Luận Văn
Nâng cao hoạt động
xúc tiến thương mại du
lịch tỉnh Bến Tre
Mục Lục
Mục Lục 2
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 4
TỔNG QUAN VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI DU LỊCH 4
I- Khái niệm về xúc tiến thương mại du lịch: 4
1- Khái niệm về xúc tiến thương mại (XTTM), xúc tiến du lịch (XTDL): 4
2- Phân định nội dung cơ bản của XTTM, XTDL: 4
2.1. XTTM, XTDL vĩ mô: 4
KẾT LUẬN 54
55
PHỤ LỤC 1 56
TỔ CHỨC TUẦN LỄ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ HỘI CHỢ
THƯƠNG MẠI DU LỊCH 56
PHỤ LỤC 2: 58
THAM GIA HỘI CHỢ TRONG NƯỚC TỪ 2001 - 2006 58
PHỤ LỤC 3 60
KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG TỪ 2001 - 2006 60
PHỤ LỤC 4 61
TỔ CHỨC HỘI THẢO, TỌA ĐÀM, HỘI THI TỪ 2001 – 2006 61
PHỤ LỤC 5 63
TỔ CHỨC TẬP HUẤN, ĐÀO TẠO TỪ 2001 - 2006 63
MỞ ĐẦU
Thời gian qua, hoạt động xúc tiến thương mại du lịch (XTTMDL) trên địa
bàn tỉnh Bến Tre có bước phát triển tích cực, đúng hướng, đã góp phần hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh,
tìm kiếm khách hàng mới, thị trường mới, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế
thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”. Dưới góc độ kinh
doanh quốc tế, XTTM bao gồm xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu, XTTM
nội địa.
XTDL là tất cả các biện pháp có tác dụng hỗ trợ, khuyến khích phát triển
du lịch như: cung cấp thông tin, tuyên truyền quảng bá sản phẩm du lịch thông
qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông đại chúng, tổ chức các đoàn fam trip,
tổ chức, tham gia các sự kiện du lịch: lễ hội, hội chợ, triển lãm, khảo sát thị
trường, đào tạo nâng cao năng lực hoạt động du lịch cho các doanh nghiệp,
nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động du lịch
2- Phân định nội dung cơ bản của XTTM, XTDL:
2.1. XTTM, XTDL vĩ mô:
Hoạt động XTTM, XTDL vĩ mô là họat động XTTM, XTDL của Chính
phủ, với những nội dung chủ yếu sau:
- Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về XTTM,
XTDL, xây dựng các chương trình và chiến lược XTTM, XTDL cấp quốc gia.
- Điều phối hoạt động giữa các Bộ, các cơ quan hỗ trợ XTTM, XTDL và
cộng đồng doanh nghiệp.
4
- Thiết lập và điều hành mạng lưới các đại diện thương mại – du lịch của
chính phủ ở nước ngoài.
- Hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
- Tham gia đào tạo nguồn nhân lực.
- Dịch vụ thông tin thương mại du lịch.
2.2. XTTM, XTDL của các tổ chức phi Chính phủ:
- Phối hợp hoạt động XTTM, XTDL với các cơ quan Chính phủ.
- Tăng cường các dịch vụ hỗ trợ dựa trên chức năng, nhiệm vụ và lợi thế
cạnh tranh của từng đơn vị.
- Tăng cường năng lực cung cấp dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp.
- Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động XTTM, XTDL.
2.3. XTTM, XTDL của tỉnh, thành phố:
- Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI): có tất cả 5.697 hội
viên, với các chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đã Nẵng, Hải Phòng, Cần
Thơ, Vũng Tàu; văn phòng đại diện tại tỉnh Khánh Hóa, Thành phố Vinh, Thanh
Hóa.
- Hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ doanh nghiệp: (cả nước hiện có 66 hiệp
hội ngành nghề).
- Hiệp hội du lịch, câu lạc bộ du lịch các tỉnh, thành phố trong cả nước
Các doanh nghiệp dịch vụ chuyên môn hóa xúc tiến thương mại:
Có trên 100 công ty tư vấn, công ty kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm,
quảng cáo trong cả nước.
XTTM, XTDL của địa phương:
Hiện nay 64 Tỉnh/Thành phố trên toàn quốc đã có bộ phận chuyên trách về
XTTM, XTDL. Tại địa phương, đa phần các đơn vị xúc tiến được tổ chức dưới
hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, được nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động.
2- Về kinh phí hoạt động XTTM, XTDL giai đoạn 2001- 2005:
Kinh phí hoạt động XTTM:
Thực hiện theo Thông tư số 86/2002/TT-BTC ngày 27 tháng 9 năm 2002
về hướng dẫn chi hỗ trợ hoạt động XTTM đẩy mạnh xuất khẩu. Trong đó quy
định rõ về kinh phí hỗ trợ XTTM của trung ương và địa phương như sau:
Kinh phí hỗ trợ XTTM của Trung ương:
6
- Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách bằng 0,25% tính trên trị
giá tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm trước (trừ dầu thô) chuyển vào quỹ hỗ
trợ các chương trình XTTM trọng điểm quốc gia để hỗ trợ các doanh nghiệp
trong cả nước đẩy mạnh xuất khẩu. Chủ trì các chương trình là các Hiệp hội
ngành hàng, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các cơ quan XTTM
thuộc Bộ, ngành. Nhà nước hỗ trợ từ 50% – 70% kinh phí XTTM thông qua các
đơn vị chủ trì chương trình; doanh nghiệp đóng góp từ 30% - 50% tùy theo
chương trình.
Kinh phí hỗ trợ XTTM của địa phương:
tại một số nước là thị trường trọng điểm nhằm giới thiệu sản phẩm, hỗ trợ doanh
nghiệp tìm kiếm khách hàng xuất khẩu.
- Các tổ chức XTTM địa phương cũng đã tổ chức showroom trưng bày
giới thiệu hàng hóa tại địa phương, trong nước, nhằm tiếp thị sản phẩm, tiếp
nhận thông tin từ khách hàng phản hồi cho các doanh nghiệp
Hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử:
Bộ Công Thương là đầu mối xây dựng Kế hoạch tổng thể phát triển
thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
và đã triển khai đến các địa phương chương trình phổ biến, tuyên truyền và đào
tạo về thương mại điện tử nhằm giúp các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh
trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Thời gian qua, các địa phương cũng đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến
nâng cao nhận thức về thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dung thương
mại điện tử thông qua các lớp tập huấn, đào tạo, hội thảo, ứng dụng các phần
mềm trong hoạt động Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công Thương, hiện nay
việc ứng dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp còn rất yếu.
Tổ chức hội chợ triển lãm trong nước:
- Mỗi năm có khoảng 300 lượt hội chợ triển lãm (HCTL) được thực hiện
trên cả nước. Các hội chợ thường từ 100 - 200 gian hàng. Một số ít hội chợ có từ
500 – 700 gian hàng.
- Các hội chợ chuyên ngành đang có xu hướng ngày càng ổn định và phát
triển. Các hội chợ vùng cũng ngày càng được các địa phương và doanh nghiệp
ủng hộ. Hội chợ triển lãm tại địa phương thường là hội chợ thương mại du lịch
gắn kết với các ngày lễ lớn, lễ hội truyền thống của địa phương, kết hợp với các
hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: hội thảo, hội thi, tọa đàm,
gặp gỡ, giao lưu giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Tổ chức các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài – Tham gia hội chợ
triển lãm tại nước ngoài:
- Do được sự hỗ trợ của các chương trình XTTM trọng điểm quốc gia nên
quy mô, chất lượng của các đoàn doanh nghiệp Việt Nam khảo sát thị trương và
về nước và mở hội nghị gặp gỡ giữa tham tán thương mại với các doanh nghiệp
để tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhờ Tham tán thương mại hỗ trợ XTTM,
nghiên cứu thị trường, xuất khẩu hàng hóa sang các nước.
Nhìn chung, bước đầu hoạt động của các tổ chức XTTM trong cả nước đã
mang lại một số hiệu quả cho doanh nghiệp, đã hỗ trợ các doanh nghiệp Việt
Nam các cơ hội kinh doanh, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường… Tuy
vậy, tính tự phát còn khá cao. Đánh giá tổng quát hệ thống tổ chức và hiệu quả
9
hoạt động công tác XTTM của cả nước hiện nay còn manh mún, thiếu sự kết nối
thành hệ thống, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, hiệu quả hoạt động chưa cao,
vai trò nhà nước trong lĩnh vực này chưa thể hiện rõ. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho
các hoạt động XTTM như các trung tâm hội chợ triển lãm, kho ngoại quan, hạ
tầng công nghệ thông tin… chưa được đầu tư hiện đại hóa và xây dựng thêm.
Tuy vậy, đứng trước những thách thức về cạnh tranh ngày càng quyết liệt đối với
các doanh nghiệp nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã xác định công tác XTTM
nhất thiết phải được nhà nước can thiệp tốt hơn và đóng vai trò động lực.
3.2- Tình hình XTDL cả nước:
Hoạt động XTDL của Chính phủ được thực hiện thông qua Chương trình
hành động quốc gia về du lịch 2000 – 2005, các chương trình XTDL cấp quốc
gia do Tổng cục Du lịch chủ trì xây dựng và phối hợp với các địa phương triển
khai thực hiện. Kết quả thực hiện XTDL giai đoạn 2000 – 2005 như sau:
Thông tin tuyên truyền:
- Xây dựng các chương trình giới thiệu du lịch Việt Nam trên Đài truyền
hình Trung ương, địa phương. Mời 38 đoàn đại diện các hãng lữ hành, thông tấn
báo chí của các thị trường gửi khách lớn vào tham quan, khảo sát và viết bài giới
thiệu về du lịch Việt Nam.
- Xây dựng 4 websites, phát hành CD-ROM Di sản Thế giới ở Việt Nam,
CD-ROM Lễ hội truyền thống Việt Nam (bằng 3 ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp).
Xây dựng các loại sản phẩm quảng bá du lịch:
Xây dựng 92 biển quảng cáo, 4,5 triệu đầu ấn phẩm, cung cấp 32.000 kg
phương, tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, hội thi chuyên ngành về du lịch,
tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho các doanh nghiệp và cộng đồng dân
cư.
Nhìn chung, hoạt động XTDL của Trung ương và địa phương từ 2000-
2005 đã tạo ra một bước nhảy vọt về chất, làm chuyển biến nhận thức và hành
động của các cấp uỷ đảng, chính quyền một số địa phương, huy động nhiều
nguồn lực cho sự nghiệp phát triển du lịch của cả nước. Tuy nhiên, việc đầu tư
cho XTDL một số địa phương chưa được quan tâm. Ở các địa phương, bộ phận
chuyên trách XTDL chưa được đào tạo về chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ mới trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay. Việc
gắn kết và vai trò chỉ đạo, tư vấn về ý tưởng, hướng dẫn nội dung, chuyên môn,
kỹ thuật về XTDL của Cục XTDL đối với các trung tâm XTDL địa phương chưa
thể hiện rõ nét. Các hoạt động XTDL ở nước ngoài chưa được tiến hành một cách
sâu rộng, thường xuyên và hiệu quả tới các đối tượng khách sở tại do Tổng cục
Du lịch chưa có Văn phòng đại diện ở nước ngoài.
III- Bài học kinh nghiệm qua hoạt động XTTM, XTDL:
Qua nghiên cứu hoạt động XTTM, XTDL quốc gia và một số tỉnh, thành.
Một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ hoạt động XTTM, XTDL:
11
1. Nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của XTTM, XTDL.
Sự phát triển về số lượng, qui mô hoạt động XTTM, XTDL của quốc gia,
tỉnh, thành, doanh nghiệp đã khẳng định vị trí, vai trò của hoạt động XTTM,
XTDL, đồng thời chỉ ra rằng hoạt động XTTM, XTDL không những xuất phát từ
yêu cầu khách quan của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế mà còn khởi nguồn từ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước.
Sự nhận thức đúng về vai trò của XTTM, XTDL được chứng minh qua sự
hình thành của hệ thống trung tâm XTTMDL của các tỉnh, thành phố trong cả
nước. Tuy nhiên, nhận thức về phạm vi, nội dung hoạt động, mô hình tổ chức,
qui mô và mức độ đầu tư… cần được củng cố vì đây là yếu tố quyết định, tạo ra
động lực và nâng cao hiệu quả hoạt động XTTM, XTDL.
hàng, thị trường, đẩy mạnh hoạt động thương mại du lịch. Một số hoạt động
XTTMDL được tập trung tiến hành từ 2001-2006:
1- Về cung cấp thông tin thị trường Quảng bá thông tin:
- Bản tin Thương mại: đã phát hành 916 số với trên 36.640 bản tin thương
mại cho các cơ quan, địa phương, doanh nghiệp trong tỉnh. Nội dung bản tin: bao
gồm thông tin thị trường trong nước, ngoài nước, văn bản pháp luật mới ban
hành về thương mại, thuế quan, cơ hội kinh doanh…
- Bản tin Thế giới cây dừa: đã phát hành 125 số với 3020 bản tin thế giới
và cây dừa cho các cơ quan, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu các
sản phẩm dừa trong tỉnh. Nội dung bản tin bao gồm thông tin về thị trường, sản
xuất, chế biến, XNK các sản phẩm dừa trên thế giới…
- Xây dựng website ngành Thương mại Du lịch: www.bentretrade.gov.vn
với chức năng cung cấp thông tin về tình hình hoạt động thương mại du lịch cả
nước, tỉnh Bến Tre quảng bá thông tin sản phẩm doanh nghiệp đến các thị trường
trong nước, ngoài nước, tìm cơ hội hợp tác sản xuất kinh doanh thương mại, du
lịch.
Hiện nay, thông tin thương mại về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu, tuy
nhiên còn thiếu nhiều thông tin đã qua xử lý hoặc thông tin mang tính chất dự
báo. Một trong những khó khăn là chi phí thu thập thông tin quá cao và đòi hỏi
có cán bộ chuyên sâu trong từng lĩnh vực. Về phía doanh nghiệp, đối tượng sử
dụng thông tin để phục vụ việc ra quyết định kinh doanh, nhìn chung năng lực
thu thập, xử lý thông tin còn chưa cao, nhiều trường hợp doanh nghiệp còn chưa
xác định rõ doanh nghiệp mình cần thông tin gì. Đây là vấn đề bức xúc cần được
quan tâm thích đáng trong thời gian tới để tìm ra giải pháp từ cả hai phía.
13
2- Về quảng bá thông tin:
- Xây dựng đĩa VCD giới thiệu tiềm năng phát triển thương mại, du lịch
bằng 3 ngôn ngữ Việt – Anh – Hoa để quảng bá thông tin sản phẩm, doanh
nghiệp ra thị trường trong nước, ngoài nước.
- Xây dựng và phát hành sách: “Chào mừng quý khách đến Bến Tre”, tập
nhân kỷ niệm ngày Bến Tre Đồng khởi 17/1 hàng năm từ năm 2000 –
2007
Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa – Hội chợ thương mại, du lịch là hoạt
động thường kỳ, mang tính truyền thống của ngành thương mại, du lịch, gắn liền
với lễ kỷ niệm ngày truyền thống Đồng khởi 17 tháng 01 của tỉnh Bến Tre đã thu
được nhiều kết quả khả quan, tổ chức liên tục 7 lần từ năm 2000-2007.
- Về tổ chức Hội chợ: quy mô tổ chức từ 50 gian hàng đến 233 gian hàng;
Số doanh nghiệp tham gia ngày càng tăng, từ 38 đơn vị đến 150 đơn vị. Trong
đó, các doanh nghiệp trong tỉnh chiếm 25%; huy động ngày càng nhiều các
doanh nghiệp lớn, có thương hiệu được khẳng định trên thị trường tham gia; Các
dịch vụ phục vụ hội chợ ngày càng đa dạng, từng bước nâng chất lượng họat
động đạt tiêu chuẩn hội chợ quốc gia.
- Các nội dung hoạt động chương trình Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa
như: hội thảo, tọa đàm, lớp học, hội thi… bám sát vào nhu cầu của doanh nghiệp
trong từng thời điểm, đã giúp các doanh nghiệp thương mại nghiên cứu thị
trường, nghiên cứu các sản phẩm mới, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, người tiêu
dùng, giao lưu, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, mở rộng thị
trường, đồng thời học tập được nhiều kinh nghiệm của các doanh nghiệp thành
phố, tỉnh bạn.
Thông qua tổ chức các sự kiện tại tỉnh, cũng đã tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp du lịch giao lưu với các doanh nghiệp ngoài tỉnh xây dựng các chương
trình liên kết, đồng thời giới thiệu các sản phẩm du lịch, tour, tuyến nhằm thu hút
khách du lịch đến Bến Tre.
Nhìn chung, Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hội chợ thương mại du
lịch đã được các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh ủng hộ, nhiệt liệt hưởng ứng và
thật sự là ngày hội của người dân trong tỉnh. Về quy mô, nội dung, hình thức và
chất lượng phục vụ ngày càng được nâng lên. Từng nội dung chương trình được
chuẩn bị chu đáo và triển khai thực hiện đạt kết quả, có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các ngành chức năng và các thành viên trong Ban chỉ đạo đã góp phần cho sự
thành công chung của Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hội chợ thương mại
chế.
5- Khảo sát thị trường từ 2002 – 2006:
Tổ chức 8 chuyến khảo sát thị trường trong nước, phối hợp tổ chức hoặc
tham gia 5 đoàn khảo sát thị trường ngoài nước tập trung vào thị trường Trung
Quốc, Đài Loan, Campuchia, Thái Lan. Thông tin về nội dung của các đoàn khảo
sát thị trường do Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại, Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội ngành hàng tổ chức để các doanh
nghiệp quan tâm tham dự.
Thông qua các chuyến khảo sát thị trường, các doanh nghiệp đã được
cung cấp thông tin về chính sách luật pháp, nhu cầu thị trường, điều kiện xuất
16
khẩu, trực tiếp gặp gỡ, giao lưu, tiếp thị, quảng bá tìm kiếm cơ hội kinh doanh
với các doanh nghiệp nước ngoài.
+ Sau chuyến khảo sát thị trường các tỉnh phía Bắc, Cơ sở Thu mua trái
cây Huỳnh Mai đã mở rộng thị trường xuất khẩu trái cây qua Cửa Khẩu Hà khẩu
(Lào Cai), Cửa khẩu Móng cái (Quảng Ninh); Cơ sở Thạch dừa Trương Phú
Vinh đã liên kết với doanh nghiệp Hà Nội để xuất khẩu thạch dừa sang Trung
Quốc, Trung Đông.
+ Sau khi tham gia chuyến khảo sát thị trường Campuchia; Cơ sở Thu
mua trái cây Hùynh Mai đã tìm được đối tác xuất khẩu trái cây qua Campuchia
(mỗi ngày xuất từ 10 - 15 tấn trái cây).
+ Sau khi tham gia chuyến khảo sát thị trường Đài Loan, HTX Cửu
Long đã gặp gỡ và mở rộng mối quan hệ giao thương với 2 khách hàng tại Đài
Trung; Công ty TNHH Đông Á đã tìm được 1 khách hàng mới xuất khẩu kẹo dừa
sang Đài Loan.
+ Thông qua các chuyến khảo sát trao đổi kinh nghiệm về phát triển du
lịch, các địa phương, các doanh nghiệp du lịch đã tìm hiểu về các sản phẩm du
lịch, các loại hình dịch vụ phục vụ du lịch, phong cách phục vụ… để vận dụng
cho việc phát triển du lịch của địa phương.
Thời gian qua, các doanh nghiệp của tỉnh có nhu cầu khảo sát thị trường
cấp cho các doanh nghiệp nhiều thông tin mới về thị trường, tìm giải pháp để đẩy
mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, trang bị cho các doanh nghiệp một số kiến
thức cơ bản về nghiệp vụ kinh doanh thương mại du lịch.
Nhìn chung, các chương trình XTTMDL trong thời gian qua được xây
dựng và có bước chuẩn bị chu đáo, lựa chọn đối tác hoặc chuyên gia có trình độ,
năng lực để phối hợp, tổ chức chương trình chặt chẽ và triển khai thực hiện đạt
kết quả. Tuy nhiên, thời gian qua, việc triển khai thực hiện các chương trình
XTTMDL còn gặp khó khăn về nguồn nhân lực và kinh phí hỗ trợ các doanh
nghiệp.
II- Hoạt động XTTMDL của các doanh nghiệp:
1- Một số thông tin về doanh nghiệp thương mại và hoạt động XTTM của
các doanh nghiệp:
1.1- Một số thông tin về doanh nghiệp thương mại:
Tính đến cuối năm 2006:
- Tổng số: 1.155 doanh nghiệp (khoảng 50 DNXK), khoảng 26.000 hộ
kinh doanh.
- Vốn đăng ký bình quân: 625,2 triệu đồng/doanh nghiệp; 20 – 30 triệu
đồng/hộ kinh doanh.
- Tổng số lao động: trên 48.000 người.
18
- Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa trong nước: 66,7% doanh nghiệp
- Đăng ký nhãn hiệu ra thị trường nước ngoài: 02 doanh nghiệp
- Về hệ thống quản lý chất lượng: 05 doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn
+ HACCP, GMP, SSOP, ISO 9001 2000, GAP, ACC: 01 DN thủy sản
+ HACCP, GMP, ISO 9001 2000: 01 DN dừa
+ HACCP, GMP, SSOP, ISO 9001 2000: 02 DN thủy sản
+ GMP, ISO 9001 2000, GLP, GSP: 01 DN dược
- Phát triển sản phẩm mới: 26,7% DN quan tâm phát triển sản phẩm mới
- Uy tín sản phẩm và doanh nghiệp: 01 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn hàng
Việt Nam chất lượng cao; 4 doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 2006; sản phẩm các
nhãn hiệu.
- Cơm dừa nạo sấy là sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao nhất trong
các sản phẩm từ dừa, tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu cũng chưa có bao bì đóng gói
và đăng ký thương hiệu hoàn chỉnh, đa số các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm
xuất khẩu, một số doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp nhưng sản phẩm đóng gói
dưới dạng bao lớn và doanh nghiệp nước nhập khẩu nhận hàng về đưa vào dây
chuyền đóng gói lại thành những bao nhỏ lấy thương hiệu của doanh nghiệp nhập
khẩu để phân phối cho hệ thống bán lẻ trong nước hoặc xuất khẩu sang nước thứ
ba. Giá xuất khẩu thường thấp hơn các nước trong khu vực. Ngoài ra, một số
doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước cũng mua cơm dừa nạo sấy của các
doanh nghiệp Bến Tre làm nguyên liệu sản xuất bánh, kẹo, tuy nhiên số lương
không nhiều. Đối với thị trường trong nước, mặt hàng cơm dừa nạo sấy chưa
được tiêu thụ tại các kênh bán lẻ, do người tiêu dùng chưa quen sử dụng cơm dừa
nạo sấy trong chế biến thức ăn. Mặt khác, các doanh nghiệp chưa chú trọng đến
việc quảng bá sản phẩm, phát triển thương hiệu cơm dừa nạo sấy tại thị trường
trong nước.
- Kẹo dừa: phần lớn các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu kẹo dừa có
quan tâm đến việc cơ giới hóa một số công đoạn sản xuất kẹo, tuy nhiên một số
công đoạn như cắt, gói vẫn còn sản xuất thủ công, gây khó khăn trong việc xây
dựng và đăng ký các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm để xuất
khẩu sang các thị trường cao cấp. Thị trường xuất khẩu kẹo dừa hiện nay là
Trung Quốc, Lào, Campuchia. Trong đó có 01 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp,
các doanh nghiệp còn lại xuất khẩu thông qua doanh nghiệp đầu mối ở các tỉnh
biên giới. Ngoài ra, mặt hàng kẹo dừa cũng được tiêu thụ mạnh tại thị trường nội
địa thông qua hệ thống đại lý ở các tỉnh, thành phố, các chợ, siêu thị trong cả
nước.
- Hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa: hiện nay toàn tỉnh có 03 doanh nghiệp
xuất khẩu hàng TCMN, trong đó 01 doanh nghiệp tổ chức sản xuất ra sản phẩm
để xuất khẩu, 02 doanh nghiệp còn lại chủ yếu thu mua sản phẩm từ các cơ sở
20
khẩu trái cây gặp nhiều rủi ro nên hiện nay chưa có doanh nghiệp nào mạnh dạn
đầu tư xuất khẩu trái cây tươi hoặc chế biến xuất khẩu.
Nhìn chung, các doanh nghiệp của tỉnh hầu hết là doanh nghiệp có qui mô
nhỏ, khả năng về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, thu thập thông tin, kinh nghiệm
trên thương trường quốc tế còn hạn chế. Đầu tư công nghệ hiện đại chưa nhiều,
đầu tư thiết kế mẫu mã, bao bì, tiêu chuẩn hóa, vệ sinh thực phẩm, xây dựng
21
thương hiệu hàng hóa, tiếp cận thị trường còn nhiều khó khăn nên sức cạnh tranh
của doanh nghiệp và sản phẩm còn yếu. Thêm vào đó là tình hình sản xuất chế
biến các sản phẩm có ưu thế về nguồn nguyên liệu của tỉnh như: chế biến dừa,
chế biến thủy sản thường gặp khó khăn về nguyên liệu do mùa vụ, hiện nay đang
đứng trước những thử thách lớn, chịu tác động của áp lực cạnh tranh ngày càng
gay gắt trên thị trường trong nước và nước ngoài trước xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế.
1.2- Công tác XTTM của các doanh nghiệp:
Qua kết quả khảo sát họat động XTTM của doanh nghiệp bằng phíêu điều
tra, cho thấy:
- Nghiên cứu thị trường: 33,3% DN có bộ phận nghiên cứu thị trường
- Thông tin phục vụ SXKD: nhận từ tổ chức XTTM: 20%; Báo, đài,
internet: 13,3%; Khách hàng: 13,3%; Kết hợp 3 hình thức trên: 26,7%: Không ý
kiến: 26,7%
- Ứng dụng TMĐT: 33,3% DN xây dựng trang web và trao đổi thông tin
qua email, 33,3% chỉ trao đổi thông tin qua email, 33,4% chưa ứng dung TMĐT
- Các hình thức quảng bá:
+ Xây dựng catalogue, brochure: 46,7 % doanh nghiệp
+ Xây dựng phim tài liệu, đĩa CD, VCD: 20% doanh nghiệp
+ Thành lập showroom giới thiệu sản phẩm: 13,3 % doanh nghiệp
+ Quảng cáo trên mạng, trang web các đơn vị khác: 46,7% doanh
nghiệp
+ Quảng cáo thông qua báo, tạp chí: 46,7% doanh nghiệp
nghiệp tham dự hội nghị gặp gỡ các tham tán thương mại do Bộ Công Thương ổ
chức hàng năm.
Thông qua các chương trình XTTM do tổ chức XTTM của tỉnh tổ chức và
hoạt động XTTM của doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã thu thập được nhiều
thông tin mới về thị trường, giới thiệu được sản phẩm, quan hệ với nhiều khách
hàng mới, mở rộng thị trường xuất khẩu, kim ngạch XK tăng qua các năm. Thị
trường nội địa cũng được mở rộng nhất là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bánh
kẹo, hàng thủ công mỹ nghệ đã tìm được nhiều đại lý tiêu thụ ở thành phố, các
tỉnh trong cả nước.
Qua kết quả tổng hợp các phiếu điều tra cho thấy một số doanh nghiệp chế
biến, xuất khẩu thủy sản như: Công ty Cổ phẩn Xuất Nhập khẩu Thủy sản, Công
ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Lâm Thủy sản, Công ty Cổ phần Thủy sản có quan
tâm đến hoạt động XTTM, đã gắn kết với Hiệp hội Chế biến Xuất khẩu Thủy sản
Việt Nam tham gia các đoàn khảo sát thị trường, các hội chợ chuyên ngành thủy
sản trong nước, ngoài nước, kết quả đã tìm được một số khách hàng mới, thị
23
trường mới. Một số doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu các sản phẩm dừa
quan tâm đến công tác XTTM như: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu, Công ty
Sản xuất Kinh doanh Tổng hợp Đông Á, Công ty TNHH TM DV XNK BTCO,
Công ty TNHH Thanh Bình, HTX Cửu Long, Doanh nghiệp Kẹo dừa Thanh
Long, tuy nhiên phương pháp XTTM còn theo kiểu truyền thống, chưa có điều
kiện tiếp cận với các công cụ XTTM hiện đại. Một số doanh nghiệp còn lại chưa
chú trọng đến công tác XTTM.
Nguyên nhân:
Một số doanh nghiệp thiếu hiểu biết thấu đáo về lợi ích của công tác
XTTM nên chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác XTTM, một số doanh
nghiệp chưa thật sự chủ động trong công tác XTTM, chưa xây dựng chiến lược
kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, chủ động tìm kiếm khách hàng, thị trường
tiêu thụ sản phẩm, chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Mặt khác, sản
phẩm của các doanh nghiệp đa số là sản phẩm thô, chưa có bao bì nhãn hiệu hoàn
51,9%, từ dịch vụ lưu trú chiếm 18,36%, doanh thu từ dịch vụ vận chuyển và lữ
hành chiếm tỷ lệ 27,8%, doanh thu từ dịch vụ mua sắm hàng hóa chiếm tỷ lệ
1,97%.
- Khách du lịch đến Bến Tre năm 2001 đạt 250.060 lượt khách, năm 2005
đạt 313.010 lượt khách, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2005 là 6,2%.
- Đầu tư cho du lịch: giai đọan 2001 - 2005 tổng mức đầu tư là 163,862 tỷ
đồng, tăng 9,3 lần so với 5 năm trước. Trong đó: đầu tư xây dựng mới 27 cơ sở
lưu trú du lịch; 18 nhà hàng; 20 điểm tham quan du lịch sinh thái, nâng cấp sửa
chữa lớn 4 nhà hàng; 2 khách sạn.
Nhận xét chung:
- Các doanh nghiệp hoạt động du lịch có quy mô nhỏ, du lịch lữ hành chưa
phát triển, chưa có được những sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh cao,
các sản phẩm du lịch hiện có còn nghèo nàn về chủng loại, kém hấp dẫn, giá cả
chưa tương xứng với chất lượng, hệ thống dịch vụ bổ sung còn thiếu và yếu, đặc
biệt là thiếu những khu du lịch lớn. Do vậy không kéo dài ngày lưu trú cũng như
chưa thu được các khoản chi phí khác từ khách du lịch.
- Thực trạng về cơ cấu và trình độ cán bộ, nhân viên phục vụ trong ngành
du lịch còn nhiều bất cập, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp (khoảng
27% trong tổng số lao động ngành du lịch), nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển.
- Cơ sở hạ tầng tại các khu, vùng quy hoạch phát triển du lịch trong thời
gian qua mặc dù tỉnh có nhiều nổ lực đầu tư nhưng đến nay vẫn chưa được hoàn
chỉnh, nhiều đoạn đường không đảm bảo cho xe vận chuyển khách du lịch 50 chỗ
25