Những nét độc đáo trong Thuốc của Lỗ Tấn - Pdf 17

Những nét độc đáo trong "Thuốc" của Lỗ Tấn
Lê Nguyên Cẩn

Trong di sản văn học của Lỗ Tấn, Thuốc là truyện ngắn đặc biệt và luôn giữ một vị trí
quan trọng, độc đáo trong cách thức kết cấu, tổ chức không gian, bố trí nhân vật và tái hiện nhân
vật.
Với kết cấu bốn phần, mạch lạc tạo ra cảm giác kết cấu khai - thừa - luận - kết hay khai -
thừa - chuyển - hợp tương tự như kết cấu của một bài thơ cổ điển, được đánh số thứ tự từ I đến
IV, câu chuyện mang tiêu đề vừa thực vừa biểu trưng – Thuốc - được chia thành hai không gian
rất đặc trưng gắn với nhan đề tác phẩm: không gian quán trà nhà lão Hoa với ba phần và không
gian nghĩa địa với phần còn lại mà độ dài không kém ba phần kia là bao.
Phần khai truyện, tương ứng với phần khai đề của một bài thơ cổ điển, được mở ra từ
không gian thứ nhất bằng một buổi sáng sớm, chưa sáng hẳn song cũng đã chuyển sang một
ngày mới với nội dung chính là mua thuốc. Đó là “một đêm thu gần về sáng, trăng lặn rồi,
nhưng mặt trời chưa mọc”. Bóng tối bao trùm lên không gian ấy, trời không trăng cũng chẳng
có sao nên “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ say cả”. Để xua đi cái bóng tối ấy, lão
Hoa, chủ nhân của ngôi nhà vừa để ở vừa để bán hàng, đã “đánh diêm, thắp cái đèn nhầy nhụa
những dầu là dầu” để tạo ra một thứ ánh sáng “trắng xanh sáng khắp hai gian quán trà”. Ánh
sáng ấy không làm cho ngôi nhà ấm lên, hay sáng thêm mà chỉ làm cho nó chìm ngập sâu hơn
vào bóng tối đang phủ dày xung quanh, khiến sự trầm lắng có chiều sâu và hoàn cảnh buồn bã
thê thảm hơn. Ánh sáng ấy cũng mang tính chất khác thường. Đã thế sau khi thắp ngọn đèn
lồng, lão Hoa lại “tắt ngọn đèn con”, tắt luôn thứ “ánh sáng trắng xanh” đầy vẻ ma quái, hăm
dọa ấy. Cảm giác về bóng tối bao trùm lại hiện ra khi lão bước ra “ngoài đường, trời tối om và
hết sức vắng”. Trong bóng tối ấy, lão đi vừa với tràn trề hi vọng, vừa nơm nớp lo cho gói bạc
cồm cộm trong túi. Lão đi đến nơi sẽ có phương thuốc diệu kì chữa bệnh cho con lão, phương
thuốc được truyền khẩu trong dân gian song không phải ai cũng biết, kể cả lão Hoa.
Sự dịch chuyển thời gian được đánh dấu bằng: “Trời cũng sáng dần và đường cũng càng
lâu càng rõ” và lão cũng đến được nơi lão cần đến: một ngã ba đường nơi có “một cửa hiệu
còn đóng kín mít”. Tại đó, như một người lạc đường vào một xứ sở mới, lão “ngước đầu nhìn
xung quanh” và “thấy bao nhiêu người kì dị hết sức, cứ hai ba người một, đi đi lại lại như
những bóng ma. Nhưng nhìn kĩ thì lại chẳng lấy gì làm quái lạ nữa”. Đúng là lão đang rơi vào

chờ của bà Hoa. Một nhân vật khác được miêu tả qua bộ “áo quần đen ngòm”, song có khác
hơn một chút là hắn có cặp “mắt sắc như hai lưỡi dao” với cử chỉ và cách nói dứt khoát: “Này!
Tiền trao cháo múc, đưa đây!”. Nhân vật này hiện ra với cách thức của một kẻ đao phủ chuyên
nghiệp, lọc lõi chuyên buôn máu người chết. Hắn cũng chẳng nói nhiều và cũng biết chẳng cần
nói nhiều nhưng đã nói thì lời của hắn phải là mệnh lệnh.
Số nhân vật khác hiện dưới dạng các đám đông “tụm năm tụm ba” mà không thể biết số
lượng là bao. Ngoài ra, còn “mấy người lính” được phân biệt không phải qua tên người hay
khuôn mặt mà qua dấu hiệu quần áo có đính “miếng vải tròn màu trắng ở vạt áo trước và vạt
áo sau”. Đây là loại nhân vật được định danh bằng kí hiệu qui ước, song cũng thuộc loại nhân
vật đám đông. Tất cả họp thành một cái chợ đặc biệt. Kẻ bán, bán loại thuốc “đặc biệt”, còn
người mua tuy ngại ngùng song không thể không mua. Cái vô giá của mặt hàng ấy không phải
ở chất liệu bánh mì làm nên chiếc bánh bao mà ở chỗ nó được tẩm máu phạm nhân chết chém.
Người phải chết đã chết rồi nhưng phần cơ thể của họ, hiện hình qua những giọt máu đỏ tươi
còn rỏ dài theo bước chân của kẻ bán, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu, đầy nước mắt. Số
lượng người đến mua không đếm được song không phải là ít ỏi dưới mức bình thường, càng
cho thấy rõ hơn nỗi đau của đám dân chúng cuồng tín mê muội mà tác giả ngầm gửi gắm trong
câu chuyện.
Con đường mà lão Hoa đi bắt đầu từ nhà lão và kết thúc tại ngã ba đường, nơi có “ngôi nhà
còn đóng cửa kín mít” mà lão đã đứng chờ để mua phương thuốc thần diệu, nơi những người
“tụm năm tụm ba lúc nãy” “dồn lại một chỗ”, “xô nhào tới như nước thủy triều”, “quây lại
thành một nửa vòng tròn”. Con đường đưa lão trở về hiển nhiên cũng chính là con đường ấy,
song điều khác biệt là đám người “tụm năm tụm ba” kia, đám người “quây thành nửa vòng tròn”
kia đã biến mất từ lúc nào và thay vào đó chỉ là tấm bia có “cái biển mục nát”, bốn chữ chỉ còn
ba. Sức gợi của mạch văn ở đây là rất lớn mà nếu chỉ đọc bàng bạc lướt qua thì chắc hẳn sẽ bỏ rơi
những giá trị nhận thức cần thiết không chỉ để hiểu câu chuyện mà còn để hiểu thời đại mà câu
chuyện đề cập tới nữa. Đám người biến mất tăm mất dạng ở ngã ba đường, lão Hoa cũng chỉ đến
ngã ba đường rồi quay lại. Ngã ba đường nơi người ta bán bánh bao tẩm máu người, nơi người ta
tận dụng cái chết để tạo thành thuốc “đặc biệt”, nơi nuôi dưỡng niềm tin mù quáng và cuồng tín.
Ngã ba đường là nơi người ta phải chọn lựa, song sự chọn lựa của lão Hoa chỉ là quay về nhà với
niềm tin vào chiếc bánh tẩm máu người mang sức mạnh thần bí. Ngã ba đường này vừa thực lại

nhân vật nhận biết nhưng cả cha mẹ lẫn đứa con đều không nói cho nhau nửa lời về chuyện đó.
Cái “lạ” dường như chứa đựng một điều gì đó bí ẩn, khác thường, mà tuy nhận ra cái khác
thường ấy, khác thường bởi đó là chiếc bánh bao tẩm máu người, song cả lão Hoa lẫn bà Hoa
đều có cảm giác như là vật thiêng cứu mạng. Cách trả lời duy nhất của thằng Thuyên là “ho”, là
những “cơn ho”. Cho nên khi thấy đứa con ăn có vẻ ngon lành thì hai ông bà cứ “trố mắt lên”
như thể đang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác hoặc giả cũng có thể quá đỗi lo sợ vì
đứa con đang ăn nhanh để mà chết chứ không phải để kéo dài cuộc sống thì cả hai đều không
thể nói ra lời nên đành phải “trố mắt” mà nhìn vậy. Hình ảnh “lão Hoa đứng một bên, bà Hoa
đứng một bên”, còn ở giữa là đứa con tạo ra cảm giác như thể hai người đó đang đứng hai bên
chiếc quan tài trong một đám tang. Cảnh tượng đó thật hãi hùng song có tính biểu tượng rất lớn
và kèm theo đó là nỗi đau tuyệt vọng, vừa của người đang sống mòn mỏi vô vọng lẫn của cả
người đang chết dần một cách tuyệt vọng. Tác giả khi miêu tả hai ông bà này cũng chỉ đặc tả
trạng thái bất bình thường của họ qua đôi mắt mà cụm từ được sử dụng nhiều nhất là “trố mắt
lên”, còn khi phải hành động thì luôn “run run”. Bà Hoa “run run” sợ chồng không mua được
thuốc, lão Hoa “run run” khi đón nhận chiếc bánh bao tẩm máu người từ tên đao phủ. Hoàn
cảnh mà cả hai bị đặt vào thật hết sức thương tâm.
Nhân vật thứ tư xuất hiện trong phần này là nhân vật có tên: “cậu Năm Gù”- cái tên này
trước hết là một số thứ tự tạo ra ấn tượng về kiểu nhân vật vô danh, kiểu nhân vật mang kí hiệu
qui ước, kèm theo đặc điểm nhân dạng qua biểu hiện tật nguyền của con người đó: nhân vật bị
“gù”. Xét về bản chất, đây là loại nhân vật vô công rồi nghề, thể hiện ở chỗ: “cậu ta ngày nào
cũng lê la ở cái quán này, thường đến sớm nhất mà cũng về muộn hơn ai hết”. Cái mà cậu ta cảm
nhận được là mùi vị bốc ra từ gian bếp. Cái mùi đối với vợ chồng lão Hoa là “quái lạ” thì lại được
nhân vật cảm nhận thành mùi cơm rang: “Thơm ghê nhỉ !”. Sự tật nguyền của cơ thể chưa đủ, tác
giả cho nhân vật này tật nguyền luôn cả khứu giác. Con người này, bao giờ cũng đến sớm nhất và
ra về muộn nhất, tại nơi mà một con bệnh đang hấp hối khiến cho không gian ngôi nhà - quán trà
trở thành không gian đầy tử khí, nơi đó sự sống đang dần bị mất đi, cái chết đang lấn tới, bởi cái
chết không chỉ hiện diện trong ngôi nhà - quán trà đó mà còn cả cái chết được mua, mang từ
ngoài về. Nhưng những con người đó không chỉ chết dần về mặt thể xác mà điều quan trọng hơn
là họ đang chết cả về tâm hồn lẫn trí tuệ.
Không gian ngôi nhà - quán trà ấy tiếp tục được mở ra trong phần III - phần luận đề hay

không, lại còn đưa ra câu bình tán có vẻ thức thời nhưng lại không đúng đối tượng: “đánh cái
đồ ấy, thương hại cái gì?” cho dù có biết “người bị chém hôm nay là người họ Hạ”. Đây là
kiểu nhân vật u u mê mê, muốn hiểu không được hiểu, muốn biết không được biết, kiểu người
tự mình mò mẫm tìm đường đi. Bởi thế dù nhân vật có đi tới khẳng định: “Lão Nghĩa mà đáng
thương hại à?” thì vế tiếp theo của lời phát ngôn ấy: “Điên! Hắn điên thật rồi!” lại càng nhấn
mạnh thêm tính chất thức tỉnh qua việc “vỡ nhẽ” của con người này.
Cho dù được gọi kèm theo đại từ “bác” qua cửa miệng của bà Hoa song Cả Khang là kiểu
người cơ hội, vụ lợi, chuyên rình mò kiếm chác từ cái chết của người khác, coi thường mạng
sống của người khác: “Cái thằng nhãi con ấy không muốn sống nữa, thế thôi. Lần này tớ
chẳng nước mẹ gì. Đến cái áo nó cởi ra , cũng lão Nghĩa, cái lão đề lao, mắt đỏ như mắt cá
chép ấy, lấy mất”. Cái chết của Hạ Du dưới con mắt của lão Cả Khang thì đấy là một dịp may
hiếm có mà “may nhất có thể nói là ông Hoa nhà này, thứ đến cụ Ba. Cụ ta được thưởng hai
mươi lạng bạc trắng xóa, một mình bỏ túi tất, chẳng mất cho ai một đồng kẽm!”. Ba lần Cả
Khang nhấn mạnh với ông Hoa và với những người đang có mặt ở đấy: “may phúc cho nhà
ông”, “phúc nhà ông”, “thằng Thuyên nhà ông may phúc thật” mà tất cả đều dồn tụ vào chỗ
“đấy là nhờ tôi biết tin sớm”. Quả là một tay săn lùng xác chết để kiếm lời điển hình của xã hội
u mê và phần thưởng mà hắn được hai ông bà chủ quán ngoài sự “cảm ơn hết lời” của bà Hoa,
thì bà còn bỏ thêm vào chén trà của hắn “một quả trám” như là một cách báo đáp ơn nghĩa theo
cách của những người nghèo khổ.
Hắn tán thưởng cách kiếm tiền nhanh chóng của cụ Ba: “Cụ Ba đến là khôn! Giá cụ ta
không đem thằng cháu ra thú thì cả nhà mất đầu hết. Nay thì được bao nhiêu là bạc!”. Trong
cách tán thưởng ấy còn thấy rõ sự tiếc rẻ của hắn vì hắn chẳng có một cơ hội nào tương tự. Hắn
gọi Hạ Du bằng những từ ngữ ngạo mạn, khinh rẻ: “thằng quỉ sứ”, “thằng nhãi con”, là
“giặc”, coi những người dưới tuổi hắn “chẳng ra cái thá gì hết”. Một mình Cả Khang “nói
oang oang” độc chiếm diễn đàn của cử tọa nơi quán trà ấy. Hắn vừa là người phân giải, vừa là
kẻ phán quyết phải trái theo cách của hắn hiểu và suy nghĩ hành động theo đúng cách nghĩ, cách
hiểu ấy, nghĩa là phải đem những người có quan điểm: “thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của
chúng ta”, những người bênh vực cho lẽ phải, nộp cho chính quyền để lấy về, để được thưởng,
chí ít là “hai mươi lạng bạc trắng xóa”. Hắn thu lời bằng cách bán cả lương tâm và tình nghĩa
và chính là hậu duệ đích thực của cụ Ba mà hắn thường nhắc đi nhắc lại với một vẻ vừa đề cao

con người mà máu của người đó được biến thành thứ thuốc “đặc biệt” chữa bệnh lao trong
xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Họ đã nghĩ tới cái “đặc biệt” nhưng bất thường của loại thuốc
đó. Và tuy không ai nói ra hay bàn tới công dụng của thứ thuốc mà Cả Khang mách bảo cho
ông bà Hoa song họ đều tỏ ra nghi ngờ công dụng của nó và cũng thể hiện sự xót xa về cái
chết của Hạ Du. Ánh sáng lương tri đã được thắp lại và cho dù không gian ngôi nhà - quán trà
không sáng thêm nhưng nhiều con người có mặt ở đó đã bắt đầu sáng tâm sáng dạ. Công
dụng của thứ thuốc “đặc biệt” và cái chết của Hạ Du được nối với nhau liền mạch và tạo ra
một sự chuyển hóa mới về tâm tư, về nhận thức. Câu chuyện được trao đổi ở phần III này do
đó, đóng vai trò phần luận đề, bàn bạc, mở rộng các ý nghĩa khác nhau, tạo ra sự chuyển hóa
trong tiếp nhận như trong kết cấu của một bài thơ cổ điển.
Vợ chồng lão Hoa, và thằng Thuyên, đứa con bệnh tật, niềm mong mỏi cuối cùng của gia
đình “mười đời độc đinh”, đóng vai trò làm nền cho câu chuyện diễn ra trong ngôi nhà - quán
trà của họ. Đây là các nhân vật tĩnh, nếu không nói là bất động trong bức tranh ấy, cho dù họ
có “đi đi lại lại”, “xách chiếc ấm đồng lớn” để “pha trà”. Âm thanh phát ra từ họ là tiếng ho
của thằng Thuyên. Ho, được hiểu, ngoài việc là biểu hiện của trạng thái bệnh tật, còn là một
kiểu phát ngôn không thành lời, thành câu thành chữ song có âm thanh mà ta có thể liên hệ với
tiếng ho của bà Elmire trong vở kịch Tartuffe của Molière, nhưng lại có sức mạnh đặc biệt, một
mặt vừa mỉa mai những lời “cam đoan nhất định khỏi” của lão Cả Khang, mặt khác vừa phủ
nhận công năng của loại thuốc “đặc biệt” đó. Tiếng ho của thằng Thuyên và giọng nói “oang
oang” của Cả Khang cứ đan xen lẫn nhau, tạo thành một hòa âm đau đớn, vang lên từ không
gian ngột ngạt đầy tử khí đó. Câu chuyện chỉ diễn ra trong chưa đầy một ngày, bắt đầu từ thời
điểm tờ mờ sáng và kết thúc sau đó vài giờ, song lại hàm chứa những tầng ý nghĩa sâu xa, buộc
người đọc phải nghiền ngẫm nghĩ suy về thuốc ở đây là gì? Có phải chỉ là thuốc chữa bệnh thể
xác đơn thuần hay là thuốc cần để chữa trị căn bệnh tinh thần, chữa trị vấn đề nhận thức mà
không chỉ có những người có “râu hoa râm” cậu Năm Gù hay anh chàng “trạc hai mươi tuổi”
kể cả Hạ Du nữa cũng đang cần đến ?
Phần IV đóng vai trò phần kết hay phần hợp của câu chuyện và được thay bằng một
không gian khác: không gian nghĩa địa. Nhân vật chính của bức tranh này là hai bà mẹ. Họ đều
có điểm chung là có con bị chết trẻ, họ cùng đến nghĩa địa để viếng con. Những người con của
họ đều được chôn tại “miếng đất dọc chân thành phía Tây vốn là đất công”. Điều khác biệt là

con mình và những nấm mộ khác xung quanh, chỉ thấy vài nụ hoa không sợ lạnh, bé tí, trắng
trắng, xanh xanh”. Sự so sánh đó đã khiến bà ngạc nhiên và sự ngạc nhiên đó lại càng được
tăng lên qua phát ngôn của bà Hạ: “Hoa không có gốc, không phải dưới đất mọc lên! Ai đã đến
đây? Trẻ con không thể đến chơi. Bà con họ hàng nhất định là không ai đến rồi! Thế này là
thế nào? Rõ ràng vòng hoa ấy không phải ngẫu nhiên mà là vòng hoa có chủ và được đặt vào
mộ Hạ Du một cách có chủ ý. Song ai là chủ nhân của vòng hoa ấy thì cả hai bà đều không biết
được và bà Hạ chỉ luôn nghĩ đến nỗi oan khuất của con mình. Nỗi oan mà chính bà con họ hàng
của bà đã gây ra và càng không ai dám đến đó nữa để khỏi phải liên lụy. Bà cũng chưa nghĩ
được xa hơn đến những đồng đội, đồng chí của Hạ Du, tới những người cùng chí hướng với Hạ
Du. “Hoa không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn tròn, không lấy gì làm đẹp, nhưng cũng chỉnh
tề”, trở thành biểu tượng của sự thống nhất ý chí, của sự đoàn kết, của một niềm tin mới được
khơi dậy. Khác với đám người “tụm năm tụm ba” tại ngã ba đường trên kia mà cũng chỉ xếp
được nửa vòng tròn thì ở đây vòng tròn đã rõ nét, đã liền khối, và cho dù chưa tròn lắm song
cũng đã định hình. Tất cả khơi gợi trong tâm trí bà Hạ một điều gì đó, một cảm thức nào đó khó
tả. Câu hỏi: “Thế là thế nào nhỉ?” cứ trăn đi trở lại trong lòng bà Hạ, song nó đã có định hướng
bằng một hình tượng đầy biểu trưng khác, đó là hình ảnh con quạ. Có thể bà Hoa cũng không
biết tên bà Hạ cũng như bà Hạ không biết tên bà Hoa. Sự gặp gỡ của họ chỉ là ngẫu nhiên vì tiết
thanh minh, theo truyền thống văn hóa Trung Hoa, ai cũng đi tảo mộ, thăm mộ. Nhưng tác giả
đã cố ý xếp đặt để cho họ gặp nhau vào thời điểm hợp lí đó và vào tiết thanh minh mùa xuân,
cho dù lúc ấy “trời vừa rạng” thì hơi ấm tình người của họ kết hợp với vòng hoa bất ngờ trên
mộ Hạ Du cũng sưởi ấm cho họ, khơi dậy cho họ một niềm tin vào một cái gì đó mới mẻ mà
họ cũng chưa biết được. Không gian ở đây cũng rộng lớn hơn và tuy vẫn phảng phất màu sắc
ảm đạm vì là nghĩa trang nhưng điều khác biệt là không gian này đã có thêm chiều cao vươn
tới, nó không còn bị giới hạn và ngột ngạt như không gian ngôi nhà - quán trọ. Tính chất ảm
đạm, thê lương của không gian nghĩa trang cũng được giảm bớt khi sự sống mới bắt đầu trở lại,
khi con người đã nhận ra được con đường tất yếu mà họ phải đi, khi tình người được nối lại, khi
khối đoàn kết dân tộc thống nhất được tạo ra.
Con quạ là một hình ảnh đặc biệt và có ý nghĩa biểu trưng trong phần kết truyện. Khi đang
cố nhìn ngó xung quanh để xem ai đã đến đặt vòng hoa lên mộ con bà thì bà Hạ chỉ nhìn thấy
“một con quạ đen đậu trên cành khô trụi lá”. Tiếng khóc của bà Hạ cất lên sau đó là lời kết án,

Ranh giới ấy đã bị xóa nhòa. Vòng hoa trên mộ Hạ Du trở thành vòng hoa biểu trưng cho sự
chiến thắng, của tình người vốn bị cuồng tín, mê muội chia cắt nay đã lại nối liền thành một
khối thống nhất. Một sức mạnh mới đã hình thành. Phần IV mang lại cho độc giả những kết
luận quan trọng mà tác giả gửi gắm và gợi mở một tương lai, thắp sáng và thức tỉnh mọi người,
bằng sự hợp nhất những con người vốn bị chia rẽ.
Câu chuyện nhẹ nhàng, không có xung đột gay cấn, song với cách thức tổ chức theo hệ
thống khai - thừa - luận – kết, khai – thừa – chuyển - hợp, đã tạo thành một cốt truyện hoàn
chỉnh, chặt chẽ, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, vừa đẹp về mặt kết cấu, tổ chức nghệ thuật, vừa
chuyển tải được một nội dung mang tính cách mạng cao. Câu chuyện được tái hiện trong hai
không gian khác nhau, mỗi không gian đều có những nét riêng, độc đáo, đều nhằm nhấn mạnh
một khía cạnh riêng của chủ đề. Câu chuyện diễn ra trong hai không gian đều có khung thời
gian được kể là một buổi sáng, tạo ra một kiểu trùng lặp nhằm nhấn mạnh sự thay đổi về nhận
thức của con người. Điều khác biệt là buổi sáng của không gian thứ nhất thuộc về mùa thu, mùa
của sự tàn tạ, héo hon, của sự buồn bã chia li, còn buổi sáng của không gian thứ hai gắn với
mùa xuân, mùa của sự sống trỗi dậy, mùa của sự sinh sôi nảy nở, cho dù trong không gian thứ
hai có hình ảnh cành cây khô trụi lá, nhưng “những cây dương liễu” đã “đâm ra được những
mầm non bằng nửa hạt gạo”. Sự chuyển đổi các không gian theo mùa, do đó, cũng tạo ra ý
tưởng về sự phát triển đi lên, tạo ra niềm tin và khơi dậy niềm lạc quan tin tưởng, tạo ra ấn
tượng về sự thay đổi cuộc đời mang tính chất chu kì “bĩ cực thái lai” của truyền thống tâm thức
Trung Hoa. Vì thế Thuốc vẫn luôn là một trong những sáng tạo nghệ thuật tài ba của nhà văn
Lỗ Tấn. Thứ thuốc mà quần chúng nghèo khổ Trung Hoa cần có đã được chỉ ra. Đấy cũng là
thứ thuốc mà độc giả thu nhận được qua thông điệp nghệ thuật của nhà văn
____________
(1) Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Nxb. Đà Nẵng - Trường Viết văn Nguyễn Du, 1997,
tr.750.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status