Nhà thơ Xuân Thủy với bài "Nguyên tiêu"
ND- Nhà thơ Xuân Thủy có nhiều dịp được gặp Bác. Ngoài những ý kiến chỉ
đạo của Bác cho Xuân Thủy về chính trị nhất là trong công tác ngoại giao
còn có chuyện về thơ văn.
Chuyện kể về một chuyến công tác ở rừng Việt Bắc trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp. Bác Hồ đi kiểm tra chiến dịch trên một con
thuyền. Cùng đi có nhà thơ Xuân Thủy và một số cán bộ. Công việc xong,
khi trở về trời đã khuya, trăng rằm vẫn tỏa sáng vằng vặc trên bầu trời.
Khung cảnh thiên nhiên rất nên thơ, chuyện quân đã bàn xong có thể thanh
thản ngắm cảnh đẹp trong đêm trăng. Mọi người đề nghị Bác làm thơ. Bác
không từ chối và đọc một bài tứ tuyệt chữ Hán Nguyên tiêu là đêm rằm tháng
giêng. Tháng giêng có nhiều lễ hội nhưng ngày rằm tháng giêng có ý nghĩa
quan trọng. Với làng quê đây là ngày dân làng còn đang nghỉ ngơi, ruộng
đồng đã cày cấy xong, xóm làng vào hội tôn thờ thần thánh, tổ chức các trò
vui. Riêng trăng rằm tỏa sáng trong không khí hơi se lạnh nhưng ấm áp của
ngày xuân. Bác Hồ đọc, lời thơ ngân vang:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
Mọi người thưởng thức chất nhạc của thơ nhưng không hiểu nghĩa.
Bác Hồ bảo có Xuân Thủy đây, Xuân Thủy dịch đi. Nhà thơ Xuân Thủy
vâng lời Bác đã dịch nhanh và đọc:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Bác Hồ khen Xuân Thủy dịch lưu loát nhưng thiếu của Bác một chữ Xuân.
Ðúng là ở câu thứ hai:
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên
được dịch là:
bàn bạc việc quân là câu thơ dịch hay nhưng chưa thật sát với ý trong nguyên
bản "Yên ba thâm xứ đàm quân sự". Hai chữ "Thâm xứ" chưa được diễn tả
đầy đủ. Cũng vì thế nhà nghiên cứu GS Hoàng Xuân Nhị đã nói một cách ý
nhị là câu thơ còn thiếu cảnh giác khi miêu tả việc quân giữa dòng trong
không gian thiếu kín đáo. Bản dịch thứ hai đã dịch sát hơn với nguyên bản.
Việc quân bàn giữa sương dày
Câu thơ thứ tư của bản dịch đầu gây ấn tượng đẹp về ý nghĩa và ngôn từ
ngân vang.
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. Câu thơ có mô phỏng câu thơ cuối
trong bài thơ cổ Trung Quốc.
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Bài Nguyên tiêu, nhất là hai câu kết làm chúng ta liên tưởng đến bài thơ
Phong kiều dạ bạc của Trương Kế.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)
Bài thơ của Trương Kế có những hình ảnh gợi cảm vầng trăng tà, ngọn lửa
chài, tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa Hàn Sơn. Nhưng tất cả gợi cảm
hứng buồn, cô đơn của du khách. Mượn lại một đôi hình ảnh nhưng Rằm
tháng giêng là bài thơ ra trận với cảm hứng hào hùng mà kín đáo. Vầng trăng
về khuya đẹp nhưng không buồn mà chứa chan cảm hứng trữ tình hòa hợp
giữa con người và thiên nhiên:
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Một bản dịch sát đúng nguyên bản và đẹp, đó là đóng góp nhỏ của Xuân