LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý là quá trình không thể thiếu được trong mọi tổ chức, hệ thống.
Quá trình quản lý sẽ giúp cho tổ chức tồn tại và phát triển một cách tốt nhất
và hiệu quả nhất. Mọi quá trình quản lý đều được tiến hành theo những chức
năng cơ bản sau:
Lập kế hoach
Tổ chức
Lãnh đạo
Kiểm tra
Mỗi chức năng này đếu có một vai trò, ý nghĩa nhất định trong quá trình
quản lý tổ chức không thể nói chức năng nào quan trọng hơn chức chức
năng nào. Tuy nhiên ta thấy chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên
của quá trình quản lý có thể nói nó là gốc rễ của một cái cây, rồi từ cái gốc
này mọc ra những cành, nhánh là tố chức, lãnh đạo, kiểm tra. Có thể nói
chức năng lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với quá trình
quản lý. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Hoàn thiện và nâng cao công tác
lập kế hoạch SXKD tại công ty Cổ phần Sông Đà 11” làm đề tài nghiên cứu.
Đề tài được chia làm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận
Phần 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch tại công ty Cổ phần Sông Đà 11
Phần 3: Hoàn thiện và nâng cao công tác lập kế hoạch tại công ty
Thông qua đề tài này ngoài mục đích nâng cao các lý thuyết đã học, vận
dụng các nguyên lý vào trong thực tiễn để giải quyết các vướng mắc tồn tại
qua đó rút ra được các kinh nghiệm trong quản lý. Thì đề tài còn có nhiệm
vụ là tìm hiểu công tác lập kế hoạch tại công ty Cổ phần Sông Đà 11 từ đó
phát hiện ra những vướng mắc, tồn tại cần khắc phục cần được hoàn thiện.
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
1
Cuối cùng từ tình hình thực tế và từ nguyên lý của lập kế hoạch mà đưa ra
các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch của công ty làm sao
cho nó tốt hơn hiệu quả hơn.
Giai đoạn thứ hai là xắp xếp các nguồn lực để tổ chức đạt được mục tiêu
đã định dó
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quyết định về những hành động của tổ chức
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
3
Thứ ba: lập kế hoạch là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác
định biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó( Quản trị học PGS TS
nguyễn thị liên diệp)
Hoặc
Thứ tư: hoach định là quá trình chuẩn bị đối phó với sự thay đổi và tính
không chác chắn bằng việc trù liệu những cách thức hành động trong tương
lai.( Quản trị học Nguyễn Hải San)
Thư năm: lập kế hoạch là quá trình xác định những mục tiêu của tổ chức
và phương thức tốt nhất để đạt được những mục tiêu đó.
Như vậy công tác lập kế hoạch theo nghĩa trên phải bao gồm đồng thời
hai quá trình xác định mục tiêu (cái gì cần phải làm); xác định con đường
cần đạt đến mục tiêu (làm cái đó như thế nào).
Hoặc có thể hiểu lập kế hoạch là việc xác định mục tiêu, xây dựng chiến
lược tổng thể để đạt đến mục tiêu, triển khai hệ thống kế hoạch, thống nhất
và phối hợp hành động: lập kế hoạch có thể là chính thức hoặc phi chính
thức:
Kế hoạch chính thức: là kế hoạch được xây dựng bằng văn bản, được
công bố rõ rang và có sự chia sẻ và phân công công việc cụ thể để các thành
viên trong tổ chức đều nắm được.
Kế hoạch phi chính thức : là kế hoạch xây dựng theo ý tưởng của người
lãnh đạo, các thành viên không nắm được vì nó chưa được công bố chính
thức.
Thứ sáu: hoạch định là quá trình chuẩn bị đối phó với những thay đổi và
tình huống không chắc chắn bằng việc trù liệu những cách thức hành động
trong tương lai. Hai nguyên nhân chính đòi hỏi các nhà quản trị phải tiến
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
5
Việc lập kế hoạch kinh doanh có thể đáp ứng được cả hai yêu cầu trên thì
kết quả sẽ có là một tài liệu tương đối súc tích, bản kế hoạch kinh doanh này
cũng có thể được sử dụng cho nhiêu mục đích khác nhau, và như vậy hình
thức trình bày bản kế hoạch tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của nó.
2. Mục đích của kế hoạch
Nghiên cứu và quản lý sự thay đổi: Môi trường phát triển tất yếu dẫn
đến sự thay đổi. Một lĩnh vực được ưu tiên sẽ là nghiên cứu những thay đổi
mới có liên quan đến hang hoá và thị trường. Sự thay đổi của môi trường và
những yếu tố nội bộ sẽ là những yếu tố làm cản trở việc thực hiện kế hoạch.
Vạch ra những con đường phát triển gắn bó: Đó là đảm bảo tính liên kết
giữa các mục tiêu và phân chia các nguồn vốn của doanh nghiệp. Các mục
tiêu phối hợp sẽ được phản ánh ở các kế hoạch sản xuất, tài chính, tiếp thị,
ngân sách ……
Cải thiện hiệu năng của doanh nghiệp: Công tác kế hoạch cho phép tối ưu
hoá nguồn vốn của doanh nghiệp, thông qua việc thực hiện hoạch định kinh
doanh mà tài nguyên không bị lãng phí, từ đó doanh nghiệp ấn định mục tiêu
tiến độ, và có tính khả thi.
Hợp thành phương tiện quản lý: Kế hoạch hoá thuộc kỹ thuật hợp lý hoá
quá trình ra quyết định và tạo thành nền tảng cho hoạt động quản trị kinh
doanh. Kế hoach hoá là một trong những phương tiện quản lý gồm các nội
dung cơ bản sau: Chuẩn đoán, xây dựng chiến lược, kế hoạch hoá thực sự.
3. Vai trò công tác lập kế hoạch
Lập kế hoạch là công cụ đắc lực trong công việc phối hợp nỗ lực của
các thành viên trong doanh nghiệp, nó cho biết hướng đi của doanh nghiệp.
Khi lập kế hoạch, sẽ xác định được mục tiêu, các thành viên trong doanh
nghiệp sẽ phối hợp hoạt động vì mục tiêu chung của tổ chức. Thiếu kế
hoạch, sẽ khó khăn trong việc xác định quỹ đạo của doanh nghiệp, lập kế
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
nhằm đáp ứng một hay nhiều nhu cầu như:
− Tìm kiếm nguồn tài trợ, một kế hoạch kinh doanh tốt là công cụ có
tính thuyết phục nhất mà tổ chức có thể sử dụng, đồng thời cũng là tài liệu
bắt buộc phải có đối với các tổ chức.
− Đưa ra định hướng, quá trình chuẩn bị bản kế hoạch giúp tổ chức
suy nghĩ một cách khách quan về doanh nghiệp của mình, về những điểm
mạnh điểm yếu nội tại, những cơ hội và mối đe doạ từ bên ngoài, sự cần
thiết và thời điểm ra những quyết định chiến lược.
− Truyền đạt được tới đối tác tới nhà đầu tư cũng như những nhân
viên chủ chốt, qua đó củng cố nềm tin vào các mối quan hệ, sự tín nhiệm
cũng như khuyến khích và tập trung hơn nữa những nỗ lực của nhân viên,
tóm lại là tạo ra được một tầm nhìn chung.
− Tạo ra những công cụ quản lý mới, quá trình chuẩn bị một bản kế
hoạch sẽ cung cấp những phương tiện quản lý có lợi về lâu dài cho tổ chức.
Những phương pháp này có thể được sử dụng lại khi các bản kế hoạch được
cập nhật hoặc lập cho những mục đích khác.
Vd: vì sao các doanh nghiệp nhỏ ít lập kế hoạch kinh doanh:
Như ta biết kế hoạch kinh doanh là một bản tổng hợp các công việc từ ý
tưởng kinh doanh, hoạch định kinh doanh của một dự án kinh doanh, đầu tư
… một kế hoạch kinh doanh tốt chỉ ra các vấn đề cần thiết để chuẩn bị trước
khi thực hiện dự án đầu tư và những việc cần phải làm khi thực hiện dự án
đầu tư.
Thực tế các doanh nghiệp nhỏ thường không chú trọng đến công tác lập
kế hoạch sản xuất kinh doanh bởi vì:
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
8
Trước hết, các doanh nghiệp nhỏ thường không có phòng kế hoạch đầu
tư. Bộ phận bán hàng và kinh doanh thường chỉ chú trọng vào công việc của
mình mà không quan tâm tới công tác lập kế hoạch cho cả doanh nghiệp,
chủ doanh nghiệp lại quá bận rộn với công tác quản lý không có thời gian để
phát từ những cơ sở chủ yếu sau:
a) Các nguồn tài nguyên hạn chế
Sự khan hiếm tài ngưyên là một vấn đề đặc biệt quan trọng bởi nó sẽ là
một căn cứ chủ yếu để có thể dự báo tương lai của cong người. Các nguồn
tài nguyên như dầu mỏ, nước sạch không khí trong lành... đang ngày càng
trở nên khan hiếm là một thách thức ngày càng quan trọng đối với nhà hoạch
định. Nguồn tài nguyên hạn chế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có kế hoạch
để sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên đó.
b) Tính không chắc chắn của môi trường
Tình trạng không chắc chắn và hậu quả không chắc chắn của môi
trường tác động đến những dự định cho kế hoạch tương lai của nhà doanh
nghiệp, đòi hỏi họ phải dự đoán trước những bất ổn, những rủi ro có thể xảy
ra, những hậu quả không mong muốn đối với hoạt động kinh doanh của họ.
5. Các loại kế hoạch.
Có nhiều quan điểm khác nhau về kế hoach do đó cũng có rất nhiều loại
kế hoach khác nhau tuỳ theo từng cách phân chia mà người ta chia kế hoạch
thành những loại sau:
a) Căn cứ vào bản chất của kế hoạch thì nó bao gồm bốn lĩnh
vực sau.
− Kế hoạch hoá nguyên tắc kinh doanh.
Kế hoạch hoá nguyên tắc kinh doanh mô tả các nguyên tắc kinh doanh
chung. Các nguyên tắc kinh doanh được biểu hiện rõ nét ở các nhân tố như
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
10
truyền thống, hình thức pháp lý, tư duy của chủ sở hữu. Trong mọi trường
hợp chúng phải được biểu hiện bằng các văn bản và phải được chứng minh
theo khả năng. Chỉ có thế thì mới giải thích chúng một cách hớp lý nhất, loại
bỏ mâu thuẫn và nhận thức với cách là hướng đích liên tục cũng như với tư
cách như là nhân tố “ý muốn” của quản trị gia và người lao động. Tất nhiên
các nguyên tắc kinh doanh không phải là cố định. Ngay cả trong hình thức
con người….
− Kế hoạch trung hạn (thường chỉ là 2 – 3 năm)
nhằm phác thảo các chương trình trung hạn để thực hiện hoá các lĩnh vực
mục tiêu, chính sách giải pháp được hoạch định trong chiến lược lựa chọn.
− Kế hoạch hàng năm: kế hoạch hàng năm là sự cụ
thể hoá của nhiệm vụ sản xuất kinh doanh căn cứ vào định hướng mục tiêu
chiến lược và kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu, diều chỉnh các
căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch.
Ta có sơ đồ sau:
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
Kế hoạch ngắn hạn:
Phân công công việc
Đặt hàng
Điều độ công việc…
Dành ưu tiên
Kế hoạch trung hạn:
Kế hoạch bán hàng
Kế hoạch sản xuất và dự thảo ngân
sách
Sắp xếp nhân lực và hợp đồng dịch
vụ
Phân tích kế hoạch tác nghiệp
Kế hoạch dài hạn:
Nghiên cứu và phát triển
Kế hoạch sản phẩm mới
Sử dụng đồng vốn
Định vị và phát triển
DN
12
Hôm nay 3 tháng 1 năm 5 năm
− Kế hoạch bộ phận: Kế hoạch bộ phận chỉ đề cập đến từng phần
quá trình sản xuất kinh doanh. Loại kế hoạch này gắn liền với từng lĩnh vực
hoạt động chức năng như: Kế hoạch marketing, kế hoạch sản xuất, kế hoạch
vật tư, kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư, kế hoach tiền lương….
e) Về phân cấp kế hoạch, trong một tổ chức có hai loại kế hoạch
chính:
− Các kế hoach chiến lược: Được lập để hướng tới các mục tiêu
của tổ chức - thực hiện những sứ mệnh ấy là lý do duy nhất đối với sự tồn tại
của tổ chức.
− Các kế hoạch tác nghiệp: Là kế hoạch trình bày rõ chi tiết cần
phải làm như thế nào để đạt được những mục tiêu đã được đặt ra trong kế
hoach chiến lược. Gồm có:
Kế hoạch sử dụng một lần (single – use plans) là những
kế hoạch cho những hoạt động không lặp lại.
Kế hoạch cố định (standing plans) loại kế hoạch này
được quy chuẩn hóa cho việc tiếp cận và giải quyết các tình huống thường
xuyên gặp và dự đoán sẽ còn tiếp tục diễn ra.
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
14
Hình 3: Lập kế hoạch và các cấp quản lý doanh nghiệp
f) Căn cứ vào đối tượng kế hoạch hoá, có thể phân
biệt kế hoạch xây dựng doanh nghiệp, kế hoạch trương trình và kế hoạch
kinh doanh.
− Kế hoạch xây dựng doanh nghiệp xác định việc xây dựng tổng thể
doanh nghiệp về phương diện tổ chức, tài chính, kỹ thuật và chịu ảnh hưởng
rất mạnh của kế hoạch chiến lược.
− Kế hoạch chương trình xác định chương trình sản xuất kinh doanh và
sản lượng sản xuất cho từng thời kỳ nhất dịnh. Kế hoạch chương trình
thường được xác định cho từng thời kỳ trung hạn và ngắn hạn.
Cấp quản lý khác nhau thì tồn tại những loại kế hoach khác nhau. Cấp
quản lý càng cao thì kế hoạch càng mang tính chiến lược và ngược lại. Cấp
quản lý cao co vai trò rất quan trọng tới sự tồn tại và phát triển của tổ chức
do cấp quản lý cao thì vạch ra các kế hoạch mang tính chiến lược dài hạn.
Nếu kế hoạch đó đúng phù hợp với xu hướng thì tổ chức đó phát triển, nếu
kế hoạch đó là sai lầm thì dẫn tới tổ chức có thể bị suy thoái và không tồn tại
được.
Môi trường:
Tính chất kế hoạch phụ thuộc vào sự biến động của môi trường. Các tổ
chức luôn phải hoạt động trong một môi truờng nhất định. Công tác lập kế
hoạch có thành công thì phải nắm bắt đựơc những thay đổi đó. Ví du khi tổ
chức hoạt động trong môi trường ổn định thì các kế hoach đó sẽ là các kế
hoach dài hơi mang tính hoạch định chiến lược hơn nhưng khi mà môi
trường bất ổn luôn biến động thì kế hoạch đó là những kế hoạch ngắn hạn và
luôn luôn phải điều chỉnh cho nó phù hợp.
Chu kỳ kinh doanh:
Ta có sơ đồ sau:
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
16
Hình 4: Kế hoạch với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Ta thấy chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp gồm 4 giai đoan, ứng với
từng giai đoạn thì tổ chức lại có những kế hoạch riêng. Khi tổ chức trong
giai đoạn hình thành thì tổ chức sẽ dùng các kế hoạch mang tính định hướng
cho cả quá trình khi tổ chức tiến tới giai đoạn tăng trưởng thì tổ chức lại sử
dụng các kế hoạch ngắn hạn, nhằm đảm bảo cho quá trình phát triển đúng
hướng, tới khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh khi nó bước vào thời kỳ suy
thoái thì các kế hoạch được thực hiện lại là các kế hoạch mang tính định
hướng cho quá trình kinh doanh tiếp theo.
Chính sách của nhà nước:
Các kế hoach cũng chịu tác động rất lớn từ phía chính sách của nhà nước,
Thị trường:
Các kế hoạch của các tổ chức sản xuất đều phải theo định hướng của thị
trường. Nhu cầu của thị truờng là một trong những yếu tố mà các tổ chức
cần phải đáp ứng, thị trường hướng cho tổ chức phải sản xuất cái gì, giá cả
như thế nào không thể sản xuất những sản phẩm mà thị trường không mong
muốn.
Các nguồn lực của tổ chức:
Ta biết rằng các nguồn lực của tổ chức đều mang tính khan hiếm. Do đó
các kế hoach được đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của tổ chức
không thể lập kế hoạch mà tổ chức không đủ nguồn lực thực hiện được,
nguồn lực cũng là một nhân tố tác động tới các kế hoach của tổ chức.
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
18
II. Quy trình công tác lập kế hoạch:
Để lập được một kế hoạch tốt thì nó phải bao gồm nhiều bước khác
nhau. Bước trước là tiền đề để cho bước tiếp theo cứ như vậy cho tới bước
cuối cùng. Mỗi bước có một công việc cụ thể khác nhau đảm bảo cho việc
lập kế hoạch được tốt nhất. Quy trình lập kế hoạch bao gồm các bước:
1. Bước 1: Nghiên cứu và dự báo.
Nghiên cứu và dự báo là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch. Để nhận
được cơ hội thì phải có những hiểu biết về môi trường, thị trường, về sự
cạnh tranh, về điểm mạnh và điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh
tranh. Chúng ta phải dự đoán được các yếu tố không chắc chắn và đưa ra
phương án đối phó. Do đó nhất thiết phải có nhưng nghiên cứu và dự báo
trước khi lập kế hoạch. Việc nghiên cứu và dự báo càng chính xác, cụ thể
bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu nó giúp ta đưa ra đưa ra được những dự
đoán thực tế phù hợp như vậy thì mới có được những kế hoạch tốt.
2. Bước 2: Thiết lập các mục tiêu.
Xong bước thứ nhất tiếp tục tới bước thư 2. Khi đã nghiên cứu và dự báo
kỹ lưỡng thì việc tiếp theo là thiết lập các mục tiêu cần thực hiện. Các mục
công nghệ gì, mức chi phí mức lương, mức cổ tức và các khía cạnh tài
chính, xã hội chính trị khác.
Một số tiền đề là những dự báo, các chính sách còn chưa ban hành Vd
như khi xây dựng các kế hoạch phát triển đô thị của một thành phố , người ta
sẽ dựa trên một tiền đề là mạng lưới buýt và các phương tiện đi lại công
cộng sẽ như thế nào trong vòng 5 năm tới.
Các tiền đề được giới hạn theo giả thiết có tính chất chiến lược hoặc cấp
thiết để đẫn đến một kế hoạch. Các tiền đề này có ảnh hưởng nhiều nhất đến
sự hoạt động của kế hoạch đó. Sự nhất trí về các tiên đề là điều kiện quan
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
20
trọng để lập các kế hoạch phối hợp. Vì vậy không nên đòi hỏi những kế
hoạch và ngân quỹ từ cấp dưới khi chưa có, trước hết cần có những chỉ dẫn
cho những người đứng đầu các bộ phận của mình.
4. Bước 4: Xây dựng các phương án
Khi có các tiền đề ở bứơc trên thì ở bước tiếp theo ta xây dựng các
phương án hành động. Chúng ta cần xây dựng và tìm ra các phương án hành
động để lựa chọn. Cần giảm bớt các phương an lựa chọn, chỉ có những
phương án có triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích. Các phương án
phải được xây dựng dựa trên các tiền đề đã được đưa ra để đảm bảo cho kế
hoach được lập ra là tốt nhất.
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
21
5. Bước 5: Đánh giá các phương án
Khi xây dựng được các phương án thì ở bước này tổ chức phải đánh giá
các phương án theo các tiêu chuẩn phù hợp với mục tiêu và trung thành cao
nhất với các tiền đề đã xác định. Các phương án tốt là các phương án mà phù
hợp với các tiêu chuẩn đánh giá, các tiền đề đã đưa ra. Có thể nói đánh giá
phương án là bước rất quan trọng. Nếu đánh giá không chính xác không
đúng sẽ có thể làm cho tổ chức đó lựa chọn phương án không tốt gây tổn
Giá trị
Đánh giá
Động cơ
Mô hình năm lực lượng
Mô hình chuỗi giá trị
Mô hình điểm mạnh điểm yếu cơ hội và đe doạ (SWOT)
……..
Có nhiều phương pháp phân tích như vây do đó khi lập kế hoạch tổ chức
cần căn cứ vào tình hình thực tế của tổ chức mình mà sử dụng các phương
pháp cho hiệu quả và hợp lý. Ơ đây tôi xin giới thiệu một số phương pháp
hay được các tổ chức sử dụng cho quá trình lập kế hoạch của mình:
1. Mô hình điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe doạ
( SWOT )
Ở mô hình này nó đánh giá cả môi trường bên trong tổ chức lẫn môi
trường bên ngoài tổ chức. Có thể nói mô hình không chỉ có ý nghĩa với
doanh nghiệp trong việc hình thành chiến lược kinh doanh nội địa mà nó còn
có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành chiến lược kinh doanh quốc tế nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp muốn
phát triển, từng bước tạo lập uy tín, thương hiệu cho mình một cách chắc
chắn và bền vững thì phân tích SWOT là một khâu không thể thiếu trong
quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
23
Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu hay còn gọi là phân tích bên trong mà
tổ chức phải đối mặt trên những giác độ như nhân sự, tài chính, công nghệ,
uy tín, tiếng tăm, mối quan hệ, văn hoá, truyền thống của tổ chức.
Việc so sánh này chỉ mang tính tương đối, chủ yếu có sự so sánh với mặt
bằng chung trong ngành.
Phân tích về cơ hội, đe doạ hay còn gọi là phân tích các yếu tố bên ngoài
vì những nhân tố đó đến từ môi trường bên ngoài. Những nhân tố này là
Hình 5 : Ma trận SWOT
SV: Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
24
s
1
o
1
s
1
o
h
s
1
t
1
s
1
t
k
s
i
o
j
s
i
t
j
s
n
w
i
o
j
w
i
t
j
w
m
o
1
w
m
o
h
w
m
t
1
w
m
t
k
Các thành phần của ma trận SWOT có thể gợi ý về các giải pháp chiến
lược nhằm phát huy các điểm mạnh để tận dụng cơ hội và ngăn chặn các
mối đe doạ, hay biết được các diểm mạnh điểm yếu có thể hạn chế ra sao
trong việc nắm bắt các cơ hội và tạo ra sự khó khăn trong việc chống đỡ
được các mối đe doạ.