc
coi là hình thức sơ khai của chính quyền công-nông nớc ta.
Cao trào 1030-1931 thất bại nhng nó có ý nghĩa to lớn. đó là kết tinh sức mạnh
của liên minh công-nông mà giai cấp công nhân là lãnh đạo. nó chứng tỏ khả
năng cách mạng của nhân dân ta và sự lãnh đạo sáng suốt của đảng. qua cao
trào, cả đảng và quần chúng đều đợc rèn luyện để đảng tích luỹ kinh nghiệm
lãnh đạo, dân trởng thành hơn trong đấu tranh. Một lần nữa, cao trào này đã phát
huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc là yêu nớc nồng nàn,kiên cờng
tranh đấu và hy sinh bản thân cho lợi ích dân tộc. Không chỉ thế, nó còn khiến
cho nhân dân và phong trào cách mạng thế giới biết tới Việt Nam-một dân tộc dù
nhỏ bé nhng anh hùng.

4

lấy tên là mặt trận dân chủ Đông Dơng. mặt trận này nhằm đấu tranh đòi các
quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, bảo vệ Liên Xô và hoà bình thế giới.
đảng phát động quần chúng đấu tranh dới nhiều hình thức, đấu tranh chính trị,
hoà bình, công khai, hợp Pháp kết hợp bán công khai, bán hợp Pháp, cả bí mật
để khi cần thì rút và bí mật bảo toàn lợc lợng của ta.
Cao trào mở đầu bằng cuộc đấu tranh sôi nổi của nhân dân trong phong trào đại
hội Đông Dơng. giữa năm 1936, chính phủ của mặt trận nhân dân Pháp cử một
phái đoàn đến điều tra tình hình Đông Dơng để đề ra biện Pháp thích hợp.
Không bỏ lỡ cơ hội đó, đảng ta đã vận động quần chúng gửi các đơn, th kiến
nghị lên phái đoàn cùng chữ kí của nhiều ngời. Các đơn, th kiến nghị này có nội
dung tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp ở Đông Dơng, đòi các quyền tự do, dân
sinh, dân chủ, đòi thả các chính trị phạm
chỉ trong một thời gian ngắn, các uỷ ban hành động đợc thành lập ở khắp nơi,
hàng vạn lá đơn, th kiến nghị cùng hàng triệu chữ kí của quần chúng từ thành thị
đến nông thôn đợc tập hợp về các uỷ ban này và đa lên phái đoàn. bọn thực dân
Pháp tìm mọi cách để bng bít d luận và không cho chúng ta tiếp xúc với phái
đoàn nhng chúng đã thất bại.
phong trào đã khơi dậy tinh thần đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của quần chúng
khắp thành thị và nông thôn, buộc thực dân Pháp phải nhợng bộ một số quyền lợi
nh thả tự do cho 3000 chính trị phạm, quy định tiền lơng tối thiểu mà công nhân
phải đợc hởng, ban bố nghị định cải thiện điều kiện lao động.
Cùng với phong trào đại hội Đông Dơng, tại các thành thị lớn nh hà Nội, hải
phòng, Nam Định, Vinh, huế, đã nẵng,hồ chí minh đã diễn ra các cuộc mít tinh,
biểu tình công khai của quần chúng đòi dân sinh, dân chủ. ở nông thôn, nông
dân đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp phải giảm su thuế, đòi bọn địa chủ phải
giảm tô tức. Phong trào đã tập hợp đợc đông đảo quần chúng.
5
đến giữa năm 1936, mặt trận thống nhất nhân dân phẩn đế Đông Dơng đợc
thành lập. Mặt trận có thành phần rất rộng rãi, bao gồm tất cả các giai cấp, tầng
lớp, bộ phận yêu nớc, dân chủ trong xã hội, kể cả địa chủ yêu nớc, quan lại tiến

khổng lồ với sự tham gia của 2,5 vạn ngời để kỉ nệm ngày quốc tế lao động.
Đến năm 1939, chiến tranh thế giới II sắp bùng nổ, bọn phản động Pháp ở Đông
Dơng ngày càng đông, chúng thẳng tay đàn áp phong trào. phong trào tạm lắng
xuống.
Phong trào cách mạng 1936-1939 đã chứng minh thêm khả năng cách mạng to
lớn của quần chúng khi đợc đảng phát động và khối đoàn kết toàn dân. nó đợc
coi là cuộc diễn tập lần thứ hai để chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 thắng lợi.
đảng sau khi đợc phục hồi lại đợc tập dợt lãnh đạo. qua đó, đảng đã trởng thành
thêm về t tởng, tổ chức, chỉ đạo sách lợc đấu tranh làm cho uy tín của đảng ngày
càng nâng cao hơn trong quần chúng. Quần chúng một lần nữa đợc tập dợt đấu
tranh dới sự lãnh đạo của đảng. qua dấu tranh, quần chúng càng hiểu rõ hơn bản
chất của kẻ thù, về chủ nghĩa Mác-Lênin, về đờng lối, chính sách của đảng. từ đó
càng thêm lòng yêu nớc và t tởng giác ngộ cách mạng. qua đấu tranh, quần
chúng đã vung ra những nghị lực phi thờng, hình thành một đội quân chính trị to
lớn cho cách mạng. họ đợc rèn luyện thêm qua những hình thức đấu tranh mà
chủ yếu là đấu tranh chính trị công khai, đợc tập hợp trong nhiều tổ chức cách
mạng, tiêu biểu nhất là mặt trận dân chủ Đông Dơng.
Phong trào 1936-1939 đã đào tạo đợc thêm nhiều cán bộ mới cùng 3000 chiến sĩ
mới ra tù lại trở về hàng ngũ cách mạng. phong trào đã để lại cho cách mạng
nhiều bài học kinh ngyhiệm quý: cách vận động quần chúng, kết hợp các hình
thức đấu tranh, các mục tiêu trớc mắt với lâu dài,
chính vì thế, khi viết về cách mạng tháng 8, đồng chí lê duẩn đã viết: thành
công của cách mạng tháng 8-1945 không chỉ là kết quả trực tiếpa của cao trào
6
phản đế Đông Dơng 1939-1945 mà còn là kết quả của 2 cuộc diễn tập lần trớc
cộng lai: 1930-1931 và 1936-1939.

Hoàn cảnh lịch sử.
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới II bùng nổ, Pháp tham gia chiến tranh, phát
xít đức tấn công nớc Pháp, Pháp đầu hàng và chính phủ tay sai pêtanh lên cầm

Tình hình ấy làm cho mâu thuẫn dân tộc vốn đã gay gắt lại càng thêm gay gắt. vì
vậy, lúc này, quyền lợi của các giai cấp đành tạm gác lại,đặt dới sự sinh, tử, tồn,
vong của dân tộc bởi nếu quyền lợi dân tộc mà không đòi hỏi đợc thì quyền lợi
của tất cả các giai cấp nghìn năm cũng không có đợc.
Trên thế giới, chiến tranh thế giới II diễn ra ngày càng ác liệt, phát xít đức chiếm
đợc phần lớn lãnh thổ của các nớc châu âu, chúng chuẩn bị tấn công Liên Xô.
Nhật đang mở rộng chiến tranh thái bình dơng. rồi phát xít đức đánh chiếm Liên
Xô. việc Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh giữ nớc vĩ đại và tham gia cuộc
chiến tranh chống phát xítlàm cho tính chất của chiến tranh thế giới II thay đổi.
Từ một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thành một cuộc chiến tranh giữa một
bên là bọn phát xít phản động với một bên là lực lợng hoà bình, dân chủ mà Liên
Xô- một lực lợng to lớn, nòng cốt. Bọn phát xít nhất định sẽ thất bại. lúc này là
cơ hội cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên tự giải phóng mình.
Chủ trơng của đảng.
Trớc hoàn cảnh lịch sử mới, đảng đã đề ra chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến
lợc đợc bắt đầu từ hội nghị trung ơng lần 6 (11-1939), đợc bổ xung tại hội nghị
trung ơng lần 7 (11-1940) và hoàn chỉnh tại hội nghị trung ơng lần 8 (5-1941).
7
Ngày 6-11-1939, hai tháng sau khi chiến tranh thế giới II bùng nổ, hội nghị trung
ơng đảng lần thứ 6 đã họp tại Bà Điểm (Hóc Môn-Gia Định), dới sự chủ trì của
tổng bí th Nguyễn Văn Cừ. Hội nghị phân tích tính chất của chiến tranh thế giới
II, vị trí của Đông Dơng trong cuộc chiến tranh này, chính sách của thực dân
Pháp và thái độ chính trị của các giai cấp xã hội. Từ sự phân tích đó, hội nghị
xác định mục tiêu trớc mắt của cách mạng Đông Dơng là đánh đổ đế quốc và tay
sai, giải phóng các dân tộc Đông Dơng, làm cho Đông Dơng hoàn toàn độc lập.
Trong điều kiện lịch sử mới, vấn đề giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ hàng
đầu và cấp bách nhất của cách mạng Đông Dơng. khẩu hiệu ruộng đất dân cày
đợc tạm gác mà thay vào đó là khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của Việt gian phản
động chia cho dân nghèo để phân hoá giai cấp địa chủ, lôi kéo địa chủ yêu nớc
đi theo cách mạng. hội nghị chủ trơng thành lập mặt trận thống nhất dân tộc

Hội nghị còn chủ trơng sẽ khởi nghĩa vũ trang để đập tan xiềng xích thống trị
của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Vì vậy, việc chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang
là nhiệm vị trung tâm của toàn đảng, toàn dân; khởi nghĩa vũ trang phải nổ ra
đúng thời cơ và đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Sau thắng lợi
sẽ lập nên nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm
quốc kì.
Hội nghị trung ơng lần 8 có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó đã hoàn chỉnh sự
chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc và sách lợc cách mạng đã đề ra tại hội nghị trung
ơng lần 6, có tác dụng quyết định trong viêc động viên quần chúng tích cực
chuẩn bị để tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.
Quá trình xâm lợc Đông Dơng của quân phiệt Nhật.
Sau khi chiến tranh thế giới II nổ ra, nớc pháp bị phát xít đức chiếm đóng, quân
nhật kéo vào xâm lớc Đông Dơng.
Đông Dơng là một địa bàn rất quan trọng về chiến lợc quân sự. Từ đây có thể đi
thông tới các châu lục, đại dơng. Đông Dơng có nguồn tài nguyên phong phú,
8
khoáng sản dồi dào, nguồn nhân lực lớn. Vì thế, các đế quốc phơng tây luôn tìm
cách xâm chiếm. Nhật đã nhòm ngó Đông Dơng từ lâu nhng cha có điều kiện
thực hiện. năm 1937, nhật bắt đầu xâm lợc Trung Quốc; đến cuối 1940, chiếm đ-
ợc phần lớn lãnh thổ Trung Quốc. Lợi dụng sự suy yếu của pháp,, nhật đa quân
vào Đông Dơng, ép buộc pháp kí một hiệp ớc bất bình đẳng mở cửa Đông Dơng
cho Nhật, làm hậu phơng lớn cho chiến trờng Châu á-thái bình dơng.
Ngày 22-9-1940, Nhật buộc Pháp kí một hiệp ớc cho mợn con đờng xe lửa từ
Lạng Sơn qua Hà Nội xuống Hải Phòng để chuyên chở lơng thực, thuốc men, vũ
khí, đạn dợc, phơng tiện chiến tranh và quân đội ra thái bình dơng; cho Nhật sử
dụng ba sân bay lớn ở Bắc kì (Phủ Lạng Thơng, Gia Lâm,Cát Bi); cho Nhật đợc
đóng 6000 quân ở phía bắc sông Hồng.
Tháng 7-1941, Nhật buộc Pháp kí hiệp ớc phòng thủ chung Đông Dơng, trên
thực tế, Nhật đã chỉ huy Pháp về mặt quân sự.
Tháng 11-1941, Nhật buộc Pháp kí hiệp định cam kết hợp tác với Nhật về toàn

chỉ ra cho nhân dân biết rõ. Nhờ vậy, chỉ một thời gian ngắn sau, bộ mặt giả
nhân, giả nghĩa của Nhật và bộ mặt tay sai bỉ ổi đã bị bóc trần, nhân dân ta càng
chán ghét, càng quyết tâm đứng lên kháng Nhật cứu nớc.
Những cuộc đấu tranh vũ trang mở đầu thời kì mới.
*Khởi nghĩa Bắc Sơn.
Từ cuối 1940, quân Nhật đã tiến sát biên giới Việt Nam Trung Quốc. Ngày
22-9-1940, Nhật buộc Pháp phải kí một hiệp ớc mở cửa Đông Dơng cho Nhật.
Nhng chúng không đợi kí hiệp ớc, ngay hôm ấy, quân Nhật đã vợt biên giới Việt
Nam-Trung Quốc tràn vào Lạng Sơn. hải quân Nhật đổ bộ ở Đồ Sơn, rồi tiến lên
đánh chiếm Hải Phòng. Quân Pháp ở Lạng Sơn chỉ chống cự rất yếu ớt rồi bỏ
chạy. Không bỏ lỡ thời cơ, nhân dân n[i đây đã vùng lên đánh Pháp. một số tù
binh chính trị của ta ở Bắc Sơn và Lạng Sơn thoát khỏi nhà tùcủa địch đã lãnh
đạo quần chúng nổi dậy tiến hành cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn.
9
Đến ngày 27-9-1940, quần chúng cách mạng đã chiếm đợc đồn binh giặc ở Mỏ
Nhài, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, thành lập đội du kích Bắc sơn.
Kết quả là chính quyền của địch lung lay, Tri châu chạy trốn, cả Pháp và nhật
đều hoảng sợ trớc khởi nghĩa nên chungts hoà hoãn với nhau để đàn áp cách
mạng, trả thù dã man, dìm cuộc khởi nghĩa trong bể máu.
Nhng, chỉ hai tháng sau, cuộc khởi nghĩa nam kì đã nổ ra. Từ sau nghị quyết của
hội nghị lần 6(11-1939), phong trào cách mạng ở Nam kì phát triển mạnh, hầu
hết các tỉnh ở Nam kì đã xây dựng đợc mặt trận thống nhất phản đế Đông D-
ơng. Phong trào còn lan tới cả binh lính ngời Việt Nam trong quân đội Pháp. vì
thế, xứ uỷ nam kì chủ trơng tiến hành khởi nghĩa. Tháng 7-1940, kế hoạch chính
thức của cuộc khởi nghĩa đã đợc thông qua nhng tới tháng 11-1940, tại hội nghị
lần 7 của đảng đã quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa do thời cơ cha chín mùi và
các điều kiện để khởi nghĩa cha đầy đủ, để tránh sự tổn thất cho cách mạng nh
khởi nghĩa Bắc Sơn.
Cùng thời gian đó, Nhật xúi giục Thái Lan khiêu khích Pháp ở biên giới Lào-
Campuchia. để chống lại, Pháp đã bắt lính Việt Nam ra trận chết thay cho chúng.

trận Việt Minh ra hịch kêu gọi kháng Nhật cứu nớc.
Từ giữa tháng 3-1945, cách mạng chuyển thành cao trào, khởi nghĩa từng phần
nổ ra.
Tại căn cứ địa cách mạng, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu
quốc quân đã phối hợp với đội quân chính trị cách mạng giải phóng hàng loạt xã,
châu, huyện.
Ngày 11-3-1945, tù chính trị Ba Tơ nổi dậy chiếm đồn binh giặc, thành lập chính
quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ. tù chính trị ở các Nhà lao Nghĩa
Lộ, Sơn La, Buôn Mê Thuột đấu tranh đòi tự do, phá nhà lao vợt ngục.
Khẩu hiệu phá kho thóc, giải quyết nạn đói của đảng làm dấy lên phong trào
chiếm kho thóc của Nhật để chia cho ngời dân. Nhiều cuộc đánh chiếm kho thóc
10
đã trở thành biểu tình có vũ trang ủng hộ Việt Minh, trừng trị bọn ác ôn, chống
đàn áp khủng bố.
Tháng 4-1945, hội nghị quân sự Bắc kì đợc triệu tập, đã hợp nhất các lực lợng vũ
trang thành đội Việt Nam giải phóng quân, phát triển hơn nữa lực lợng vũ
trang và nửa vũ trang, mở thêm trờng, đào tạo cán bộ chính trị, quân sự, xây
dựng căn cứ kháng Nhật, gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa. Uỷ ban quân sự Bắc kì đợc
thành lập có nhiệm vụ chỉ huy các chiến khu ở miền Bắc và giúp đỡ toàn quốc về
mặt quân sự.
Tháng 6-1945, khu giải phóng Việt Bắc đợc thành lập gồm 6 tỉnh Cao-Bắc-Lạng-
Hà-Tuyên-Thái và một số tỉnh lân cận. Tân Trào đợc chọn làm thủ đô khu giải
phóng, uỷ ban lâm thời khu giải phóng thi hành 10 chính sách của Việt Minh.
Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cả nớc, là hình ảnh thu nhỏ của n-
ớc Việt Nam mới.
Hội nghị toàn quốc và đại hội quốc dân.
Cao trào kháng Nhật cứu nớc phát triển mạnh mẽ tạo nên không khí cách mạng
sục sôi, lực lợng cách mạng đã đợc chuẩn bị đầy đủ, đảng và quần chúng cách
mạng đã sẵn sàng chiến đấu.
- Tháng 5-1945, phát xít đức bị tiêu diệt; 14-8-1945, chính phủ Nhật đầu hàng

Nam.
Ngày 19-8, từ mờ sáng, nhân dân ngoại thành đã kéo vào nội thành kết hợp với
nhân dân nội thành đấu tranh. Chỉ trong một ngày hôm đó, khởi nghĩa ở Hà Nội
đã giành thắng lợi. Nó đã cỏ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh trong cả nớc.
Ngày 23-8, khởi nghĩa giành thắng lợi ở Huế. Và đến 25-8 thì khởi nghĩa ở Sài
Gòn cũng giành đợc thắng lơi.
Ngày 28-8, những tỉnh cuối cùng của đất nớc giành đợc chính quyền về tay
mình.
Nh vậy, chỉ trong 15 ngày, cách mạng tháng 8 đã giành đợc thắng lợi vang dôi.
11
ý nghÜa ( c¸c b¹n tù t×m hiÓu trong SGK)
12


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status