Ảnh hưởng của các phương pháp nuôi dưỡng (cho ăn và cho uống) của vitamin E đến năng suất sinh trưởng ở gà thịt - Pdf 17

Ảnh hưởng của các phương pháp nuôi
dưỡng (cho ăn và cho uống) của vitamin
E đến năng suất sinh trưởng ở gà thịt

Tóm tắt
Nghiên cứu này được khảo sát để so sánh ảnh hưởng của vitamin E
khi bổ xung hoặc trong thức ăn hoặc trong nước uống đến năng suất và chất
lượng thịt ở gà. Trong một thí nghiệm cho ăn 6 tuần, tổng số là 330 con gà
thịt được bắt ngẫu nhiên vào 5 ô chuồng thí nghiệm. Các lô thí nghiệm là:
1. 0ppm vitamin E .
2. 10ppm vitamin E trong thức ăn
3. 20ppm vitamin E trong thức ăn
4. 5ppm vitamin E trong nước uống
5. 10ppm vitamin E trong nước uống

Trong giai đoạn đầu (0-3 tuần) gà ở các nhóm không bổ sung vitamin
E tăng trọng chậm hơn (p<0,05) so với các nhóm có bổ sung vitamin E và có
xu hướng giống hệt nhau theo dõi thấy trong giai đoạn kết thúc thí nghiệm
(4-6 tuần) và toàn bộ giai đoạn (0-6 tuần). Lượng thức ăn ăn được cao hơn
có ý nghĩa ở nhóm bổ sung vitamin E trong thức ăn so với nhóm bổ sung
vitamin E trong nước uống và ở các mức cao hơn so với các nhóm có mức
độ bổ sung thấp hơn. Các nghiên cứu về tỉ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng khảo
sát sau 10 năm và 35 ngày ở thí nghiệm cho ăn cho thấy rằng tỉ lệ tiêu hóa
của tất cả các chất dinh dưỡng cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) ở các nhóm có
bổ sung vitamin E so với nhóm không bổ sung vitamin E. Tỉ lệ phần trăm
thịt xẻ cao hơn ở các nhóm có bổ sung vitamin E, khi bổ sung vao thức ăn và
ở mức cao hơn khi so sánh với tỉ lệ tương ứng của chúng. Xu hướng tương
tự lưu ý với hướng về độ chắc của xương. Hàm lượng canxi và photpho
trong xương đòn (xương ống chân) cũng cao hơn có ý nghĩa ( p<0,05) ở
nhóm có bổ sung vitamin E. các nhóm cho ăn trong thức ăn ở các mức cao
hơn so với các nhóm khác. Các giá trị TBARS đo lường sau 5 và 10 ngày

hoặc vào nước uống cho gà thịt.

Vật liệu và phương pháp
330 con gà thịt con giống Ross 4 ngày tuổi thương phẩm, khối lượng
cơ thể trung bình là 56,16g, được nuôi trong một giai đoạn 6 tuần trong
phòng có nguyên liệu rải trấu dưới nền làm chất lót, trong điều kiện nhiệt độ
được điều khiển ngay từ tuần thứ 1, và có quạt thông gió. Kích thước
chuồng là 2mx2m. Gà mới nở được nuôi với khẩu phần gà con thương phẩm
trong 3 ngày sau đó là khẩu phần thí nghiệm tương ứng. Nhiệt độ phòng
không được điều khiển ngoại trừ tuần đầu ( 22 đến 30
0
C) vì đó là mùa hè ở
Hàn Quốc ( tháng 6-tháng8). Gà được cho ăn và cho uống tự do. Các khẩu
phần cơ sở (dạng Mash) được lập công thức gồm có 22,4% và 20,26%
protein thô trong giai đoạn đầu (0 đến 3 tuần) và giai đoạn cuối (4 đến 6
tuần), tương ứng , thể hiện ở bảng 1. Các lô (1) 0ppm, (2) 10ppm vitamin E
trong thức ăn, lô (3) 20ppm vitamin E trong thức ăn, lô (4) 5ppm vitamin E
trong nước uống và lô (5) 10ppm vitamin E trong nước uống. Vitamin E
được sử dụng là Medivita ETM, là một phức chất glycol vitamin E-
polyethylene do công ty khoa học đời sống sản xuất (Seoul Hàn Quốc).
Công ty này đã phát triển sản xuất Medivita ETM ở dạng bột, được bổ sung
vào thức ăn, cũng như ở dạng lỏng, mà được bổ sung vào nước uống. Các
mức vitamin E trong thức ăn và trong nước uống này được so sánh sử dụng
theo kinh nghiệm mà lượng nước uống được gấp 2 lần lượng thức ăn ăn
được (Leeson và Summers, 1991).
Trong một thí nghiệm nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa, 30 con gà (6 con mỗi
lô) được chỉ định vào các chuồng nuôi cá thể để thu các mẫu phân. Các khẩu
phần ăn bắt đầu và kết thúc gồm có 0,25% oxit chrome là một chất đánh dấu
không tiêu hóa được cung cấp bổ sung cho gà thịt ở các độ tuổi 15 và 35
ngày tương ứng. Các mẫu phân của mỗi con được thu thập vào ngày thứ 4

phương pháp so sánh đối ngược của SAS (1985). Các dữ liệu được so sánh
trong các bảng giữa 2 nhóm bổ sung và không bổ sung, giữa 2 nhóm cho ăn
và cho uống cũng như giữa các mức vitamin E cao và thấp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Năng suất sinh trưởng và tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng
ảnh hưởng của bổ sung vitamin E đến năng suất sinh trưởng của gà
thịt được ghi chép ở các giai đoạn 0-3 tuần và 4-6 tuần được trình bày ở
bảng 2. Các dữ liệu biểu lộ rằng có sự tăng lên về tăng khối lượng (p<0,05)
khi vitamin E được bổ sung hoặc trong thức ăn hoặc trong nước uống so với
các nhóm không bổ sung ở tất cả các giai đoạn đo lường. Tăng khối lượng
cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) khi duy nhất ở giai đoạn kết thúc ở khẩu phần
bổ sung trong thức ăn so với nhóm bổ sung trong nước uống và ở các mức
cao hơn so với mức thấp hơn, ở tất cả các mức đo lường. Kết quả này cho
thấy một khuynh hướng là mức vitamin E tăng lên trong khẩu phần hoặc
trong nước uống thì tăng khối lượng tăng lên. Trong giai đoạn bắt đầu, mặc
dầu có sự sai khác không có ý nghĩa về lượng thức ăn ăn được giữa các
nhóm bổ sung và không bổ sung nhưng tăng trọng cao hơn đã quan sát thấy
ở các khẩu phần ăn có bổ sung. Sự thay đổi có ý nghĩa về khối lượng cơ thể
trong giai đoạn bắt đầu có thể là vì tình trạng miễn dịch kém của gà ở độ tuổi
ban đầu và vai trò của vitamin E trong việc nâng cao miễn dịch. Lợi ích về
năng suất do nồng độ vitamin E trong khẩu phần cao sẽ chỉ được quan sát
thấy bằng sự xuất hiện của các gốc tự do tấn công vào hệ thống miễn dịch
(Franchini và cs., 1988 ; Rice và Kennedy, 1988). Stress mùa hè và stress
sinh trưởng có thể làm cho sản xuất các gốc tự do lipít tăng lên và kể từ đây
sinh trưởng tốt hơn được nhận thấy ở các nhóm bổ sung so với các nhóm
không bổ sung. Trái ngược với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, Sheehy và
cs. (1991) không nhận thấy nâng cao có ý nghĩa về tăng khối lượng ngay cả
sau khi bổ sung vitamin E đến tận 180 mg /kg khẩu phần ăn. Lượng thức ăn

Tri-calci phosphate 6.00 5.70
Khoáng (bột đá) 0.92 1.12
Premixvitamin
1
0.59 0.87
Premix khoáng
2
0.10 0.10
Muối 0.20 0.20
L-lysine. HCl 0.25 0.25
DL-methionin (50%) - 0.03
Choline Cloride (25%) 0.20 -
Tổng cộng 0.08 0.07
Thành ph
ần hoá học tính toán
được (%)
100.00 100.00
ME (kcal/kg) 3200 3200
Protein thô 22.04 20.26
Ca 0.90 0.90
Phospho dự trữ 0.40 0.35
Lysine 1.14 1.00
Methionine 0.53 0.40
Methionine + cystein 0.90 0.75

Nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng được khảo sát sau 15 ngày
ở giai đoạn bắt đầu và 35 ngày ở giai đoạn kết thúc được trình bày ở bảng 4.
Tỷ lệ tiêu hóa năng lượng thô, protein thô và mỡ tổng số được nhận thấy là
thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05) ở khẩu phần ăn không bổ sung so với các khẩu
phần ăn có bổ sung ở cả 2 giai đoạn đầu và cuối và kết quả này sẽ làm ảnh

0
1
0
2
0
5
1
0
S
E
1

1

2

3

T
ăng
4
5
5
5
5
6
0 N 0
khối
lượng
(g)

.90 b
1
.93 b
1
.91 b
1
.89 b
0
.02
0
.0001
N
S
N
S
G
iai
đoạn
cuối
(4-6
tuần)

ăn
được
(g)
2
468 b
2
316 c
2
493 a
2
317 c
2
321 c
2
1.40
0
.0001
0
.0001
0
.0001
F
CR
2
.69 a
2
.34 c
2
.48 b
2

tuần)
T
ăng
khối
lượng
(g)
1
381 c
1
504 b
1
531 a
1
496 b
1
512 ab

1
4.43
0
.0001
N
S
0
.0091
T
h
ức ăn
ăn
được

.18 c
0
.03
0
.0001
0
.0006
0
.0017
a, b, c, d Các giá trị trung bình trong cùng hàng có các chữ nhỏ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa (p<0.05).
1
Sai số chuẩn tính chung.
2
1: không bổ sung so với bổ sung, 2: thức
ăn so với nước uống 3: mức thấp so với cao. * không có ý nghĩa (p>0.05).

ảnh hưởng đến các tính trạng thân thịt
Tỷ lệ phần trăm thịt xẻ cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) ở các nhóm có bổ
sung vitamin E cao hơn nhóm không bổ sung (bảng 5). Tăng khối lượng
tăng lên được phản ánh ở tỷ lệ phần trăm thịt xẻ cao hơn trong các nhóm có
bổ sung vitamin E. Tỷ lệ phần trăm thịt xẻ và tỷ lệ phần trăm thịt ngực cao
hơn cũng được theo dõi thấy khi vitamin E được cho ăn trong thức ăn cao
hơn trong nước uống và ở mức vitamin E cao so với vitamin E thấp khi bổ
sung. Quan sát thấy tỷ lệ phần trăm mỡ bụng không thấy sai khác nhau khi
bổ sung vitamin E.

Bảng 3: Tiêu thụ nước hàng tuần ở các nhóm cho ăn Vitamine E trong
nước và trong thức ăn: tỷ lệ nước ở giai đoạn đầu (0-3 tuần).
Vita Tiêu thụ nư

0.
974
64
.28
1:1.87

10
ppm
2
0
4
0
6
0
1
20
0.
981
64
.75
1:1.85Bảng 4: ảnh hưởng của phương pháp cho ăn Vitamine E (cho ăn và
cho uống) đến tỷ lệ tiêu hoá chất dinh dưỡng (%) của gà thịt.
Đối
chứng
Cho ăn Cho uống SE
1


71.97
c
72.87
b
0.24

0.0001
Mỡ
tổng số
72.85
b
73.82
a
73.86
a
73.86
a
73.84
a
0.11

0.0001
Giai
đo
ạn cuối
(4-6 tuần)

Năng
lượng thô
70.82

b
71.59
a
71.18
a
71.43
a
71.56
a
0.15

0.0001
a, b, c, d Các giá trị trung bình trong cùng hàng có các chữ nhỏ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa (p<0.05).
1
Sai số chuẩn tính chung.
2
1: không bổ sung so với bổ sung, 2: thức
ăn so với nước uống 3: mức thấp so với cao. * không có ý nghĩa (p>0.05).

Bảng 5: ảnh hưởng của phương pháp cho ăn Vitamine E (cho ăn và
cho uống) đến chất lượng thịt của gà thịt. Đ
ối
chứng

Cho ăn Cho
uống

(%) T
ỷ lệ
thịt xẻ

7
2.83 d

7
3.51 c
7
5.58 a
7

.0001
0
.0001
M
ỡ bụng

2
.51
2
.37
2
.61
2
.34
2
.49
0
.03
N
S*
N
S
0
.0083
M
àu s
ắc
thịt
N
S
N
S
a
9
.81
9
.15
9
.25
9
.16
9
.21
0
.11
N
S
N
S
N
S
b
7
.27 d
9
.25 bc
8
.74 c

Cho
uống
So sánh
20
1
0
2
0
5
1
0
S
E
1

1

2

3

H
uyết
tương
(àg/ml)
1
.39 d

.38
0.
0001
0.
0001
0.
0001
T
BARS
(mg/kg) 0
d
0
.33 a
0
.30 a
0
.23 b
0
.29 ab

0

10
d
2
.72 a
1
.79 b
1
.57 c
1
.75 b
1
.65 bc

0
.11
0.
0001
N
S
0.
0150
a, b, c, d Các giá trị trung bình trong cùng hàng có các chữ nhỏ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa (p<0.05).
1
Sai số chuẩn tính chung.
2
1: không bổ sung so với bổ sung, 2: thức
ăn so với nước uống 3: mức thấp so với cao. * không có ý nghĩa (p>0.05).
Bảng 7: ảnh hưởng của phương pháp cho ăn Vitamine E (cho ăn và
cho uống) đến đặc điểm xương và thành phần xương của gà thịt.


C
ác đ
ặc
điểm
xương S
ức chịu
2
0.29 c

2
4.63 b


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status