Tiểu luận : Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay - Pdf 17

Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
Tiểu Luận
Giải pháp đa dạng
hóa các dịch vụ ngân
hàng hiện nay

Nhóm 4 trang 1
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay

Mục Lục
Mục Lục 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 3
Khái niệm về NHTM và dịch vụ ngân hàng 3
Khái niệm về NHTM 3
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng 3
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng 4
Các loại hình dịch vụ ngân hàng truyền thống 4
Thanh toán 4
Các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại 5
Đa dạng hóa nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng – xu thế phát triển tất yếu của các NHTMViệt
Nam 7
Tác động đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của
NHTM 7
Các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng 8
Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ 8
CHƯƠNG II 10
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG HIỆN NAY 10
Thực trạng phát triển của các ngân hàng hiện nay 10
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (VIETINBANK)(NHCTVN) 11

Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty,
xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng
số vốn đó để cho vay, chiết khấu, ngoài ra NHTM còn cung cấp các phương tiện thanh
toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại ngân hàng
có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
Theo điều 10 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH10) chỉ rõ: “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan”.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là gì? Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta thường gắn nó với hai
đặc điểm:
Thứ nhất, Đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới
có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ.
 Ưu thế của NHTM được thể hiện qua các điểm sau đây:
Nhóm 4 trang 3
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
 Có hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp, không những ở trong nước mà còn ở
các nước khác.
 Có quan hệ với nhiều công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế… do đó, nắm bắt được
tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng một cách cụ thể sâu
sắc, biết được những điểm mạnh và điểm yếu của từng khách hàng.
 Có trang bị hệ thống thông tin hiện đại, đồng thời thu nhận và nắm bắt được nhiều
thông tin về tình hình kinh tế, tài chính, tình hình tiền tệ, giá cả, tỷ giá… và diễn biến của
nó trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ hai, Đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép
NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện
tốt hơn chức năng thứ nhất và thứ hai của NHTM.
Dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ thuần túy để
hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho nhà ngân
hàng, mà dịch vụ ngân hàng cũng có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM

Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các
tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận
được khoản thừa kế. Trong phòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai
trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái
phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty,
thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ
chứng khoán.
Dịch vụ kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý.
Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là
trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn
USD, lấy lại một đồng tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự
trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải
mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị
trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực
hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có
trình độ chuyên môn cao.
Dịch vụ tư vấn tài chính
Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài
chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư
vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư
nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh
của họ.
Các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại
 Khái niệm
Dịch vụ ngân hàng điện tử là những dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách
hàng dựa trên nền tảng công nghệ thộng tin hiện đại, cho phép khách hàng có thể truy
nhập từ xa vào một ngân hàng nhằm nắm bắt các thông tin có liên quan đến hoạt động
ngân hàng, thực hiện các giao dịch với khách hàng thông qua các phương tiện thông tin

Các loại thẻ hiện nay:
 Thẻ ghi có (Credit Card) hay thẻ tín dụng.
 Thẻ thanh toán (Charge Card).
 Thẻ ghi nợ (Debit Card).
 Thẻ thông minh (Smart Card).
Hệ thống thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng (EFTPOS)
EFTPOS hay còn gọi là dịch vụ chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng. Số tiền phải
trả cho hàng hóa sẽ được chuyển bằng công nghệ điện tử tại điểm bán hàng từ ngân hàng
của người mua sang ngân hàng của người bán. Điểm bán hàng có thể là tại siêu thị hay
trạm bán xăng, nơi mà khách hàng sử dụng thẻ để thanh toán cho hàng hóa. Người bán
hàng kéo trượt thẻ qua máy cà thẻ. Đây thực chất là một thiết bị đọc có thể đọc được các
thông tin được mã hóa trên dải từ nằm ở mặt sau thẻ.
Máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machines – ATM)
Đúng như tên gọi, các máy rút tiền tự động (ATM) cho phép khách hàng tự mình rút
tiền mà không cần sự trợ giúp nào của nhân viên ngân hàng. Khách hàng dùng các loại
thẻ nhựa như đã nói ở phần trên đưa vào máy ATM, các máy này sẽ nhận dạng khách
hàng thông qua mã số nhận dạng cá nhân (PIN) mà khách hàng nhập trên bàn phím của
máy. Ngoài chức năng chủ yếu là cho phép khách hàng rút tiền mặt, các máy ATM còn
cung cấp một loạt các tiện ích khác như cho phép khách hàng vấn tin tài khoản, chuyển
tiền giữa các tài khoản, yêu cầu báo cáo tài khoản chi tiết hoặc in các báo cáo tài khoản
mini…
Home banking
Với ngân hàng tại nhà (home banking), khách hàng giao dịch với ngân hàng qua
mạng nhưng là mạng nội bộ (intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được
tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng.
Thông qua dịch vụ Home banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về
chuyển tiền, liệt kê giao dịch, lãi suất, tỷ giá, báo Nợ, báo Có…Để sử dụng được dịch vụ
Home Banking khách hàng chỉ cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống
máy tính của ngân hàng thông qua modem – đường dây điện thoại, đồng thời khách hàng
phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống

cung cấp thộng tin khách hàng khi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn tại
các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung cấp dịch vụ. Cùng với mã số định danh,
khách hàng còn được cấp một mã số cá nhân (PIN) để khách hàng xác nhận giao dịch
thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán yêu cầu. Sau khi hoàn tất các thủ tục cần
thiết thì khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện để thanh toán thông qua
điện thoại di động.
Call centre
Do quan lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào
vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin
chung và thông tin cá nhân. Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập
trình sẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của
khách hàng. Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24h
Đa dạng hóa nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng – xu thế phát triển
tất yếu của các NHTMViệt Nam.
Tác động đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng trong nâng
cao hiệu quả hoạt động của NHTM.
Thứ nhất, Đa dạng hóa loại hình dịch vụ giúp ngân hàng phân tán và giảm rủi ro.
Nhóm 4 trang 7
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
Một NHTM kinh doanh đa dạng các nghiệp vụ, dịch vụ sẽ phân tán, giảm nhiều rủi ro
và nâng cao được lợi nhuận. Bởi vì, nếu theo nghiệp vụ truyền thống và cổ điển, ngân
hàng thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng; nhưng tín dụng lại chứa đựng nhiều rủi
ro và bất trắc. Vì thế, thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng khác bên
cạnh nghiệp vụ tín dụng sẽ giúp phân tán bớt rủi ro và giảm rủi ro; do đó làm tăng lợi
nhuận của ngân hàng. Ngày nay các NHTM đều cố gắng đa dạng hóa nghiệp vụ của
mình, thực hiện câu châm ngôn: “Đừng đặt tất cả trứng của bạn vào trong một cái rổ”.
Thứ hai, Đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng sẽ làm tăng lợi nhuận của NHTM.
Khi thực hiện đa dạng hóa loại hình dịch vụ NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả
cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng; do vậy, giảm chi phí quản
lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng.

Sự gia tăng cạnh tranh
Trong một môi trường mà các ngân hàng đều có thể cung cấp những sản phẩm, dịch
vụ tương tự nhau và lượng khách hàng ít thay đổi, để tăng thị phần của mình các ngân
Nhóm 4 trang 8
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
hàng luôn phải cạnh tranh nhằm đưa ra các sản phẩm, dịch vụ tốt hơn, nhiều tiện ích hơn
để thu hút khách hàng. Đặt biệt, các ngân hàng hiện nay đang có xu hướng lựa chọn phát
triển các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử do tính ưu việt vượt trội của nó so với các
loại hình dịch vụ ngân hàng truyền thống khác.
Môi trường pháp lý
Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi các chính
sách của Chính phủ. Trên cơ sở tham mưu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN),
Chính phủ đã từng bước củng cố khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán ngân hàng
nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển một nền kinh tế ổn định và vững chắc.
Ngày 15/5/2007, Thống đốc NHNN đã ký ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-
NHNN về Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động
thẻ ngân hàng thay thế Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế
phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ ngân hàng.
Ngày 24/8/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc
trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Theo đó,
kể từ ngày 01/01/2008, việc trả lương qua tài khoản được thực hiện cho công chức làm
việc tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố lớn và từ ngày
01/01/2009, thực hiện trên phạm vi cả nước. Đây là một chủ trương có ý nghĩa lớn không
chỉ về kinh tế mà cả xã hội, tạo thói quen sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt cho
người dân.
Cách mạng trong công nghệ ngân hàng
Trong vài thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học
công nghệ. Sự ra đời của mạng internet, công nghệ điện tử, công nghệ thông tin và viễn
thông, hệ thống vô tuyến truyền hình tương tác,… chính là tiền đề để hình thành và phát
triển các loại dịch vụ ngân hàng phong phú như hiện nay đặc biệt là dịch vụ ngân hàng

ngân hàng chỉ chiếm trên dưới 10%, thậm chí ở nhiều ngân hàng tỷ trọng thu dịch vụ
chưa đạt 5% tổng doanh thu. Tuy nhiên, trong một môi trường mà các ngân hàng đều có
thể cung cấp những sản phẩm tương tự nhau và số lượng khách hàng ít thay đổi, để tăng
thị phần của mình các ngân hàng luôn phải cạnh tranh nhằm đưa ra các sản phẩm, dịch vụ
tốt hơn, nhiều tiện ích hơn để thu hút khách hàng. Chính vì thế, đa dạng hóa loại hình
dich vụ ngân hàng ở Việt Nam là một nội dung cấp bách hiện nay của hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Các NHTM cũng đã nhận thấy được sự cần thiết của nó và hiện nay đã
và đang từng bước mở rộng và phát triển loại hình dịch vụ ngân hàng.
Bên cạnh một số dịch vụ truyền thống của ngân hàng thì hiện nay các ngân hàng đang
có xu hướng lựa chọn phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử do tính ưu việt
vượt trội của nó so với các loại hình dịch vụ ngân hàng truyền thống khác.
Từ năm 2002 và đặc biệt là đầu năm 2003, nhiều ngân hàng trong nước đưa vào sử
dụng các dịch vụ e-banking hiện đại như phone-banking, home-banking, internet
banking. Một dịch vụ e-banking đang được nhiều ngân hàng chú trọng đầu tư và hiện
đang cạnh tranh gay gắt là dịch vụ thẻ. Dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng được ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam – ngân hàng đầu tiên đưa thẻ vào Việt Nam hồi đầu những năm
90. Đến năm 2007, cả nước có 29 ngân hàng đã triển khai phát hành thẻ thanh toán, với
khoảng 7 triệu thẻ. Hiện nay, có 120 loại thẻ ngân hàng đã phát hành, trong đó thẻ nội địa
có 71 loại, thẻ quốc tế có 41 loại, thẻ ghi nợ có 73 loại, thẻ tín dụng có 44 loại và thẻ trả
trước có 3 loại. Các ngân hàng không ngừng đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho
công nghệ thẻ, đến nay đã có khoảng 20 ngân hàng đã trang bị máy giao dịch tự động
(ATM) với khoảng hơn 4.000 máy, thiết bị chấp nhận thẻ (POS/EDC) lên đến khoảng
hơn 22.000 chiếc và tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Thị trường dịch vụ thẻ hiện
đang chứng kiến một trào lưu ra đời của một loại thẻ mới, hiện đại - thẻ trả trước, với sự
hiện diện của đông đảo các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ. Mục tiêu phát
hành thẻ đến cuối năm 2010 đạt mức 15 triệu thẻ, 70% các trung tâm thương mại, siêu
thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tự chọn… lắp đặt các thiết bị chấp nhận thanh toán
thẻ; phấn đấu đến năm 2020 con số này đạt lần lượt là 30 triệu thẻ và 95%.
Về dịch vụ mở và thanh toán qua tài khoản cá nhân đang trong xu thế phát triển
nhanh chóng, với sự tham gia ngày một gia tăng lượng khách hàng vào thị trường chứng

thứ hai trong các NHTM Việt Nam về
doanh số tài trợ thương mại, chiếm tỉ
trọng 7,9% doanh số xuất nhập khẩu
toàn quốc, đạt hơn 7,1 tỷ tăng khoảng
35% so với năm 2006. Doanh số phát
hành bảo lãnh ra nước ngoài tăng
149%, chứng tỏ uy tín quốc tế của
NHCTVN ngày càng mở rộng. Hoạt
động thanh toán biên mậu với các ngân
hàng Trung Quốc gia tăng mạnh, tăng
58% so với năm 2006, tương đương 700
triệu RMB. NHCTVN là ngân hàng
Việt Nam đầu tiên ứng dụng internet
banking vào thanh toán biên mậu.
Trong năm 2007 NHCTVN đã chuẩn bị
điều kiện tiền đề về công nghệ, nhân lực
để thành lập Sở Giao dịch 3 với mục tiêu
thực hiện xử lý tập trung toàn bộ các
giao dịch tài trợ thương mại của toàn hệ
thống NHCTVN.
 Dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử
Doanh số phát hành thẻ của NHCTVN tiếp tục tăng mạnh. Tính đến cuối năm tổng số
thẻ phát hành là 1,2 triệu thẻ ATM và 5 ngàn thẻ tín dụng. Một số tiện ích mới được cung
Nhóm 4 trang 11
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
cấp cho khách hàng như gửi tiết kiệm qua thẻ, nạp tiền điện thoại di động VNPay, thanh
toán cước S-phone, cước sử dụng điện cho Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN), vé
tàu hỏa cho Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR). Hiện nay, qua hệ thống Banknet,
thẻ ATM của NHCTVN đã có thể giao dịch trên máy ATM của nhiều ngân hàng khác
như ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Sài Gòn Công thương,

Chỉ
tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh 08/07
So sánh
09/08
Số
tiền
Tỷ
lệ %
Số
tiền
Tỷ
lệ %
Thu
nhập
118,8
28
192,0
82
183,3
29
73,2
54
61.

Nhóm 4 trang 12
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
Chi phí
87,85
1
166,0
42
162,3
35
78,1
91
89
-
3,707
-
2.23
Lợi
nhuận
30,97
7
26,04
0
20,99
4
-
4,937
-
15.9
-
5,046

Số lượng khách
hàng
86 109 23
26.7
4%
Số lượng giao dịch 1,106 1,872 766
69.2
6%
SMS BANKING
Doanh số (triệu
đồng)
102.12 145.54 43.42
42.5
2%
Số lượng khách
hàng
2,869 4,462 183
55.5
2%
Số lượng giao dịch
236,19
8
435,79
8
199,600
84.5
1%
Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp – khách hàng cá nhân Vietinbank AG

Qua số liệu thống kê cho thấy lượng khách hàng quan tâm đến dịch vụ Vietinbank at

Tỷ lệ
INTERNET BANKING
Nhóm 4 trang 14
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
Doanh số (triệu đồng) 26 37
42.1
8
52.6
9
26.69
102.6
5%
Số lượng khách hàng 45 64 89 108 63 140%
Số lượng giao dịch 254 361 502 610 356 142%
Nguồn: Phòng kế toán Vietinbank AG năm 2007 –
2009
Internet-banking là dịch vụ được triển khai tại Vietinbank AG vào năm 2009, nhưng
rất được sự quan tâm của khách hàng thể hiện qua số lượng khách hàng đăng ký sử sụng
dịch vụ tăng liên tục qua các quý. Quý 1 là 45 khách hàng nhưng đến hết quý 4, theo số
liệu thống kê là 108 khách hàng tăng 140%. Tương ứng với số lượng khách hàng thì số
lượng giao dịch cũng tăng nhanh đáng kể tỷ lệ tăng ở quý 4 so với quý 1 là 142%
Với sự quan tâm, ưa chuộng dịch vụ của khách hàng như thế đã đẩy doanh số của
dịch vụ này từ 26 triệu đồng ở quý 1 lên đến 52.69 triệu (quý 4) với tốc độ tăng trưởng
đạt 102.65%.
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VIETCOMBANK)
Hoạt động kinh doanh năm 2008
 Hoạt động thanh toán
- Thanh toán xuất nhập khẩu (XNK)
Tình hình XNK cả nước trong năm 2008 có nhiều diễn biến phức tạp do sự biến động
mạnh về giá cả của các mặt hàng XNK chủ yếu như dầu thô, sắt thép, lương thực… cũng

ban hành Bộ tiêu chuẩn chất lượng phục vụ khách hàng đối với thanh toán viên, giao dịch
viên và các điểm giao dịch; chính sách Phí cho khách hàng thể nhân; Hệ thống chỉ tiêu
đánh giá hoạt động bán lẻ… Nhiều sản phẩm mới được triển khai trong các lĩnh vực: tín
dụng, bảo lãnh, huy động vốn, ngân hàng điện tử…
Các Dịch vụ điện tử được quan tâm và đẩy mạnh như Internet Banking, SMS
Banking, dịch vụ nhận tin nhắn chủ động, dịch vụ VCB-Securities-Online, dịch vụ thanh
toán VCB Direct Billing, dịch vụ TOPUP cho điện thoại trả trước v.v…
Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam (EXIMBANK)
Hoạt động kinh doanh năm 2008
 Kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiếp tục phát huy thế mạnh của Eximbank. Năm 2008,
doanh số mua bán ngoại tệ đạt 10,1 tỷ USD, tăng 20% (tương đương 1,7 tỷ USD) so với
năm 2007. Kết quả thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong năm đạt 470 tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 9,3% trong tổng thu nhập.
 Kinh doanh vàng
Doanh số mua bán vàng đạt 3,2 triệu lượng, tăng 44% (tương đương 0,98 triệu lượng)
so với năm 2007. Kết quả thu nhập từ hoạt động kinh doanh vàng đạt 164 tỷ đồng, chiếm
tỷ trọng 3,3% trong tổng thu nhập.
Tháng 9/2008, Eximbank cũng đã đưa sàn giao dịch vàng vào hoạt động, từng bước
đã ổn định và đang phát huy hiệu quả.
 Thanh toán quốc tế
Doanh số thanh toán quốc tế đạt 3,9 tỷ USD tăng 32% (tương đương 1 tỷ USD) so
với năm 2007. Trong đó, doanh số thanh toán nhập khẩu đạt 2,1 tỷ USD, tăng 23%
(tương đương 0,4 tỷ USD) so với năm 2007. Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu đạt 0,8
tỷ USD, tăng 77% (tương đương 0,4 tỷ USD) so với năm 2007. Doanh số thanh toán phi
mậu dịch đạt 1 tỷ USD, tăng 27% (tương đương 0,2 tỷ USD) so năm trước.
 Thẻ
Đến 31/12/08, tổng số máy ATM của Eximbank là 74 máy, số lượng máy POS là
1.618 máy, số đơn vị chấp nhận thẻ là 1.091 đơn vị.
Trong năm 2008, Eximbank đã phát hành thêm 66.720 thẻ, nâng số thẻ Eximbank

có đủ bộ máy, cán bộ vận hành giỏi ở mỗi loại nghiệp vụ, vì không thể có các bộ trình độ
đa năng nghiệp vụ được; đồng thời người lãnh đạo cũng phải am hiểu hết sức sâu sắc về
kinh doanh và chỉ đạo điều hành đồng bộ hợp lý. Đây là một yêu cầu hết sức khó khăn,
đặt biệt với các NHTMở Việt Nam. Hơn nữa không phải ngân hàng nào cũng có điều
kiện về vốn đủ lớn để thực hiện đa dạng hóa loại hình dịch vụ. Nếu quản lý điều hành
không tốt thì chi phí cho việc đa dạng hóa có khi còn cao hơn so với hậu quả rủi ro xảy
ra.
Biện pháp đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng
Hiện nay , quy mô của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam còn nhỏ bé, theo báo
cáo của một số tổ chức nghiên cứu, đến nay mới chỉ có 17% dân số Việt Nam có tài
khoản tại ngân hàng. Nhưng được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, Việt Nam có rất
nhiều điều kiện để phát triển dịch vụ ngân hàng. Với tình hình chính trị xã hội ổn định,
kinh tế tăng trưởng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, dân số đông (theo kết quả
thống kê 01/4/2009 là 85,8 triệu người với 2/3 số dân trong độ tuổi lao động), thu nhập
của người dân ngày càng tăng (GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 1.024 USD, tăng
gấp 3 lần trong vòng 10 năm), xu hướng sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng nhiều, tốc
độ phát triển dịch vụ ngân hàng đạt trên 30%/năm trong vòng 3 năm qua…
Nhóm 4 trang 17
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
Để có thể phát huy được các tiềm năng trên cần có các giải pháp cơ bản nhằm từng
bước đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng.
Thứ nhất, xây dựng một ngân hàng đủ mạnh cả về vốn và nhân lực.
Theo đó các ngân hàng phải tăng cường năng lực về vốn; tiếp tục cơ cấu lại để có các
NHTM lớn hơn, bằng việc cơ cấu lại tài chính với các biện pháp: tăng vốn tự có đối với
các NHTM cổ phần, phải thực hiện các biện pháp tăng vốn điều lệ để trước hết đảm bảo
đủ mức vốn tối thiểu theo quy định, sau đó có thể đảm bảo các điều kiện an toàn vốn tối
thiểu để mở mang hoạt động.
Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao thông qua công tác đào tạo
đội ngũ cán bộ. Đây là một trong những giải pháp nhằm khôi phục lòng tin cho khách
hàng. Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng bao gồm nâng cao trình

hơn trong mắt của người tiêu dùng mà còn góp phần hỗ trợ tích cực cho các hoạt động
của các dịch vụ khác phát triển.
Thứ năm, Củng cố hạ tầng kỹ thuật và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng hiện đại được phát triển dựa trên cơ sở những tiến bộ về công
nghệ thông tin. Hệ thống hạ tầng công nghệ là yếu tố nền tảng cho việc triển khai các sản
Nhóm 4 trang 18
Giải pháp đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện nay
phẩm dịch vụ mới, phát triển hệ thống chi nhánh cũng như ứng dụng công nghệ ngân
hàng hiện đại. Theo đó, tăng cường ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến phù hợp với
trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế,
phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến và từng bước triển khai rộng mô hình giao dịch
một cửa.
Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các nghiệp vụ ngân hàng, đảm bảo hòa nhập với các
ngân hàng quốc tế trong mọi lĩnh vực. Tăng cường kỹ thuật xử lý tự động các quy trình
tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định thông tin, xử lý nghiệp vụ, nâng cao chất lượng
dịch vụ, giảm thiểu các giải pháp quản lý hành chính, đảm bảo tính an toàn và bảo mật
trong kinh doanh.
Các NHTM cần chú trọng phát triển mạng lưới các chi nhánh cấp I và cấp II, mở
thêm các phòng giao dịch vệ tinh với mô hình gọn nhẹ nhằm tăng nhanh nguồn vốn, đáp
ứng nhanh chóng và hiệu quả nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân. Tăng
cường liên kết giữa các NHTM để mở rộng khả năng sử dụng thẻ và phát huy tính năng
tác dụng của thẻ ATM, tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho khách hàng.
Nói tóm lại, đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng cần phải có những giải pháp cụ
thể; tuy nhiên chúng ta không thể tách rời các giải pháp mà cần phải kết hợp chúng để
đem lại hiệu quả tối ưu.
KẾT LUẬN
Hệ thống ngân hàng đang ngày càng mở rộng, chi phối mọi hoạt động kinh tế của một
quốc gia. Ngày nay, để biết một quốc gia có phát triển hay không, chỉ cần nhìn vào mức
độ hiện đại của ngành công nghiệp ngân hàng nước đó. Tuy nhiên, giữa các ngân hàng
luôn có sự canh trạnh khốc liệt, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải không ngừng vươn lên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status