Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà kinh tế - Pdf 17

Lời mở đầu

Tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp kinh tế nói riêng là điềukhó tránh
khỏi trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi đất nớc.Khi có tranh chấp kinh tế xảy
ra, có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên nào đó bị vi phạm. Khi lợi ích bị vi
phạm thì các bên đều muốn nhanh chóng giải quyết , vừa để bảo vệ quyền lợi kinh
tế của mình vừa để nhanh chóng duy trì ổn định, tiếp tục phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh. Phơng thức thông dụng nhất đểgiải quyết các tranh chấp này là
các bên tự thoả thuận thơng lợng với nhau. Tuy nhiên có những tranh chấp kinh tế
mà các bên không tự hoà giải đợc, khi đó họ phải nhờ đến sự can thiệp của Nhà n-
ớc hay một cơ quan tổ chức nào đó. ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế là các Trung tâm Trọng tài vàToà án các
cấp ( cụ thể là các Toà án nhân dân cấp huyện và các Toà kinh tế ở các Toà án
nhân dân tỉnh , Toà án nhân dân tối cao ).
Việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án là một vấn đề khá mới mẻ nớc ta
bởi Toà kinh tế mới đợc thành lập theo Luật sửađổi bổ sung một số điều của Luật
tổ chức Toà án nhân dân ngày 28.12.1993. Bên cạnh những kết quả đạt đợc hoạt
động của Toà kinh tế đâng gặp phải những khó khăn và tồn tại đáng kể.Thực tiễn
hoạt động của Toà kinh tế trong những năm qua đã và đang đặt ra câu hỏi : liệu
những chế định về Toà kinh tế đã thực sự phù hợp với yêu cầu đặt ra của các nhà
doanh nghiệp, của nền kinh tế thị trờng, của công cuộc cải cách t pháp hay cha ?
Đây không chỉ là vấn đề mà các nhà làm luật và các cơ quan có thẩm quyền đang
chú ý nghiên cứu, mà cũng là vấn đề mà em rất quan tâm. Đó cũng chínhlà lý do
khiến em lựa chọn đề tài này.Mục đích của bài viết không phải là tổng kết hoạt
động của Toà án cũng không phải là đa ra các giải phơng pháp để hoàn thiện chế
định về Toà kinh tế bởi đây là việc làm của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Bài viết chỉ mong muốn đa ra một cách nhìn tổng quát về Toà kinh tế từ cơ cấu tổ
chức, thẩm quyền, hoạt động xét xử đến những tồn tại và khó khăn đang vớng mắc,
đồng thời nêu lên một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và
hoạt động của Toà kinh tế.
Nội dung của đề án gồm 3 chơng :

đề ra trong đại hội Đảng lần thứ VI , Hội đồng nhà nớc đã thông qua Pháp lệnh về
hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 . Đây là bớc phát triển mới của pháp luật về hợp
đồng kinh tế . Theo pháp lệnh này, hợp đồng kinh tế đợc xác lập một cách tự
nguyện , bình đẳng theo sự thoả thuận của các bên ký kết . Cùng với sự chuyển đổi
nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng , các quan hệ kinh tế
ngày càng phát triển và mở rộng
Trong quá trình giao dịch để sản xuất kinh doanh cũng nh trong quan hệ kinh
doanh, giữa các chủ thể có thể xảy ra các bất đồng , các tranh chấp nhất là trong
việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế . Dù ở nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
hay nền kinh tế thị trờng thì tranh chấp kinh tế là điều khó tránh khỏi . Thông th-
ờng thì các bên chủ thể tự thơng lợng giải quyết nhng có những tranh chấp không
thể tự hoà giải đợc và họ phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan có chức năng.
Từ năm 1993 trở về trớc , cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế
là cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nớc . Trọng tài kinh tế Nhà nớc ra đời để giải
quyết những tranh chấp kinh tế mà chủ yếu là tranh chấp về hợp đồng kinh tế
,chính vì vậy chế định về Trọng tài kinh tế đợc ra đời , và phát triển cùng với sự
2
phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế . Nghiên cứu qua từng giai đoạn sẽ giúp ta
hiểu rõ hơn về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Nhà nớc.
1. Giai đoạn từ 1960 đến 1984
Năm 1960 , chính phủ ban hành Nghị định số 04.TTg ngày 4/1/1960 ban hành
kèm theo điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế . Tiếp ngay sau đó , tổ chức Trọng
tài kinh tế đợc thành lập theo Nghị định số 02.TTg ngày 14/1/1960 . Nghị định này
qui định các vấn đề chủ yếu nh cơ cấu tổ chức , phân cấp , chức năng của Trọng tài
kinh tế . Theo Nghị định này , Trọng tài kinh tế với t cách là một cơ quan trong bộ
máy hành chính Nhà nớc , đợc tổ chức ở cấp Trung ơng , khu , thành phố , tỉnh và
bộ có chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp kinh tế.
Năm 1975 , trên cơ sở những quan điểm , đờng lối mà Đảng đã đề ra trong Hội
nghị lần thứ 20.BCHTW Đảng (1972), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54.CP
ngày 10/3/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế và Nghị định số 75.CP ngày

nhà nớc . Ngoài ra còn có nhiều qui định đổi mới về cơ cấu , thẩm quyền , chức
năng . Sau khi Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân 1990 ra đời , Trọng tài
kinh tế có thêm chức năng : đăng ký kinh doanh cho các công ty và các doanh
nghiệp t nhân. Nhận thấy những đòi hỏi của cơ chế mới Nhà nớc đã có những điều
chỉnh về pháp luật trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh tế và bớc đầu đã đáp
ứng đợc yêu cầu của thực tiễn. Nhng chúng ta biết rằng cải cải t pháp luôn đi sau
cải cách kinh tế, vì thế khi nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu cải cách t pháp
lại đặt ra.
II- Những nh ợc điểm về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế trong nền
kinh tế thị tr ờng

Mặc dù nhà nớc ta đã có sửa đổi , bổ sung những chế định về Trọng tài kinh tế
Nhà nớc nhng Trọng tài kinh tế vẫn bộc lộ nhiều nhợc điểm trong nền kinh tế thị
trờng
Thứ nhất : Nền kinh tế thị trờng đặt ra những yêu cầu mới trong các quan hệ
kinh tế , đặc biệt nó đòi hỏi phải trả lại giá trị đích thực của hợp đồng kinh tế .
Nghĩa là , hợp đồng kinh tế phải thực sự mang tính hợp đồng . Cơ chế kinh tế
mới cũng đòi hỏi phải đảm bảo tính tự do , dân chủ trong hoạt động kinh tế . Các
chủ thể kinh doanh đợc quyền tự do thoả thuận , tự do ký kết hợp đồng , đợc tự chủ
trong hoạt động tổ chức kinh doanh mà không phải phụ thuộc vào mệnh lệnh của
các cơ quan hành chính nh trớc đây
Chính vì thế , chức năng quản lý Nhà nớc về hợp đồng kinh tế , chức năng giải
quyết các tranh chấp kinh tế nhằm giúp các bên ký kết và thực hiện hợp đồng kinh
tế theo chỉ tiêu pháp lệnh của Trọng tài kinh tế Nhà nớc đã trở nên lạc hậu , không
còn phù hợp
Thứ hai : Các chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn trên
cơ sở tự nguyện , bình đẳng , các bên cùng có lợi vậy mà nếu xảy ra tranh chấp thì
Trọng tài kinh tế Nhà nớc - với t cách là một cơ quan trong bộ máy Nhà nớc - lại
luôn lấy lợi ích của Nhà nớc , lợi ích của cơ quan quản lý làm tiêu chuẩn để xem
xét . Điều này thực sự không thoả mãn đợc nhu cầu về lợi ích của chủ thể kinh

Đây là những tranh chấp gắn với nền kinh tế thị trờng mà các toà án nhân dân nớc
ta cha giải quyết , đồng thời nó cũng không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Trọng tài kinh tế Nhà nớc . Nh vậy cần phải có một cơ quan nào đó giải quyết các
tranh chấp này . Những tranh chấp trong kinh doanh về bản chất cũng giống nh
tranh chấp về tài sản trong dân sự , tuy nhiên vì nó liên quan đến lĩnh vực kinh
doanh nên nó mang những đặc thù riêng cần phải có một cơ quan tài phán độc lập
giải quyết
Thứ hai : Trong thời gian trớc ,việc khai sinhcho các công ty , doanh nghiệp t
nhân là do Trọng tài kinh tế đảm nhiệm nhng việc khai tử cho các doanh nghiệp
này thì cha có một cơ quan nào đứng ra giải quyết . Trong nền kinh tế thị trờng , có
rất nhiều vấn đề liên quan đến việc phá sản một doanh nghiệp nhất là việc đảm bảo
quyền lợi cho các chủ nợ . Chính vì vậy đòi hỏi phải có một cơ quan đảm nhiệm
việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp và giải quyết các hậu quả của nó.
Thứ ba : Hình thức giải quyết bằng Trọng tài kinh tế Nhà nớc trớc đây đạt hiệu
quả thấp chủ yếu là do tính cỡng chế của các quyết định của Trọng tài kinh tế
không đợc đảm bảo . Trong nền kinh tế thị trờng , các chủ thể kinh doanh đòi hỏi
phải có một phơng thức giải quyết mới đạt hiệu quả cao và thực sự đảm bảo việc
khôi phục lại lợi ích kinh tế của họ
Chính vì những yêu cầu của nền kinh tế thị trờng cùng với yêu cầu của cuộc cải
cách t pháp nên Toà án kinh tế đã ra đời . Chỉ có toà án kinh tế mới đáp ứng đợc
5
những nhu cầu về giải quyết các tranh chấp kinh tế ngày càng đa dạng và phong
phú của cơ chế kinh tế mới .

2. Sự ra đời của Toà kinh tế
Từ khi xác định đợc nhu cầu cần phải ra đời một phơng thức giải quyết tranh
chấp kinh tế mới - đó là Toà kinh tế - thì đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau
về vấn đề này .
Theo quan điểm của Bộ T Pháp thì : Toà kinh tế cần đợc tổ chức thành các toà
chuyên trách thuộc Toà án nhân dân ( Trong đề án tổ chức Toà kinh tế Việt Nam

quyết định thành lập Toà kinh tế chuyên trách nằm trong Toà án nhân dân cấp tỉnh
trở lên . Toà kinh tế chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/7/1994 và cũng kể từ
6
ngày 1/7/1994 các cơ quan Trọng tài kinh tế thành lập theo Pháp lệnh Trọng tài
kinh tế ngày 10/ 1/1990 sẽ chấm dứt hoạt động. Đến năm 1995, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 28.10.1995 càng khẳng
định chủ trơng đúng đắn của việc thành lập Toà kinh tế.
Sự ra đời của Toà kinh tế là một bớc ngoặt lớn trong lịch sử các hình thức giải
quyết tranh chấp kinh tể nớc ta . Về lý luận , Toà kinh tế có thể đáp ứng mọi nhu
cầu của nền kinh tế thị trờng về việc giải quyết các tranh chấp kinh tế và tuyên bố
phá sản doanh nghiệp . Nhng thực tế nó hoạt động có đạt hiệu quả hay không .Để
biết đợc điều này chúng ta hãy cùng nghiên cứu qui chế pháp lý về Toà kinh tế và
những kết quả đạt đợc trong những năm qua.
7
Chơng II : Quy chế pháp lý về Toà kinh tế
Sau khi Trọng tài kinh tế Nhà nớc chấm dứt hoạt động, các tranh chấp kinh tế ở
nớc ta đợc giải quyết theo hai con đờng: Trọng tài và Toà án. Trọng tài kinh tế lúc
này (đợc thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 5.9.1994 của Chính phủ) khác
hẳn so với Trọng tài kinh tế Nhà nớc trớc kia. Với t cách là một tổ chức xã hội
nghề nghiệp, Trọng tài kinh tế đợc tổ chức dới hình thức Trung tâm Trọng tài kinh
tế đặt ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ơng, có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp kinh tế theo thủ tục tố tụng trọng tài. Tuy nhiên trong phạm vi đề án
này chúng ta không tìm hiểu cụ thể về Trọng tài kinh tế mà sẽ nghiên cứu sâu về
Toà kinh tế - Một phơng thức quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế.
Khác với Trọng tài kinh tế (là một tổ chức xã hội nghề nghiệp), Toà kinh tế là toà
chuyên trách nằm trong hệ thống cơ quan tài phán - hệ thống Toà án nhân dân.
Hiện nay, những quy chế pháp lý chung về Toà kinh tế đợc qui định trong Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân đợc Quốc Hội
thông qua ngày 28.10.1995. và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày
16.3.1994.

nhiệm , miễn nhiệm , cách chức .
Tất cả thẩm phán của Toà án nhân dân các cấp cũng nh của các Toà kinh tế đều
do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán lựa chọn , xem xét và trình chủ tịch nớc bổ
nhiệm hay cách chức . Nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm kể từ ngày đợc bổ
nhiệm . Chế định về thẩm phán đợc qui định trong Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội
thẩm Toà án nhân dân ngày 14.5.1993.
II- Thẩm quyền của Toà kinh tế

Nh ta đã biết , Toà kinh tế ra đời là để giải quyết các tranh chấp kinh tế bị khởi
kiện ra Toà ( gọi là vụ án kinh tế ) và những vấn đề mới của nền kinh tế thị trờng .
Cụ thể là , theo Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân và Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30.12.1993 thẩm quyền của Toà kinh tế
bao gồm :
- Xét sử các vụ án kinh tế
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp .
Trong đó thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế là thẩm quyền chính . Để nghiên
cứu vấn đề này , trớc tiên chúng ta cần phải hiểu thế nào là vụ án kinh tế.
1. Khái niệm vụ án kinh tế
Trên thực tế , cha một văn bản nào đa ra khái niệm chính thức về vụ án kinh tế ,
nhng có thể hiểu khái quát nh sau : vụ án kinh tế là những tranh chấp kinh tế do
một trong các bên khởi kiện ra Toà án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình
Vậy tranh chấp kinh tế đợc hiểu nh thế nào ?
Trong thời kỳ bao cấp , tranh chấp kinh tế thị trờng chỉ đợc thừa nhận thuần tuý
là tranh chấp về việc vi phạm hợp đồng kinh tế
Nhng ngày nay , trong nền kinh tế thị trờng , tranh chấp kinh tế rất đa dạng . Tuy
nhiên những tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm
những tranh chấp sau : ( Theo điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế ) .
- Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân , giữa pháp nhân

Khái niệm công ty bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và côg ty cổ phần .
Đây là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên với công ty trách nhiệm
hữu hạn , về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với công ty cổ phần ,
về quyền đợc chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ vào công ty ... và các vấn đề
khác liên quan đến việc thành lập , hoạt động , giải thể công ty.
- Tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau
Đây là các tranh chấp về việc chuyển nhợng phần vốn góp vào công ty giữa các
thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn , về việc chuyển nhợng cổ phiếu , về
mệnh giá cổ phiếu , số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần , ...và
cấc vấn đề khác .
c/ Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
Đây là việc tranh chấp về việc mua bán cổ phiếu , trái phiếu đã phát hành và trái
phiếu , cổ phiếu mới sẽ phát hành của công ty cổ phần .
d/ Các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật
10
Là các tranh chấp mà trong tơng lai có thể xảy ra và văn bản pháp luật mới qui
định đó là các tranh chấp kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
Với cách hiểu về tranh chấp kinh tế nh vậy , thẩm quyền của Toà kinh tế đợc
qui định nh sau :
2. Thẩm quyền của Toà kinh tế .
Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16.3.1994 , thẩm
quyền của Toà án giải quyết các vụ án kinh tế có thể phân biệt thành .
- Thẩm quyền của Toà án các cấp
- Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
- Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
2.1: Thẩm quyền của Toà án các cấp
a/ Thẩm quyền của Toá án nhân dân huyện , quận , thị xã, thành phố thuộc tỉnh
( Toà án cấp huyện ) .
Nh trên đã đề cập ở Toà án cấp huyện không có Toà án kinh tế nhng nh vậy
không có nghĩa là Toà án cấp huyện không có thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế

- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật
Tóm lại , thẩm quyền của Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh đợc qui định khá
rộng , bao trùm hầu hết các vụ án kinh tế .
* Thẩm quyền của ủy ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh đối với các vụ án
kinh tế là : giám đốc thẩm , tái thẩm những vụ án , quyết định đã có hiệu lực của
pháp luật của Toà án cấp dới bị kháng nghị .
c/ Thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao
* Thẩm quyền của các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao trong việc giải
quyết các vụ án kinh tế
Các thẩm pháp kinh tế ở các Toà phúc thẩm có thẩm quyền
- Phúc thẩm các vụ án mà bản án , quyết định sơ thẩm của Toà kinh tế Toà án
nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo ,kháng nghị .
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh về
tuyên bố phá sản
Quyết định của các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối
cùng .
* Thẩm quyền của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao là :
Giám đốc thẩm , tái thẩm những vụ án mà bản án , quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng .
* Thẩm quyền của Uỷ ban thẩm phán , Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao là giám đốc thẩm tái thẩm những vụ án mà bản án , quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của các Toà án cấp dới
2.2: Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
Điều 14 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế qui định: Toà án có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc c trú ,
trong trờng hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản thì Toà án nơi có bất động
sản giải quyết .
2.3: Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn .
Thẩm quyền này đợc qui định tại điều 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status