HDI - chỉ số phát triển con ngươi - Pdf 17

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
(HUMAN DEVERLOPMENT INDEX - HDI)
I.1. Sự cần thiết phải đánh giá chỉ số phát triển con người
Tài sản thực sự của một quốc gia là con người và mục đích của phát triển
là tạo môi trường cho phép người dân được hưởng thụ một cuộc sống trường
thọ, mạnh khoẻ và sáng tạo. Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải
hướng tới của mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới.
Việc lựa chọn chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con người có ý nghĩa rất quan
trọng, đặc biệt là trong xã hội hiện đại ngày nay. Trước đây, người ta thường
dựa vào các chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người
(GDP/người) hoặc tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người (NGI/người)
để phân chia thành các nhóm nước giàu, nghèo. Nhưng trên thực tế, không
phải cứ nước nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí đều cao và đều chú ý
chăm lo sức khoẻ, phúc lợi xã hội cho con người. Ngược lại, không ít nước tuy
có thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống vật chất còn khó khăn, nhưng
lại quan tâm tới mục tiêu giáo dục, y tế, sức khoẻ cho mọi thành viên.
Chính vì vậy, Cơ quan Báo cáo phát triển con nguời của chương trình
phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã lựa chọn và đưa ra chỉ số phát triển
con người (Human Development Index - HDI). Việc đưa ra chỉ số này là vô
cùng cần thiết, bởi việc xếp hạng về HDI toàn cầu giúp cho các nước biết được
kết quả phát triển con người của mình trong một giai đoạn dài, giúp các nước
có thể đề ra các chính sách và chiến lược phát triển hợp lý trong thời gian tiếp
theo nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội.
1.2 Quan niệm về HDI và chỉ số đánh giá, đo lường HDI
* Chỉ số phát triển con người (HDI) là thước đo tổng hợp về sự phát
triển con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng của họ. Chỉ số
HDI được Cơ quan Phát triển con người của Liên Hợp quốc đưa ra để kiểm
soát, đánh giá tiến bộ trong sự phát triển con người. HDI đo thành tựu trung
bình của mỗi quốc gia trên 3 phương diện của sự phát triển, đó là:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình
dự kiến từ lúc sinh.

Chỉ số thước đo thành phần =
Giá trị thực - Giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa - Giá trị tối thiểu
Các giá trị biên (tối đa - max và tối thiểu - min) của tuổi thọ, kiến thức
và GDP/ người thực tế theo PPP là giá trị quốc tế, chung cho tất cả các nước.
2
Trong đó, G: Chỉ số phát triển giáo dục
a: tỉ lệ người lớn biết chữ (%)
b: tỉ lệ nhập học các cấp (%)
Các giá trị quốc tế để tính chỉ số HDI
Chỉ tiêu Max Min
Tuổi thọ (năm) 85 25
Tỷ lệ người lớn biết chữ (%) 100 0
Tỷ lệ nhập học các cấp (%) 100 0
GDP thực tế/ người (PPP. USD) 40.000 100
(GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng - Giáo trình Kinh tế phát triển, 2005)
Việc tính chỉ số thu nhập có phức tạp hơn, được thống nhất tính theo
công thức sau:
I
3
=
log (giá trị thực) - log (giá trị tối thiểu)
log (giá trị tối đa) - log (giá trị tối thiểu)
Tổng hợp ba chỉ số thành phần, có được chỉ số HDI theo công thức sau:
Giá trị của chỉ số HDI dao động trong phạm vi từ 0,000 đến 1,000. Trên
cơ sở giá trị này, Cơ quan báo cáo con người của Liên Hợp Quốc đã phân chia
thành 3 nhóm như sau:
+ Nhóm HDI thấp, có giá trị từ 0,000 đến 0,499.
+ Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,500 đến 0,799.
+ Nhóm HDI cao, có giá trị từ 0,800 đến 1,000.

II.1.1.1. Khái quát chung
Kể từ năm 1990, Cơ quan Báo cáo phát triển con nguời của chương trình
phát triển của Liên Hợp Quốc bắt đầu dùng chỉ số HDI để đánh giá các thành
tựu trong phát triển con người qua ba chỉ số thành phần và để thực hiện xếp
thứ hạng các nước. Về cơ bản, những số liệu tổng hợp về HDI trên toàn thế
giới từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX đến nay đã có những tiến bộ vượt bậc. Tuổi
thọ trung bình tăng lên và đạt mức 68,1 tuổi cho toàn thế giới (năm 2005), tỷ lệ
biết chữ của người lớn và tỷ lệ nhập học các cấp cũng được tăng lên rõ rệt,
GDP bình quân đầu người được cải thiện với mức tăng trung bình năm 1%.
Giá trị của HDI cũng thay đổi đáng kể.
Chỉ số phát triển con người thời kì 2001 - 2005
Nhóm nước
2001 2005
HDI
Tuổi
thọ
Tỉ lệ
biết
chữ
Tỷ lệ
nhập
học
Thu
nhập
HDI
Tuổi
thọ
Tỉ lệ
biết
chữ

thay đổi về thứ bậc. Năm 1990, Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới về chỉ số
HDI, tiếp theo là Aixơlen, Na Uy, Phần Lan… Đến năm 2003, Na Uy vươn lên
đứng đầu thế giới về HDI, tiếp theo là Aixơlen, Ôxtrâylia, Lucxembua…, Hoa
Kỳ đứng ở vị trí thứ 10.
Sự thay đổi thứ bậc của 10 nước có giá trị HDI thấp nhất thế giới
giai đoạn 1990 - 2003
STT Tên nước 1990 1995 2000 2003
1 CH Côngô 0.422 0.393 …. 0.385
2 Môdămbich 0.311 0.328 0.360 0.379
3 Burundi 0.353 0.324 …. 0.378
4 Êtôpia 0.311 0.323 0.352 0.367
5 CH.Trung Phi 0.383 0.367 …. 0.355
6 Ghinê - Bitxau 0.313 0.341 0.353 0.348
7 Mali 0.283 0.307 0.330 0.333
8 Bukinafaso 0.305 0.311 0.328 0.317
9 Seria Leon …. …. …. 0.298
10 Nigiê 0.249 0.256 0.271 0.281
Đối với 10 quốc gia có chỉ số HDI thấp nhất thế giới. Năm 1995, Nigiê
là nước có giá trị thấp nhất, tiếp đó là Mali, Bukinafaso…, Đến năm 2003,
nước có giá trị HDI thấp nhất thế giới vẫn là Nigiê, tiếp đó là Seria Leon,
Bukinafaso, Mali…, CH Côngô đứng ở vị trí thứ 10 từ dưới lên. Các nước có
chỉ số HDI thấp nhất thế giới tập trung hầu hết ở Châu Phi. Sự thay đổi về thứ
bậc của 10 nước có giá trị HDI thấp nhất thế giới diễn ra chậm chạp.
II.1.1.2. Sự phân hoá HDI theo các chỉ tiêu
a. Về chỉ tiêu y tế, chăm sóc sức khoẻ
Sự phân hoá chỉ số HDI trên thế giới thông qua các chỉ tiêu về y tế, chăm
sóc sức khoẻ được thể hiện qua 2 biểu đồ dưới đây:
5
Biểu đồ thể hiện mức tử vong của
trẻ em trên thế giới năm 2003

Một vài chỉ tiêu về y tế thế giới giai đoạn 1990 - 2000
Bình quân tính trên 1 vạn dân Ngân sách dành
cho y tế (% GDP)
Bác sĩ Y tá
6
Thế giới 12,2 24,1 2,5
Thu nhập thấp 1,4 2,6 1,3
Thu nhập trung bình 7,6 8,5 3,1
Thu nhập cao 28,7 78,0 6,2
Như vậy sự chênh lệch về các chỉ tiêu là rất lớn giữa các quốc gia trên
thế giới. Về chỉ tiêu bình quân bác sĩ/1 vạn dân của các nước thu nhập cao cao
gấp 20,5 lần so với các nước thu nhập thấp. Sự chênh lệch về bình quân y tá/1
vạn dân giữa hai nhóm nước này chênh nhau tới 30 lần.
b. Về chỉ tiêu giáo dục
Biểu đồ số năm đến trường trung bình của các khu vực trên thế giới
năm 1990 và năm 2001
Thông qua biểu đồ trên ta thấy, giữa năm 1990 và 2001, số năm đến
trường trung bình của người dân các khu vực trên thế giới đều có sự gia tăng
đáng kể (trừ các nước thuộc khu vực Trung Á). Mức trung bình của thế giới
hiện nay là 11 năm: các khu vực thấp hơn mức trung bình của thế giới là Nam
Á, Tây Á, các nước Trung Đông và khu vực châu Phi nghèo đói; trong khi đó
các nước ở khu vực châu Âu, châu Mỹ lại có mức trung bình cao hơn thế giới.
Bên cạnh đó, chúng ta còn nhận thấy số năm đến trường của khu vực Mỹ
latinh và Cribê có tốc độ tăng nhanh nhất do sự cải cách các chính sách giáo
dục thuộc các gia này. Đồng thời, dẫn đầu về số năm đến trường vẫn thuộc về
nhóm nước OECD, với số năm trung bình đến trường của người dân đạt
khoảng từ 16 - 17năm. Tuy nhiên ở đây, trường hợp của các nước ở khu vực
Trung Á, ta thấy số năm đến trường năm 2001 so với năm 1990 không thay đổi
và có chiều hướng giảm do một số biến động về tình hình xã hội, suy thoái,
biến động kinh tế….

Tuổi thọ
trung bình
Tỉ lệ
người lớn
biết chữ
Tỉ lệ
nhập học
các cấp
Thu nhập
bình quân
(PPP)
1 Aixơlen 0,968 82 100,0 95,4 36.510
2 Na Uy 0,968 80 100,0 99,2 41.420
3 Ôxtrâylia 0,962 81 100,0 100,0 31.794
4 Canada 0,961 80 100,0 99,2 33.375
8
5 Ai len 0,959 78 100,0 99,9 38.505
6 Thuỵ Điển 0,956 81 100,0 95,3 32.525
7 Thuỵ Sĩ 0,955 81 100,0 85,7 35.633
8 Nhật Bản 0,953 82 100,0 85,9 31.267
9 Hà Lan 0,953 79 100,0 98,4 32.684
10 Pháp 0,952 80 100,0 96,5 30.684
(Nguồn: Human Development Reports 2007)
Mười nước có chỉ số HDI thấp nhất thế giới năm 2005
STT Tên nước HDI
Tuổi thọ
trung
bình
Tỉ lệ
người

Các nước có cùng giá trị HDI nhưng khác nhau về mức thu nhập
Tên nước Giá trị HDI
GDP/người thực tế
(PPP.USD)
Côoét 0,891 26.321
Cộng hoà Séc 0,891 20.538
Thổ Nhĩ Kỳ 0,755 8.407
Acmênia 0,755 4.945
CH Nam Phi 0,674 11.110
Vanuatu 0,674 3.225
Bảng số liệu trên phản ánh rất rõ những nước có chỉ số HDI như nhau,
nhưng mức thu nhập lại không giống nhau, thậm chí có mức chênh lệch nhau
khá cao về chỉ tiêu này.
Các nước có cùng mức thu nhập nhưng khác nhau về giá trị HDI
Tên nước
GDP/người
theo PPP.USD
Tuổi thọ
trung bình
(năm)
Tỉ lệ
người lớn
biết chữ (%)
Giá trị
HDI
Việt Nam 3.071 74 90,3 0,733
Lêsôthô 3.335 43 82,2 0,549
Như vậy, sự phân hoá chỉ số HDI giữa các quốc gia và khu vực trên thế
giới là rất sâu sắc. Các nước đứng đầu thế giới về HDI thường tập trung ở
Châu Âu và khu vực Bắc Mỹ. Các nước có giá trị HDI thấp nhất thế giới là các

biệt là trong vòng một thập kỷ trở lại đây, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu đáng kể trong sự nghiệp phát triển con người. Điểm đáng chú ý là chỉ số
HDI đang tăng lên đáng kể, vị trí về chỉ số HDI của Việt Nam so với các quốc
gia được đánh giá trên thế giới đã không ngừng tăng lên qua các năm. Thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Thành tựu phát triển con người (HDI) của Việt Nam
giai đoạn 1995 - 2005
Chỉ số 1995 1999 2000 2001 2003 2005
Tuổi thọ trung bình 65,2 67,4 67,8 67,8 68,6 73,7
Tỷ lệ người lớn biết chữ 91,9 91,9 92,0 93,1 92,0 90,3
Tỷ lệ nhập học các cấp 49,0 62,0 63,0 67,0 63,9
GDP/người theo PPP 1.010 1.630 1.860 1.860 2.070 3.071
Chỉ số phát triển con người 0,611 0,666 0,671 0,682 0.688 0,733
Xếp hạng HDI 121/174 110/174 108/177 101/162 109/175 105/177
(Nguồn: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2007 và VnExpress)
Giá trị HDI của Việt Nam tăng liên tục từ 0,611 năm 1995 lên 0,671 năm
2000 và đạt 0,733 năm 2005. Nước ta duy trì được mức xếp hạng về phát triển
con người ở vị trí trung bình là 105 trong tổng số 177 nước được xếp hạng. Giá
trị HDI của Việt Nam tăng, phản ánh mức tăng về tuổi thọ từ 67,8 năm 2000
11
lên 73,7 năm 2005 và GDP theo đầu người tăng từ 1.860 năm 2000 lên 2.070
(2003) và 3.071 USD/người vào năm 2005.
Những thay đổi tích cực trong chỉ số HDI của Việt Nam phản ánh những
thành tựu đạt được trong các lĩnh vực phát triển chủ chốt như mức sống, y tế,
giáo dục. Giá trị HDI tăng từ 0,583 năm 1985 lên 0,605 năm 1990; 0,611 năm
1995 và 0,733 vào năm 2005. Xếp hạng HDI của Việt Nam trong các nước và
vùng lãnh thổ đã tăng từ 120/174 quốc gia năm 1992 lên 105/177 quốc gia
trong năm 2005.
Trong khu vực ASEAN, so sánh về thứ hạng chỉ số phát triển con người
(HDI), Việt Nam chưa bằng Singapore, Brunei, Thái Lan hay Malaysia, nhưng

vấn đề về thu nhập của người dân, vấn đề xoá đói giảm nghèo và đảm bảo
công bằng xã hội luôn là vấn đề cấp thiết.
GDP và GDP bình quân đầu người theo giá thực tế
giai đoạn 1991 - 1995
Năm 1991 1995 2000 2005
GDP (triệu đồng) 76.707 288.892 441.646 837.858
GDP/người (triệu đồng) 1,141 3,179 5,659 10,083
Như vậy, trên phạm vi toàn quốc, GDP và GDP bình quân đầu người của
nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao trong gần hai thập kỷ trở lại đây. Tuy nhiên
thu nhập bình quân đầu người giữa các vùng lãnh thổ còn rất lớn, thể hiện qua
bảng số liệu sau đây:
Thu nhập và chênh lệch thu nhập bình quân đầu người
giữa các vùng theo giá thực tế giai đoạn 1995 - 2005
Các vùng
Thu nhập bình quân
đầu người (triệu
đồng)
Chênh lệch của từng
vùng so với cả nước
(lần)
1995 1999 2005 1995 1999 2005
Cả nước 2,47 3,54 5,50 1,00 1,00 1,00
Đồng bằng sông Hồng 2,41 3,36 6,30 0,97 0,95 1,14
Đông Bắc 1,93 2,52 4,60 0,78 0,71 0,83
Tây Bắc 1,93 2,52 3,20 0,78 0,71 0,58
Bắc Trung Bộ 1,92 2,55 3,80 0,78 0,72 0,69
Duyên hải Nam Trung Bộ 2,11 3,03 5,00 0,85 0,86 0,90
13
Tây Nguyên 2,89 4,14 4,70 1,17 1,17 0,85
Đông Nam Bộ 4,07 6,33 10,00 1,64 1,79, 1,82

14
2002 13,6 58,2
2004 10,6 54,3
(Nguồn: www.worldbank.org.vn)
Bảng số liệu trên cho thấy, thành tích đạt được trong công tác xoá đói
giảm nghèo của nước ta là khá ngoạn mục. Song công tác xoá đói giảm nghèo
chưa thật vững chắc. Tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, tính trung bình cứ 5 người
dân thì có 1 người nghèo.
Tổng số hộ và tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc thời kỳ 1992 - 2004
Năm 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004
Tổng số hộ
nghèo (hộ)
3810,7 2633,2 2387,1 1615,0 2800,0 2056,7 1416,0
Tỷ lệ hộ
nghèo (%)
28,2 17,7 15,7 10,0 17,2 13,0 8,3
Qua bảng số liệu ta thấy: Trong giai đoạn 1992 - 1997, có hai chuẩn
nghèo, song chênh lệch không lớn; thành tựu xoá đói giảm nghèo là đáng kể, tỉ
lệ đói nghèo giảm 12,3%, bình quân mỗi năm giảm gần 2,5% với 235,5 nghìn
hộ/năm. Giai đoạn 1998 - 2000, chuẩn nghèo có sự thay đổi nhưng không
nhiều; tỉ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhưng giảm chậm (5,7%). Giai đoạn 2000, -
2004, được tính theo chuẩn nghèo mới; cả nước giảm gần 1/2 hộ nghèo và gần
9% tỉ lệ hộ đói nghèo; đây là thời kỳ thành công nhất trong quá trình xoá đói
giảm nghèo của nước ta.
Tỷ lệ đói nghèo các vùng theo chuẩn năm 2005
(đơn vị %)
Các vùng Tỉ lệ đói nghèo
Cả nước 21,9
Đông Bắc 32,6
Tây Bắc 44,0

vực miền núi rất hạn chế, hiệu quả kinh tế đem lại chưa cao mặc dù lực lượng
lao động tập trung chủ yếu ở các khu vực này. Nhiều nguyên nhân đói nghèo
chưa được khắc phục một cách triệt để, nguy cơ tái nghèo còn lớn, đặc biệt là
khu vực nông thôn, miền núi.
Có rất nhiều nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam, trong đó có thể nêề lên
một số nguyên nhân chính, như sau:
16
+ Đói nghèo do thiếu thu nhập và tài sản: ở đây bao gồm thiếu thu nhập
và những tài sản của con người, tài sản của tự nhiên, tài sản vật chất, tài sản tài
chính, tài sản xã hội…
+ Thiếu tiếng nói và quyền lực: người nghèo rất bị hạn chế về tiếng nói
và quyền lực của mình, họ không được hoặc không chủ động thể hiện quyền
làm chủ của mình.
+ Dễ bị tổn thương trước các cú sốc bất lợi, không có khả năng chống
chọi, khả năng chịu tổn thất và rủi ro của người nghèo là rất cao, rủi ro về thiên
tai đi liền với tình trạng phát triển thấp kém, sự thiếu vắng các cơ chế thích
ứng dự phòng để giảm thiểu các rủi ro đó…
II.2.2.2. Về giáo dục
Số lượng học sinh qua các năm học của Việt Nam
(đơn vị: nghìn học sinh)
Năm học 1992 - 1993 Năm học 2005- 2006
Tổng số học sinh cả nước 12910,9 16649,2
Học sinh Tiểu học 9527,2 7304,0
Học sinh Trung học cơ sở 2813,4 6371,0
Học sinh Trung học PT 570,4 2973,9
So với năm học 1992 - 1993, từ sau năm học 1999 - 2000, số lượng học
sinh Tiểu học bắt đầu giảm, số lượng học sinh Trung học cơ sở và Trung học
phổ thong bắt đầu tăng dần. Các hệ thống giáo dục phát triển và mở rộng để
khai thác các nguồn lực của xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên khá cao

Lai
Bình
Phước
Trà
Vinh
Toàn
quốc

Nội
Thái
Bình
Nghệ
An
Đồng
Nai
Tỷ lệ biết chữ của
người lớn (%)
51,31 69,29 88,24 82,54 90,29 96,93 94,60 92,80 92,52
Tỷ lệ đi học ròng
(năm học 1998-
1999) (%)
27,98 38,56 43,36 42,88 69,95 76,19 67,91 55,67 54,89
Số người có trình
độ trên đại học
13 51 10 0 28.569 15.872 265 363 100
Thứ hạng
GDP/người trong
61 tỉnh, thành.
58 42 50 22 3 25 39 5
18

So với mức bình quân đảm bảo y tế/1 vạn dân của thế giới (12,2 bác sĩ;
24,1 y tá) thì ở Việt Nam mới bằng 1/2. Tình trạng thể lực chung của người
Việt Nam tuy đã được cải thiện đáng kể, song tầm vóc và thể trạng vẫn còn
19
nhiều hạn chế, chiều cao và trọng lượng cơ thể thấp hơn so với những người
cùng lứa tuổi ở các nước , tỉ lệ người gầy còn cao. Các tệ nạn xã hội chưa được
kiểm soát, đến cuối năm 2004, số người nhiễm HIV của Việt Nam đã lên tới
con số 84 nghìn người.
Cũng như chỉ số thu nhập bình quân đầu người, chỉ số tuổi thọ trung
bình có sự phân hoá giữa các vùng trong nước cũng như theo giới tính. Tuổi
thọ trung bình không đồng đều giữa các vùng được thể hiện qua bảng sau:
Sự phân hoá tuổi thọ trung bình giữa các vùng ở Việt Nam
thời kỳ 1989 - 2005
Vùng
Tuổi thọ trung bình (năm)
1989 1999 2002 2005
Toàn quốc 65,3 68,6 68,9 71,3
Tây bắc 63,0 63,1 64,7 66,6
Đông Bắc 65,5 67,5 68,2 69,1
Đồng bằng sông Hồng 69,8 71,5 71,5 73,3
Bắc Trung Bộ 65,3 68,5 68,8 71,2
Duyên hải Nam Trung Bộ 66,2 67,4 68,2 73,6
Tây Nguyên 58,5 61,6 63,6 68,9
Đông Nam Bộ 69,2 72,4 72,4 73,9
Đồng bằng sông Cửu Long 66,4 68,9 69,1 73,0
(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu con người 1(22)2006)
Giữa 2 giới, tuổi thọ bình quân nữ cao hơn nam ( 74 - 67,4). Trong đó,
Bắc Trung Bộ có độ chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ cao nhất
(7,9), thấp nhất ở Đông Bắc (3,0). Sở dĩ có sự chênh lệch này nguyên nhân là
do cơ cấu nghề nghiệp, chất lượng lao động, đặc điểm phân bố dân cư, sự thay

trong giai đoạn tới. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế
cao góp phần tăng trưởng nhanh và bền vững của GDP, đồng thời sẽ tạo thêm
nhiều việc làm mới góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm
của một bộ phận lớn dân cư. Mặt khác sẽ tạo ra những yêu cầu mới cho nên
kinh tế và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sản phẩm
hàm lượng chất xám cao, đẩy nhanh và mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước.
- Cải cách khu vực Doanh nghiệp nhà nước.
21
- Cải cách hệ thống tài chính ngân hàng.
- Phát triển mạnh kinh tế dân doanh, nhất là các công ty tư nhân vừa và
nhỏ; thu hút và sử dụng có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Điều chỉnh cơ cấu đòi hỏi phải đổi mới chức năng và vai trò của Nhà
nước nhằm tạo dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh, năng động và
thực hiên tốt mục tiêu phát triển con người. Trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ không tránh khỏi những chi phí xã hội phát
sinh, nhất là về ngắn hạn. Chính vì vậy, việc thiết lập một mạng lưới an sinh là
hết séc cần thiết. Những yếu tố chính của mạng lưới này bao gồm hệ thống bảo
hiểm, quỹ hỗ trợ và sự giúp đỡ, cung cấp nhu cầu thiết yếu cho những người
nghèo; sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và của người dân cũng cần
được đặc biệt chú trọng. Tuy nhiên, việc hạn chế những chi phí xã hội chỉ có
thể được giải quyết một cách vững chắc thông qua sự thúc đẩy phát triển có
hiệu quả của khu vực kinh tế tư nhân, tạo ra các kx năng lao động mới.
II.2.3.2. Phát triển bền vững khu vực nông thôn
Trong những năm qua, việc mở rộng cơ hội lựa chọn và khuyến khích
lao động và sự sáng tạo của người nông dân trên cơ sở các trao đổi thị trường
và mở cở đã tạo ra những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển nông
nghiệp; đời sống nông dân ở nhiều vùng đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên
trong thập niên tới, nông thôn vân là địa bàn và lĩnh vực sinh sống của đa số
dân cư và người nghèo, trong khi khoảng cách về mức sống giữa thành thị và

nhiệm vụ tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo… Tạo dựng sự gắn kết có hiệu quả
giữa hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ với các nhu cầu
kinh tế - xã hội.
II.2.3.4. Hoàn thiện hệ thống y tế, chương trình dân số và các hoạt động
bảo trợ xã hội
Đối với hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ và chương trình dân số: trong
giai đoạn tới, đòi hỏi cấp thiết trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ chưa
phải là việc phát triển các dịch vụ cao cấp và nâng cao chất lượng, mà là những
nỗ lực mở rộng diện cung cấp và nâng cao chất lượng các dịch vụ cơ bản. Tính
ưu tiên của sự lựa chọn này xuất phát từ quan điểm phát triển vì tất cả mội
người và cũng nhằm giảm thiểu mức độ bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư
có thu nhập khác biệt thuộc các vùng và các tầng lớp khác nhau. Các mục tiêu
cụ thể: mở rộng cơ hội để người dân tiếp cận dễ dàng đến y tế dự phòng, bảo
đảm mọi người dân được chữa các bệnh thông thường, giảm nhanh tỷ lệ trẻ em
23
và bà mẹ có thai bị suy dinh dưỡng, thực hiện tốt chương trình kế hoạch hoá
gia đình. Một số giải pháp cần thực hiện là:
Tăng mức chi ngân sách cho lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, trong
đó cần ưu tiên hơn cho các vùng bị cô lập, các dịch vụ chăm sức khoẻ ban đầu,
củng cố và nâng cấp mạng lưới y tế ở cấp thôn, bản và xã, các chương trình
cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cho phép khu vực tư nhân tham gia vào lĩnh vực y tế, mở rộng phạm vi
bảo hiểm y tế. Tăng cường năng lực bộ máy y tế và chăm sóc sức khoẻ thông
qua việc mở rộng đào tạo cán bộ y tế, đặc biệt là đào tạo y tá và cán bộ bảo vệ
sức khoẻ cho các vùng nông thôn, miền núi…
III. KẾT LUẬN
Chỉ số phát triển con người - HDI là thước đo tổng hợp của ba khía cạnh
về phát triển con người, đó là: tuổi thọ; tri thức (được đo bằng tỷ lệ biết chữ ở
người lớn cũng như tỷ lệ nhập học tổng hợp ở các cấp); và mức sống (được đo
bằng GDP bình quân đầu người và chi phí sinh hoạt thể hiện qua chỉ số sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status