Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
Lời nói đầu:
Quản lý là quá trình không thể thiếu được trong mọi tổ chức, hệ thống.
Quá trình quản lý sẽ giúp cho tổ chức tồn tại và phát triển một cách tốt nhất
và hiệu quả nhất. Mọi quá trình quản lý đều được tiến hành theo những chức
năng cơ bản sau:
Lập kế hoach
Tổ chức
Lãnh đạo
Kiểm tra
Mỗi chức năng này đếu có một vai trò, ý nghĩa nhất định trong quá trình
quản lý tổ chức không thể nói chức năng nào quan trọng hơn chức chức
năng nào. Tuy nhiên ta thấy chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên
của quá trình quản lý có thể nói nó là gốc rễ của một cái cây, rồi từ cái gốc
này mọc ra những cành, nhánh là tố chức, lãnh đạo, kiểm tra. Có thể nói
chức năng lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với quá trình
quản lý. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “hoàn thiện và nâng cao công tác
lập kế hoạch SXKD tại công ty Cổ phần Sông Đà 11” làm đề tài nghiên cứu.
Đề tài được chia làm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận
Phần 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch tại công ty Cổ phần Sông Đà 11
Phần 3: Hoàn thiện và nâng cao công tác lập kế hoạch tại công ty
Thông qua đề tài này ngoài mục đích nâng cao các lý thuyết đã học, vận
dụng các nguyên lý vào trong thực tiễn để giải quyết các vướng mắc tồn tại
qua đó rút ra được các kinh nghiệm trong quản lý. Thì đề tài còn có nhiệm
vụ là tìm hiểu công tác lập kế hoạch tại công ty Cổ phần Sông Đà 11 từ đó
phát hiện ra những vướng mắc, tồn tại cần khắc phục cần được hoàn thiện.
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
1
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
Cuối cùng từ tình hình thực tế và từ nguyên lý của lập kế hoạch mà đưa ra
đó.
Theo như cách hiểu này thì lập kế hoạch nó bao gồm ba giai đoạn :
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn thiết lập các mục tiêu cho tổ chức.
Giai đoạn thứ hai là xắp xếp các nguồn lực để tổ chức đạt được mục tiêu
đã định dó
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quyết định về những hành động của tổ chức
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
3
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
Thứ ba: lập kế hoạch là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác
định biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó( Quản trị học PGS TS
nguyễn thị liên diệp)
Hoặc
Thứ tư: hoach định là quá trình chuẩn bị đối phó với sự thay đổi và tính
không chác chắn bằng việc trù liệu những cách thức hành động trong tương
lai.( Quản trị học Nguyễn Hải San)
Thư năm: lập kế hoạch là quá trình xác định những mục tiêu của tổ chức
và phương thức tốt nhất để đạt được những mục tiêu đó.
Như vậy công tác lập kế hoạch theo nghĩa trên phải bao gồm đồng thời
hai quá trình xác định mục tiêu (cái gì cần phải làm); xác định con đường
cần đạt đến mục tiêu (làm cái đó như thế nào).
Hoặc có thể hiểu lập kế hoạch là việc xác định mục tiêu, xây dựng chiến
lược tổng thể để đạt đến mục tiêu, triển khai hệ thống kế hoạch, thống nhất
và phối hợp hành động: lập kế hoạch có thể là chính thức hoặc phi chính
thức:
Kế hoạch chính thức: là kế hoạch được xây dựng bằng văn bản, được
công bố rõ rang và có sự chia sẻ và phân công công việc cụ thể để các thành
viên trong tổ chức đều nắm được.
Kế hoạch phi chính thức : là kế hoạch xây dựng theo ý tưởng của người
lãnh đạo, các thành viên không nắm được vì nó chưa được công bố chính
Trong các doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp thường coi trọng những
cơ hội kinh doanh trong tương lai luôn rộng mở, và họ giữ những kế hoạch
cuả mình trong đầu. Còn những doanh nghiệp có tầm cỡ lớn hơn, người ta
có thể lên những kế hoạch tài chính chi tiết và thực hiện hang loạt công việc
nghiên cứu thị trường.
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
5
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
Việc lập kế hoạch kinh doanh có thể đáp ứng được cả hai yêu cầu trên thì
kết quả sẽ có là một tài liệu tương đối súc tích, bản kế hoạch kinh doanh này
cũng có thể được sử dụng cho nhiêu mục đích khác nhau, và như vậy hình
thức trình bày bản kế hoạch tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của nó.
2. Mục đích của kế hoạch
Nghiên cứu và quản lý sự thay đổi: Môi trường phát triển tất yếu
dẫn đến sự thay đổi. Một lĩnh vực được ưu tiên sẽ là nghiên cứu
những thay đổi mới có liên quan đến hang hoá và thị trường. Sự thay
đổi của môi trường và những yếu tố nội bộ sẽ là những yếu tố làm cản
trở việc thực hiện kế hoạch.
Vạch ra những con đường phát triển gắn bó: Đó là đảm bảo tính liên kết
giữa các mục tiêu và phân chia các nguồn vốn của doanh nghiệp. Các mục
tiêu phối hợp sẽ được phản ánh ở các kế hoạch sản xuất, tài chính, tiếp thị,
ngân sách ……
Cải thiện hiệu năng của doanh nghiệp: Công tác kế hoạch cho phép tối ưu
hoá nguồn vốn của doanh nghiệp, thông qua việc thực hiện hoạch định kinh
doanh mà tài nguyên không bị lãng phí, từ đó doanh nghiệp ấn định mục tiêu
tiến độ, và có tính khả thi.
Hợp thành phương tiện quản lý: Kế hoạch hoá thuộc kỹ thuật hợp lý hoá
quá trình ra quyết định và tạo thành nền tảng cho hoạt động quản trị kinh
doanh. Kế hoach hoá là một trong những phương tiện quản lý gồm các nội
dung cơ bản sau: Chuẩn đoán, xây dựng chiến lược, kế hoạch hoá thực sự.
chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của kế hoạch hoạt động do anh ta chủ
động soạn thảo hoặc lãnh đạo soạn thảo.
Ngoài ra, việc chuẩn bị bản kế hoạch tạo cơ hội hoàn thiện những
phương pháp kế hoạch hoá được sử dụng trong công việc kinh doanh, đồng
thời giúp cho việc trình bày về doanh nghiệp của tổ chức trước các đối tác
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
7
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
mang tính chuyên nghiệp hơn, tổ chức có thể quyết định lập một kế hoạch
nhằm đáp ứng một hay nhiều nhu cầu như:
− Tìm kiếm nguồn tài trợ, một kế hoạch kinh doanh tốt là công cụ có
tính thuyết phục nhất mà tổ chức có thể sử dụng, đồng thời cũng là tài
liệu bắt buộc phải có đối với các tổ chức.
− Đưa ra định hướng, quá trình chuẩn bị bản kế hoạch giúp tổ chức suy
nghĩ một cách khách quan về doanh nghiệp của mình, về những điểm
mạnh điểm yếu nội tại, những cơ hội và mối đe doạ từ bên ngoài, sự
cần thiết và thời điểm ra những quyết định chiến lược.
− Truyền đạt được tới đối tác tới nhà đầu tư cũng như những nhân viên
chủ chốt, qua đó củng cố nềm tin vào các mối quan hệ, sự tín nhiệm
cũng như khuyến khích và tập trung hơn nữa những nỗ lực của nhân
viên, tóm lại là tạo ra được một tầm nhìn chung.
− Tạo ra những công cụ quản lý mới, quá trình chuẩn bị một bản kế
hoạch sẽ cung cấp những phương tiện quản lý có lợi về lâu dài cho tổ
chức. Những phương pháp này có thể được sử dụng lại khi các bản kế
hoạch được cập nhật hoặc lập cho những mục đích khác.
Vd: vì sao các doanh nghiệp nhỏ ít lập kế hoạch kinh doanh:
Như ta biết kế hoạch kinh doanh là một bản tổng hợp các công việc từ ý
tưởng kinh doanh, hoạch định kinh doanh của một dự án kinh doanh, đầu tư
… một kế hoạch kinh doanh tốt chỉ ra các vấn đề cần thiết để chuẩn bị trước
khi thực hiện dự án đầu tư và những việc cần phải làm khi thực hiện dự án
nghiệp này làm ăn dở, mà nhiều khi ngược lại. Nhưng nếu không có chiến
lược kinh doanh và kế hoạch kinh doanh cụ thể thì dù các doanh nghiệp có
làm ăn khấm khá nhưng vẫn gặp phải nhiều khó khăn, nhất là khi gặp phải
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
9
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
những cơ hội đầu tư mới, phải ra những quyết định quan trọng, chủ doanh
nghiệp không biết quyết định của mình đúng hay không, khả năng có mang
lại lợi nhuận hay không.
4. Sự cần thiết của kế hoạch
Lập kế hoạch, định hướng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
xuất phát từ những cơ sở chủ yếu sau:
a) Các nguồn tài nguyên hạn chế
sự khan hiếm tài ngưyên là một vấn đề đặc biệt quan trọng bởi nó
sẽ là một căn cứ chủ yếu để có thể dự báo tương lai của cong người.
Các nguồn tài nguyên như dầu mỏ, nước sạch không khí trong lành...
đang ngày càng trở nên khan hiếm là một thách thức ngày càng quan
trọng đối với nhà hoạch định. Nguồn tài nguyên hạn chế đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có kế hoạch để sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn
tài nguyên đó.
b) Tính không chắc chắn của môi trường
Tình trạng không chắc chắn và hậu quả không chắc chắn của môi
trường tác động đến những dự định cho kế hoạch tương lai của nhà
doanh nghiệp, đòi hỏi họ phải dự đoán trước những bất ổn, những rủi
ro có thể xảy ra, những hậu quả không mong muốn đối với hoạt động
kinh doanh của họ.
5. Các loại kế hoạch.
Có nhiều quan điểm khác nhau về kế hoach do đó cũng có rất nhiều loại
kế hoach khác nhau tuỳ theo từng cách phân chia mà người ta chia kế hoạch
thành những loại sau:
− Kế hoạch hoá khả năng thanh toán và kết quả: Mọi bộ phận của hệ
thống kế hoạch hóa đều phải gắn với kế hoạch hoá khả năng thanh
toán và kết quả. Các tính toán kết quả, các cân đối kế hoạch và các kế
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
11
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
hoạch tài chính liên quan đến toàn doanh nghiệp là các công cụ điển
hình của công tác kế hoạch khả năng thanh toán và kết quả. Hệ thống
kế hoạch của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường rất
đa dạng.
b) Căn cứ vào độ dài thời kỳ kế hoạch, hệ thống kế hoạch bao gồm.
− Kế hoạch dài hạn (kế hoạch chiến lược thường gọi là chiến lược)
thường có độ dài thời gian từ 5 năm tới 10 năm. Kế hoạch dài hạn
nhằm xác định các lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp sẽ tham gia, đa
dạng hàng hoá hoặc cải thiện các lĩnh vực hiện tại; xác định các mục
tiêu , chính sách và giải pháp dài hạn về tài chính, đầu tư, nghiên cứu,
phát triển con người….
− Kế hoạch trung hạn (thường chỉ là 2 – 3 năm) nhằm phác thảo các
chương trình trung hạn để thực hiện hoá các lĩnh vực mục tiêu, chính
sách giải pháp được hoạch định trong chiến lược lựa chọn.
− Kế hoạch hàng năm: kế hoạch hàng năm là sự cụ thể hoá của nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược và
kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu, diều chỉnh các căn cứ
xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch.
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
12
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
Ta có sơ đồ sau:
Hôm nay 3 tháng 1 năm 5 năm
Hình 1: Khoảng thời gian tương ứng đối với từng loại kế hoạch
doanh nghiệp, nhằm hoạch định các mục tiêu, chính sách giải pháp về
sản phẩm, thị trường quy mô và cơ cấu các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nó cũng xác định các chỉ tiêu tài chính cơ bản nhằm xác định
hiệu quả của sản xuất kinh doanh gắn với từng phương án được hoạch
định.
− Các kế hoạch điều kiện hay hỗ trợ (về lao động, tiền lương, vật tư,
vốn…) nhằm xác định các mục tiêu giải pháp, phương án huy động,
khai thác các tiềm năng và nguồn lực thực hiện có hiệu quả các
phương án kế hoạch mục tiêu. Việc xây dựng và thực hiện các kế
hoạch điều kiện là nhằm đảm bảo nâng cao tính khả thi của các
phương án và chương trình kế hoạch của doanh nghiệp.
d) Theo phạm vi hoạt động, kế hoạch của doanh nghiêp bao gồm.
− Kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp: Kế hoạch tổng thể của doanh
nghiệp luôn đề cập đến toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, thiết lập những mục tiêu chung của doanh nghiệp và
giá trị của nó đối với môi trường.
− Kế hoạch bộ phận: Kế hoạch bộ phận chỉ đề cập đến từng phần quá
trình sản xuất kinh doanh. Loại kế hoạch này gắn liền với từng lĩnh
vực hoạt động chức năng như: Kế hoạch marketing, kế hoạch sản
xuất, kế hoạch vật tư, kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư, kế hoach
tiền lương….
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
14
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
e) Về phân cấp kế hoạch, trong một tổ chức có hai loại kế hoạch chính:
− Các kế hoach chiến lược: Được lập để hướng tới các mục tiêu của tổ
chức - thực hiện những sứ mệnh ấy là lý do duy nhất đối với sự tồn tại
của tổ chức.
− Các kế hoạch tác nghiệp: Là kế hoạch trình bày rõ chi tiết cần phải
làm như thế nào để đạt được những mục tiêu đã được đặt ra trong kế
thường được xác định cho từng thời kỳ trung hạn và ngắn hạn.
− Kế hoạch sản xuất kinh doanh xây dựng trên cơ sở kế hoạch chương
trình và có nhiệm vụ xác định chính xác các nhân tố sản xuất thành kế
hoạch mua sắm, kế hoạch vật tư, kế hoạch sản xuất, kế hoạch dự trữ
và kế hoạch tiêu thụ.
Các thủ tục: là những hoạt động cần thiết phải làm, một sự hướng dẫn về
hành động thực tiễn một công việc cụ thể nào dó. Ví dụ: thủ tục thanh
toán, thủ tục xuất kho, thủ tục đăng ký kinh doanh…
Các quy tắc: Là những quy định phải tuân theo, quy tắc không cho phép
lựa chọn không cho phép là theo ý riêng.
6. Những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình lập kế hoạch
Trong quá trình lập kế hoạch thì có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng
tới. Tuỳ theo từng loại kế hoach mà các nhân tố đó tác động tới mạnh
yếu khác nhau. Có thể loại nhân tố này ảnh hưởng tới loại kế hoạch
này mạnh hơn loại nhân tố khác và ngược lại. Những nhân tố chủ yếu
tác động tới quá trình lập kế hoạch:
Cấp quản lý:
Cấp quản lý khác nhau thì tồn tại những loại kế hoach khác nhau.
Cấp quản lý càng cao thì kế hoạch càng mang tính chiến lược và
ngược lại. Cấp quản lý cao co vai trò rất quan trọng tới sự tồn tại và
phát triển của tổ chức do cấp quản lý cao thì vạch ra các kế hoạch
mang tính chiến lược dài hạn. Nếu kế hoạch đó đúng phù hợp với xu
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
16
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
hướng thì tổ chức đó phát triển, nếu kế hoạch đó là sai lầm thì dẫn tới
tổ chức có thể bị suy thoái và không tồn tại được.
Môi trường:
Tính chất kế hoạch phụ thuộc vào sự biến động của môi trường.
Các tổ chức luôn phải hoạt động trong một môi truờng nhất định.
các kế hoạch được đặt ra phải phù hợp với các quy định, chính sách của nhà
nước điều này là rất quan trọng. Khi tổ chức lập một kế hoạch nào đó thì tổ
chức đó phải tìm hiểu xem công việc minh định làm có trái với các chính
sách của nhà nước không nếu tổ chức đó không tìm hiểu kỹ rất có thể kế
hoạch đó của tổ chức không phù hợp không được Nhà Nước cho phép thực
hiện gây lãng phí cho tổ chức.
Thời gian thực hiện mục tiêu:
Thời gian cũng có tác động rất lớn tới kế hoạch, kế hoạch có thể đúng
trong một thời gian ngăn nhưng lại là sai lầm khi mà thời gian thực hiện các
kế hoạch đó là dài. Do các kế hoạch là sự dự trù các mục tiêu cần đạt tới
trong tưong lai mà trong tương lai thì không ai có thể biêt chính xác được do
đó thời gian càng dài thì các kế hoạch càng mang tinh định hứớng và các kế
hoạch đó rất dễ mắc sai lầm.
Năng lực của người lập kế hoạch:
Kế hoạch là do con người đặt ra và đưa ra các mục tiêu xác định một
tương lai cụ thể của tổ chức đó. Do đó nó rất dễ mắc phải các sai lầm, nó
phụ thuộc vào năng lực của người lập kế hoạch rất lớn, nếu người lập kế
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
18
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
hoạch là người có chuyên môn trình độ và có sự nghiên cứu kĩ lưỡng thì kế
hoạch đó sẽ có giá trị, nếu như kế hoạch được lập ra chỉ vì ý chủ quan của
người lập kế hoạch thì nó rất có thể làm cho tổ chức thiệt hại.
Thị trường:
Các kế hoạch của các tổ chức sản xuất đều phải theo định hướng của thị
trường. Nhu cầu của thị truờng là một trong những yếu tố mà các tổ chức
cần phải đáp ứng, thị trường hướng cho tổ chức phải sản xuất cái gì, giá cả
như thế nào không thể sản xuất những sản phẩm mà thị trường không mong
muốn.
Các nguồn lực của tổ chức:
thể có hai loại mục tiêu hàng đầu và mục tiêu hàng thứ hai, những
mục tiêu hàng đầu liên quan tới sự sống còn và sự thành đạt của tổ
chức. Đối với một công ty đó là những mục tiêu về lợi nhuận, doanh
số hay thị phần. Không đạt được một mức lợi nhuận, mức doanh thu
hay mức thị phần nhất định trong một thời kỳ nào đó công ty có thể bị
phá sản. Mục tiêu hàng thứ hai lại liên quan tới tính hiệu quả của công
ty hay tổ chức. Chúng cũng rất quan trọng đối với sự thành công của
tổ chức nhưng không phải lúc nào cũng ảnh hưởng tới sự sống còn
của tổ chức. Các mục tiêu này thể hiện ở sự quan tâm của khách hàng
tới sản phẩm của tổ chức, sự phát triển sản phẩm mới hay tính hiệu
quả của công tác quản lý hành chính.v..v.. Trong những năm gần đây,
các tổ chức cả khu vực nhà nước và tư nhân dường như đều chú trọng
tới các mục tiêu hàng thứ hai để thu hút khách hàng, được coi là ảnh
hưởng lâu dài tới sự sống còn của tổ chức và cả các mục tiêu hàng thứ
nhất với sự ảnh hưởng trực tiếp và trước mắt hơn. Cho dù có chú
trọng tới mục tiêu nào hơn chăng nữa thì điều quan trọng la phải xác
định các mục tiêu thạt rõ ràng, có thể đo lường được và mang tính khả
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
20
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
thi. Ngoài ra, cũng cần xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện
mục tiêu và thời hạn hoàn thành.
3. Bước 3: Phát triển các tiền đề
Bước tiếp theo là bước phát triển các tiền đề. Từ bước thứ hai khi
đã thiết lập được các mục tiêu của tổ chức thì tiếp theo ta phải phát
triển các tiền đề để thực hiện các mục tiêu đó. Tiền đề lập kế hoạch là
các dự báo, các chính sách cơ bản có thể áp dụng. Chúng là giả thiết
cho việc thực hiện kế hoạch. Đó có thể là địa bàn hoạt động, mức giá ,
sản phẩm gì, triển khai công nghệ gì, mức chi phí mức lương, mức cổ
tức và các khía cạnh tài chính, xã hội chính trị khác.
ra quyết định. Sau quá trình đánh giá các phương án thì một vài phương án
tốt nhất sẽ được lựa chọn. Các phương án được lựa chon không nhất thiết
phải là các phương án mang lại hiệu quả kinh tế cho tổ chức mà có thể
phương án được lựa chọn lại mang lại môi trường tốt hơn hay mang lại ý
nghĩa xã hội. Các phưong án được lụa chọn tuỳ thuộc vào tổ chức đó là tổ
chức vì lợi nhuận hay là tổ chức phi lợi nhuận.
Vd: Có hai phương án một là tối đa hoá lợi nhuận và thứ hai là mục tiêu
tổng hợp cả về lợi nhuận lẫn kinh tế xã hội tuy nhiên mức lợi nhuận mà
phương án thư hai có thể rất thấp hay có khi là không có. Nếu là tổ chức
hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì nhất định tổ chức đó sẽ chọn phương án
thứ nhất nhưng nếu là tổ chức hoạt động phi lợi nhuận như nhà nước, các tổ
chức nhân đao thì chưa chắc họ đã chon phương án thứ nhất mà rất có thể họ
sẽ chon phương án thứ hai.
Khi đã ra quyết định chon được một vài phương án phù hợp thì lúc này
cần ra quyết định để phân bổ con người và các nguồn lực khác của tổ chức
cho việc thực hiện các kế hoạch đó. Quá trình lập kế hoạch không chỉ dừng
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
22
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Khoa học quản lý
ở đây mà tiếp theo sẽ là việc xây dựng các kế hoạch phụ trợ và lượng hoá kế
hoạch bằng ngân quỹ để thực hiện kế hoạch đó một cách tốt nhất.
III. Một số mô hình phân tích và lập kế hoạch
Trong quá trình lập kế hoạch thì tổ chức sử dụng rất nhiều các phương
pháp và các công cụ để giúp cho quá trình lập kế hoach một cách tốt nhất.
Các phương pháp phân tích mà tổ chức thường hay sử dụng là:
Sở đồ mạng Pert
Sơ đồ đường Gantt
Mô hình ma trận BCG
Giá trị
Đánh giá
ra sẽ có thể nắm bắt được các cơ hội và sẵn sàng đối phó với các đe doạ có
thể xảy ra. Trong thực tế, mô hình SWOT được sử dụng khá rộng rãi và
được coi là một công cụ phân tích chiến lược hiệu quả. Người ta có thể dựa
vào kết quả của việc phân tích theo mô hình SWOT để lập lên ma trận
SWOT nhằm giúp cho việc đưa ra các giải pháp chiến lược. Ma trận SWOT
có dạng như mô tả trong sơ đồ sau:
Cơ hội Đe doạ
o
1
o
h
t
1
t
k
s
1
Điểm
mạnh
s
n
w
1
Điểm
yếu
w
m
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
24
s
o
h
s
n
t
1
s
n
t
k
w
1
o
1
w
1
o
h
w
1
t
1
w
1
t
k
w
i
o
chính xác thực tế và khả thi vì doanh nghiệp sẽ sử dụng kết quả đó để thực
hiện những bước tiếp theo như: Hình thành chiến lược, mục tiêu chiến lược
chiến thuật và cơ chế kiểm soát chiến lược cụ thể. Chiến lược hiệu quả là
những chiến lược tận dụng được các cơ hội bên ngoài và sức mạnh bên trong
cũng như vô hiệu hoá được những nguy cơ bên ngoài và hạn chế hoặc vượt
qua được những yếu kém của bản thân doanh nghiệp.
VD vào thời kỳ 1990, khi khối Đông âu sụp đổ Công ty Công nghiệp cao
su miền nam (Casumina) mất một thị trường quan trọng với 15 triệu vỏ
lốp/năm trong lúc đang gánh lên vai món nợ của những năm trước, công ty
chỉ còn sản xuất khoảng 20% công suất.
Vào thời kỳ đó, công ty đã kịp thời có những thay đổi đúng đắn trong
chiến lược kinh doanh quốc tế đó là ban đầu thì tiếp cận công nghệ cao với
chi phí thấp khi kí hợp đồng liên doanh và chế biến cho các đối tác của
Nhật, khai thác sự trợ giúp kỹ thuật từ đối tác sau đó áp dụng chiến lược tạo
ra sự khác biệt cho sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm nhờ vào
kết quả của việc phân tích SWOT cho điều kiện môi trường kinh doanh của
Casumina, cụ thể là: S: công ty có đội ngũ lãnh đạo có năng lực, đội ngũ
công nhân gắn bó với công ty, W : công ty chưa có kinh nghiệm về sử dụng
Hoàng Xuân Quỳnh Lớp: QLKT 46A
25