BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KTKT BÌNH DƯƠNG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI
Trình bày kết quả,ý nghĩa,phân tích những hạn chế,nguyên nhân của quá
trình chuyển sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
sau 20 năm đổi mới?
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thị Hiền
Thành viên nhóm G6:
Sinh viên MSSV
Lê Thị Mai : C08K09A 4720
Trần Thị Sang : C08K09A 4056
Trần Thị Ngát : C08K09A 4736
Nguyễn Thị Hà: C08K09A 1019
Trần Thị Mỹ Linh: C08K09A 4704
Hồ Nguyễn Diệu Hiền: C08K09A 4664
Bình Dương, Ngày 20 tháng 04 năm 2010
1
NỘI DUNG
QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA SAU 20 NĂM ĐỔI MỚI
I.KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA
II.HAN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
III. NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI
IV.BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I. Kết quả và ý nghĩa
1.Kết quả
Cùng với đổi mới kinh tế đã từng bước đổi mới hệ thống chính trị với
trọng tâm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới đó, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, hợp lý
quan điểm toàn diện, đặc biệt là quan điểm toàn diện trong đổi mới kinh tế ở
nước ta hiện nay.
Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, từng
bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân lao động.
Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
2. Ý nghĩa
Trải qua 20 năm (1986 - 2006), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do
Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt
được những thành tựu to lớn, và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. đặc biệt là việc
3
thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và Đại hội X của Đảng trong những năm
gần đây đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các mặt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
Những thắng lợi đó đã làm cho thế, lực và uy tín của đất nước ta trên
trường quốc tế không ngừng được nâng cao; cán bộ, đảng viên và nhân dân
phấn khởi, đồng thuận, tin tưởng vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát
triển của đất nước, vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Những thắng lợi đó đã góp phần đẩy lùi đáng kể những nhận thức lệch
lạc, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội; làm tăng thêm lòng yêu
nước,lòng tự hào dân tộc, tình đoàn kết và tương thân, tương ái của người
Việt Nam; phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của người lao động,
cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của toàn
xã hội.
Nhờ đổi mới mà nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
thao còn yếu kém.Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng.
Ba là: Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn
chế.Sự phối hợp giữa an ninh, quốc phòng và đối ngoại trong việc giải quyết
một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ.Tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, gây
tâm tư lo lắng và bức xúc cho nhân dân. Tội phạm và một số tệ nạn xã hội có
chiều hướng tăng. Tai nạn giao thông gây ra nhiều thiệt hại về người và của.
Bốn là: Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới. Việc thực hiện vai trò
giám sát của Quốc hội còn lúng túng Cải cách hành chính chậm, cải cách tư
pháp mới bước đầu được triển khai, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn thụ
động, mang tính hành chính, hình thức. Dân chủ trong xã hội còn bị vi
phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở một số cấp và lĩnh vực không nghiêm.
5
Năm là: Chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đáp ứng
được yêu cầu đề ra. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không
đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh.Công tác tư tưởng
thiếu sắc bén và tính chiến đấu chưa cao; phương pháp thiếu linh hoạt, còn
bị động và kém hiệu quả. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số
vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới Chất lượng và hiệu quả kiểm
tra, giám sát chưa cao.
2.Nguyên nhân
Việc hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát
triển và vận hành hệ thống thị trường chưa đồng bộ; một số nguyên tắc của
thị trường bị vi phạm; tư duy bao cấp chưa được khắc phục triệt để.
Việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề hoàn
toàn mới chưa có tiền lệ trong lịch sử. Nhận thức về kinh tế thị trường định
hướng XHCN còn nhiều hạn chế do công tác lý luận chưa theo kịp đòi hỏi
của thực tiễn.
Năng lực thể chế hoá và quản lý, tổ chức thực hiện của Nhà nước còn
dội khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã đã làm cho Đảng ta tránh được
những thất bại mà các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô mắc phải. Đây
là một vấn đề căn bản để giữ vững sự ổn định của đất nước - mà nhờ đó,
Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
Thành công của sự nghiệp đổi mới còn do Đảng ta đã tiến hành những
bước đi đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Đó là việc kết hợp chặt chẽ ngay từ
đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm
đồng thời từng bước đổi mới chính trị một cách thận trọng và vững chắc.
7
Mặt khác, Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, đúc rút những bài học kinh
nghiệm trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới.
Điều đó càng chứng tỏ, trong điều kiện hiện thực ở nước ta, chỉ có Đảng
Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đội tiên
phong của giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo
nhân dân ta đi tới mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
V. Bài học kinh nghiệm
Một là: Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đổi mới không phải là xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm
nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Hai là:Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và
cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực
tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động
cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của
đời sống xã hội nhưng không làm đồng loạt, dàn đều, mà phải có trọng tâm,
trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và
động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới.
VI. Kết luận và một số giải pháp khắc phục những hạn chế
Đổi mới (1986 - 2006) tạo thêm nhiều thuận lợi cho đất nước ta đổi mới,
phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ nhanh hơn, chất lượng cao hơn. Tuy
nhiên, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động
tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào.
Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên
9
thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối
sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí vẫn đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn
có hiệu quả. Những biểu hiện xa rời mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội
chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm
mưu "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn, lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân
chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" hòng làm thay đổi chế độ chính trị
ở nước ta.
Từ các mặt nêu trên, chúng ta khẳng định rằng : Những năm tới tuy khó
khăn còn nhiều nhưng đất nước ta có nhiều cơ hội để tiến lên. Đòi hỏi bức
bách của toàn dân tộc ta lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách
thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc
độ nhanh hơn và bền vững hơn.
Để đổi mới,hoàn thiện quá trình chuyển sang thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHXN chúng ta cần tập trung vào một số giải pháp khắc phục
những hạn chế sau:
Về chính sách đầu tư : Phải nâng cao hiệu quả các chương trình quốc
gia, bảo đảm tính hợp lý trong cơ cấu đầu tư tránh dàn trãi vốn mà tập trung
vốn cho các chương trình trọng điểm, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực
thiết yếu, nhất là cơ cấu hạ tầng để tạo ra môi trường ổn định và thuận lợi
cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, chuyển cơ chế phân bổ nguồn vốn vay
Nhà nước mang tính hành chính sang cho vay theo cơ chế thị trường, thường
Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao
trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội. Phát triển giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông và hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề.
11
Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học; gắn đào tạo, nghiên
cứu khoa học công nghệ với sử dụng. Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục.
Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương
trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và
cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.
Về khoa học và công nghệ: Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học
và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên
một số lĩnh vực quan trọng.
Chúng ta cần đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng
Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu
vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh
vực trọng điểm. Đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư, huy động các thành phần
kinh tế tham gia và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ.
Có chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng
công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật
có tay nghề cao; thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước,
ngoài nước và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Về quốc phòng và an ninh:Chúng ta chủ trương kết hợp phát triển kinh
tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát
huy mọi tiềm năng của đất nước, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết
hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; đẩy mạnh xây dựng các khu vực
phòng thủ địa phương,tỉnh, thành phố.
Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc
Đảng.
13
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó tập trung đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước
bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá
thành Hiến pháp, pháp luật; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra
việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà
nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước
trong quản lý đất nước và xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để Mặt
trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương hướng hoạt động; đồng
thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể trong
xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình.
14