Những phát hiện về vạn vật và con người
Hăng say đi tìm những khám phá phủ định
Các nhà hàng hải nói chung vẫn còn bảo thủ và không sẵn sàng
thay thế những họa đồ vẽ tay bằng những bản đồ in, cũng như không
sẵn sàng chấp thuận khả năng có những lục địa mới thay vì những ảo
tưởng đã có từ ngàn xưa của họ. Có lẽ cái ảo tưởng lâu đời nhất và cũng
hấp dẫn nhất là niềm tin vào một Nam Lục Địa to lớn.
Ảo tưởng này vẫn còn rất lôi cuốn có lẽ vì chưa ai chứng minh được
rằng nó không có và nó cũng là giải đáp cho sự say mê cái đối xứng. Người
Hi Lạp vốn biết trái đất có hình cầu và biết có một khối đất liền như thế ở
đối xứng phía nam. Rồi Pomponius Mela, tác giả cổ nhất còn để lại tài liệu
địa lý bằng tiếng Latinh, khoảng năm 43 C.N, đã cho rằng Nam Lục Địa rất
rộng đến nỗi Ceylon chính là mỏm phía bắc của nó. Các bản đồ tự nhận
mình đi theo Ptolêmê vẫn còn tiếp tục cho thấy có một lục địa to lớn ở nam
bán cầu được ghi chữ “Đất Chưa Khám Phá theo Ptolêmê”. Vào cuối thế kỷ
15, lục địa huyền thoại này được gắn chặt vào với châu Phi để làm Đại Tây
Dương trở thành một cái hồ khổng lồ, mà từ châu Âu không thể nào đi tới
bằng đường biển.
Khi Dias đi vòng Mũi Hảo Vọng và chứng minh có một đường biển đi
sang Ấn Độ dương, thì phải thu hẹp lại ở phần đó của địa cầu. Và khi
Magellan sau cùng đã đi qua được eo biển mang tên ông để vào biển Thái
Bình Dương, các nhà vẽ bản đồ vẫn còn tin rằng Tierra del Fuego ở phía
nam chính là bờ biển phía bắc của Nam Lục Địa huyền thoại đó.
Vào thế kỷ 18, một nhà địa lý người Tô Cách Lan làm việc cho công
tu British East India đã bị ám sát bởi Nam Lục Địa huyền thoại này và đã
đưa ra rất nhiều những luận chứng chi tiết chưa từng có trước kia. Đó là
Alexander Dalrymple (1737-1808) làm nghề vẽ các lộ trình đường biển và
dòng nước và sẽ trở thành nhà thủy văn học đầu tiên cho Hải quân, năm
1795. Thời nhỏ, người hùng của ông là Colômbô và Magellan và ông hi
vọng trở thành đối thủ của họ trong việc khám phá ra lục địa riêng của mình.
Lẽ ra anh có thể bảo đảm được một nghề ổn định trên những chiếc tàu tư
nhân ở Biển Bắc, nhưng anh thích mạo hiểm hơn, nên đã tình nguyện gia
nhập Hải quân Hoàng gia năm 1755. Có thân hình to lớn vạm vỡ, anh được
mọi người chú ý vì phong cách điều khiển, tính nhã nhặn và tài đi trên
những vùng biển khó đi. Trong Cuộc Chiến Bảy Năm, Cook được thăng cấp
hạ sĩ quan. Tài chuyên môn đo đạc các hải trình khó qua lại ở St. Lawrence
của Cook đã giúp Hải quân chiếm được Quebec và chiến thắng.
Sau chiến tranh, ông trở về Newfoundland, ở đó trong năm năm ông
chỉ huy một tàu duyên hải, các mùa đông ông nghỉ tại Anh quốc để cải thiện
các bản đồ của mình. Tại Newfoundland, khi ông quan sát một cuộc nhật
thực năm 1776, ông đã phá bỏ các tiền lệ và tự nguyện cống hiến các kết quả
tính toán của mình cho Hội Hoàng Gia ở London.
Không lạ gì Đô đốc Hải quân đã chọn Cook để chỉ huy đoàn thám
hiểm tới Tahiti. Tuy mới chỉ là một hạ sĩ quan, ông đã chứng tỏ bản lĩnh
trong chiến tranh và trên biển nguy hiểm, ông là người đo đạc tài giỏi về các
bờ biển hiểm trở và đã chứng tỏ là một nhà quan sát thiên văn tài ba. Chọn
lựa Cook cũng là chọn lựa loại tàu để sử dụng, vì theo lời khuyên của ông,
Đô đốc Hải quân đã đặt mua một tàu chở than cứng cáp theo đúng loại mà
Cook đã phục vụ trong thời gian học việc ở Biển Bắc. Chiếc tàu rất thô kệch
nhưng cứng cáp vững vàng.
Tháng 5, 1768 James Cook được thăng cấp sĩ quan với quân hàm đại
úy. Chiếc tàu được đặt tên là Endeavour, được bọc bằng gỗ đóng đầy đinh
để chống lại những con hà nhiệt đới và được dự trữ lương thực cho mười
tám tháng.
Chiếc Endeavour rời bến ở Plymouth ngày 26 tháng 8 năm 1768, chứa
đầy đủ 94 người và vào phút chót, theo yêu cầu của Joseph Banks, phải chở
thêm một đoàn tùy tùng 8 người của ông với hành lý. Trong thời tiết đẹp, tàu
đi theo hướng tây nam tới Madeira, rồi tới Rio de Janeiro và quanh Mũi Ngà,
rồi tới Tahiti ngày 10 tháng 4 năm 1769, còn dư thời gian để chuẩn bị quan
sát những hiện tượng sẽ xảy ra vào ngày 3 tháng 6. Sau khi hoàn tất việc
biển theo hướng đông trên các vĩ độ phía nam bán cầu quả là rất rủi ro. Vì
thế ông đã quyết định đi theo hướng tây, để khám phá bờ biển đông của Tân
Hà Lan (Australia), rồi đi lên phía Đông Indies và quay về nhà theo đường
vòng quanh Mũi Hảo Vọng. Lộ trình này tuy gạt bỏ cơ hội thu thập thêm dữ
kiện về Nam Đại Lục Địa, nhưng nó sẽ làm giàu cho khoa học bằng những
cách thật bất ngờ. Ở bờ biển đông nam Australia, họ gặp thấy cảng Stingray,
nhưng những nhà khoa học trong đoàn như Banks và Solandes và các họa sĩ
cảm thấy say mê vô số những mẫu thực vật họ gặp ở đó và đã gọi nó là Vịnh
Thực Vật. Thế là nó trở thành lời nhắc nhở sống động ở Nam Thái Bình
Dương rằng cuộc thám hiểm của những nhà thiên nhiên học đã làm giàu cho
tầm nhìn của châu Âu về toàn thể thế giới như thế nào.
Cuộc hành trình thứ nhất của Cook đã đem về những mẫu động
thực vật quý giá, khơi dậy sự quan tâm rất lớn. Banks thôi thúc Cook tổ
chức tiếp một cuộc thám hiểm thứ hai.
Cuộc hành trình thứ nhất của Cook đã đem về những mẫu động thực
vật quý giá, khơi dậy sự quan tâm rất lớn. Banks thôi thúc Cook tổ chức tiếp
một cuộc thám hiểm thứ hai. Nhưng lần này, Banks đòi hỏi mang theo mình
một đoàn tùy tùng đông gấp đôi lần trước và muốn dùng loại tàu lớn East
Indiaman, nhưng Cook vẫn hết sức tin tưởng ở loại tàu chở than Whitby
vững chắc của mình và vì thế không thể chấp nhận đòi hỏi quá đáng của
Banks. Thế là Banks giận dỗi cùng đoàn người của mình bỏ đi đến Aixơlen.
Cook chuẩn bị hai tàu than Whitby mới đóng - tàu Resolution, trọng tải 462
tấn và tàu Adventure, trọng tải 340 tấn - cả hai trang bị vật dụng đầy đủ và
mang theo những người tài giỏi.
Kế hoạch của Cook lần này hoàn toàn nhắm vào việc giải bài toán về
Nam Đại Lục Địa. Để đạt mục tiêu này, chuyến đi phải vòng quanh toàn thể
trái đất ở vĩ độ cuối cùng của cực nam. Chuyến đi lần trước Cook đã vào
Thái Bình Dương qua con đường Mũi Ngà. Lần này, ông đề nghị thử con
đường khác, đi dọc xuống Đại Tây Dương ngang qua Mũi Hảo Vọng, rồi cố
gắng đi tới vĩ độ cực nam và tiến thẳng theo hướng đông vòng quanh các
có một bờ biển ở đây. Cook thất vọng quay lên phía bắc để ra khỏi vùng
băng rồi đi theo hướng đông. Hai tàu của ông lạc nhau vì sương mù, nhưng
đã gặp lại nhau theo kế hoạch tại Vịnh Dusky ở tây nam Tân Tây Lan để
nghỉ đông ở miền nam. Ngày 39 tháng 1, 1774, khi họ chạm tới vùng phía
nam xa nhất có thể đi được, họ bị băng cản lối và trong sương mù chỉ thấy
toàn là băng ở phía xa xa, nên họ không đi tiếp được nữa.
Mùa đông năm sau ông nghỉ ở Nam Thái Bình Dương, tại đây ông vẽ
bản đồ quần đảo Easter và Tonga và khám phá ra Tân Calêđôni trước khi đi
tiếp theo hướng đông lên những vĩ độ cao ở phía nam. Trên đường đi đến
Mũi Hảo Vọng trên Đại Tây Dương, ông khám phá ra quần đảo South
Sandwich và South Georgia. Ông trở về Anh ngày 30 tháng 7, 1775, sau ba
năm mười bảy ngày hành trình.
Cook tóm tắt những thành tựu của mình trong nhật ký:
Bây giờ tôi đã đi hết vòng Nam Đại Dương ở vĩ độ cao và đã đi khắp
nơi để có thể kết luận rằng không thể có một lục địa tại đó, trừ khi nó ở sát
Cực Nam và tàu bè không đi tới được; trong khi đi hai lần trên biển Thái
Bình Dương Nhiệt Đới, tôi không chỉ xác nhận tình hình của những khám
phá cũ, mà còn thực hiện những khám phá mới nữa và tôi nghĩ không còn có
thể làm hơn được gì ở phần này của trái đất nữa. Như thế tôi thấy mãn
nguyện là ý định hành trình của tôi đã hoàn toàn được trả lời, Nam Bán Cầu
đã được thăm dò khá đầy đủ và đã đặt dấu chẩm hết cho công việc tìm kiếm
một Nam Lục Địa, từng thu hút sự chú ý của một số lực lượng hàng hải
trong gần hai thế kỷ qua và những nhà địa lý của mọi thời đại.
Bộ Hải Quân Anh vẫn còn một nhiệm vụ nữa cho Cook để thám hiểm
những ranh giới của huyền thoại, hi vọng và địa lý. Thực sự có hay không
một Đường Biển Tây Bắc? Việc tìm kiếm con đường theo hướng bắc từ Đại
Tây Dương tới Thái Bình Dương đã kích thích nhiều nhà du hành từ sau
cuộc khám phá châu Mỹ. Những thành tích của Cook trên Thái Bình Dương
huyền bí đã gợi ý cho Hội Hoàng Gia rằng ông chính là con người thích hợp
để trả lời cho câu hỏi về phía Thái Bình Dương. Không đầy một năm sau
ngày, mà là việc lĩnh hội được sự nghịch lý, dám mạo hiểm vào thế giới xa
lạ. Các dụng cụ mới mẻ, trong đó có kính viễn vọng và kính hiển vi, sẽ cung
cấp cho người ta những chân trời mới kỳ lạ. Trong nghị trường khoa học -
những cộng đồng tri thức, không phải bằng ngôn ngữ bác học nhưng bằng
ngôn ngữ địa phương - các nhà khám phá nghiệp dư có thể thách thức những
nhà chuyên môn và những nhà chuyên môn thách thức lẫn nhau. Công
chúng trở thành một chứng nhân và người bảo trợ. Những phát minh sẽ được
giải thưởng. Chính thiên nhiên đã có một lịch sử của mình và trong quá khứ
vô tận của hành tinh này đã xuất hiện hằng hà sa số những tạo vật mà nay
không còn tồn tại nữa. Đây là những động lực mới để con người sục sạo thế
giới bầu tìm ra những loài chưa từng được biết đến và tìm ra chìa khóa để
mở những bức màn bí mật của thiên nhiên không ngừng biến dịch.