TỔNG QUAN VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI DU LỊCH TỈNH BẾN TRE - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Thời gian qua, hoạt động xúc tiến thương mại du lịch (XTTMDL) trên địa
bàn tỉnh Bến Tre có bước phát triển tích cực, đúng hướng, đã góp phần hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh,
tìm kiếm khách hàng mới, thị trường mới, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế
của doanh nghiệp và hiệu quả chung của toàn xã hội.
Tuy nhiên, trước tình hình hội nhập và mở cửa thị trường hiện nay, đang
và sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp những cơ hội to lớn để phát triển kinh doanh,
mở rộng thị trường, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các
doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt, bình đẳng với nhau và với các doanh
nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa và quốc tế. Do vậy, hoạt động
XTTMDL đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của các doanh
nghiệp.
Để định hướng cho hoạt động XTTMDL của tỉnh phù hợp với định hướng
chung của cả nước và xu thế hội nhập, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động
XTTMDL, mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa cho các doanh nghiệp nhằm góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII
và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa VII, việc xây dựng Dự
án xúc tiến thương mại du lịch tỉnh Bến Tre giai đoạn 2007 – 2010 là yêu cầu cấp
thiết.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI DU LỊCH
I- Khái niệm về xúc tiến thương mại du lịch:
1- Khái niệm về xúc tiến thương mại (XTTM), xúc tiến du lịch (XTDL):
Theo cách hiểu truyền thống, "XTTM là hoạt động giao tiếp và hỗ trợ giao
tiếp thông tin giữa bên bán và bên mua hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động
tới thái độ và hành vi mua bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng
hóa dịch vụ".
Theo Điều 3 "Giải thích từ ngữ" Luật Thương mại Việt Nam được nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2005,
"XTTM là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng

2.3. XTTM, XTDL của tỉnh, thành phố:
Để phát huy hiệu quả XTTM, XTDL Chính phủ, Trung ương và các địa
phương có sự phân chia, phối hợp hoạt động ở phạm vi và mức độ khác nhau.
Xúc tiến của Chính phủ mang tính quốc gia, những hoạt động quan trọng ở phạm
vi toàn quốc. XTTM, XTDL của chính quyền địa phương tập trung vào các hoạt
động có tính đặc thù, riêng biệt của các địa phương và trong phạm vi từng tỉnh,
thành phố trực thuộc, gồm các hoạt động:
- Hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật về XTTM, XTDL xây dựng
chiến lược và chương trình XTTM, XTDL tỉnh, thành phố.
- Điều phối hoạt động giữa các cơ quan hỗ trợ XTTM, XTDL và cộng
đồng doanh nghiệp ở tỉnh, thành phố.
- Hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động
thương mại du lịch của địa phương.
- Thực hiện các chương trình đào tạo nhân lực cho hoạt động thương mại
du lịch trong phạm vi địa phương mình.
- Hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường nước ngoài cho các doanh nghiệp
trong tỉnh, thành phố.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong địa phương thực hiện các hoạt động
nghiên cứu, khảo sát, tham gia hội chợ và triển lãm ở nước ngoài.
- Phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp tổ chức các hội chợ, triển lãm
ở địa phương.
2.4- XTTM, XTDL vi mô:
XTTM, XTDL cấp vi mô là họat động XTTM, XTDL của doanh nghiệp.
3
II- Một số tình hình XTTM, XTDL trong cả nước:
1- Hệ thống các tổ chức XTTM, XTDL:
 XTTM, XTDL của Chính phủ:
- Cục Xúc tiến Thương mại trực thuộc Bộ Công Thương; Cơ quan Thương
vụ Việt Nam đặt tại 52 nước trên thế giới.
- Cục Xúc tiến Du lịch trực thuộc Tổng cục Du lịch.

 Kinh phí hỗ trợ XTTM của địa phương:
- Đối với địa phương, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết
định thành lập quỹ XTTM hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương. Sở Thương
mại/TMDL chủ trì xây dựng các chương trình XTTM trọng điểm của địa phương
để trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt. Nguyên tắc hỗ trợ: Nhà
nước hỗ trợ từ 50% – 70% kinh phí XTTM; doanh nghiệp đóng góp từ 30% -
50% tùy theo chương trình.
Kinh phí hoạt động XTDL:
Kinh phí hoạt động XTDL của Trung ương thông qua Chương trình hành
động quốc gia về du lịch giai đoạn 2000-2005. Tổng kinh phí ngân sách Trung
ương chi cho Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2000-2005 là
112,506 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí chuyển về hỗ trợ cho các hoạt động ở địa
phương là 37,197 tỷ đồng (chiếm 34% tổng ngân sách Chương trình).
Ngoài ra, các địa phương cũng trích ra một khoản kinh phí để chi cho các
chương trình XTDL nhằm quảng bá du lịch của địa phương.
3- Một số tình hình XTTM, XTDL cả nước giai đoạn 2001 - 2005:
3.1- Tình hình XTTM cả nước:
 Cung cấp thông tin thương mại - quảng bá phục vụ doanh nghiệp:
Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại đã xây dựng trang web, ấn
phẩm quảng bá như: đĩa CD, VCD, sách giới thiệu các ngành hàng, danh bạ các
doanh nghiệp xuất khẩu, sách giới thiệu về thị trường… Mời cơ quan báo chí
nước ngoài đến viết bài giới thiệu các sản phẩm của địa phương.
Đa số các tổ chức XTTM phi Chính phủ, Trung tâm XTTM các tỉnh, thành
phố đều có xây dựng trang web, phát hành bản tin thương mại du lịch, xây dựng
các ấn phẩm quảng bá về thương mại của địa phương, quảng bá thông tin doanh
nghiệp trên báo, đài, internet...
 Tổ chức trưng bày giới thiệu hàng hóa:
- Cục Xúc tiến Thương mại đã thành lập Trung tâm Thương mại Việt Nam
tại Newyork, Trung tâm Thương mại Việt Nam tại Dubai. Ngoài ra các tổ chức
phi chính phủ cũng đã thành lập trung tâm thương mại hoặc văn phòng đại diện

quy mô, chất lượng của các đoàn doanh nghiệp Việt Nam khảo sát thị trương và
tham gia HCTL tại nước ngoài ngày càng cao. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, do yếu về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, công nghệ, thiếu thông tin về thị
trường. kỹ năng marketing nên hiệu quả thu được của một số doanh nghiệp chỉ
mới dừng lại ở mức khiêm tốn.
6
- Ngoài các đoàn khảo sát và tham gia HCTL nằm trong chương trình
XTTM trọng điểm quốc gia, các tổ chức XTTM của địa phương còn tổ chức các
đoàn khảo sát thị trường và tham gia HCTL nước ngoài để nghiên cứu thị
trường, tiếp thị, quảng bá các sản phẩm đặc thù của địa phương.
 Tổ chức khảo sát thị trường, tham gia hội chợ triển lãm trong nước:
Hàng năm, các tổ chức XTTM địa phương còn tổ chức hoặc giới thiệu cho
các doanh nghiệp tham gia các hội chợ trong nước để quảng bá các sản phẩm của
địa phương và tổ chức các đoàn khảo sát thị trường trong nước để tiếp thị hàng
hóa, giao lưu, tìm cơ hội kinh doanh.
 Tổ chức các hội thảo, tọa đàm, tập huấn:
Hàng năm, Cục XTTM, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ
chức nhiều cuộc diễn đàn, hội thảo, lớp tập huấn cấp quốc gia mời rộng rãi doanh
nghiệp cả nước tham dự. Các tổ chức XTTM địa phương cũng tổ chức các hội
thảo, lớp tập huấn mang tính chất vùng hoặc địa phương.
Các hội thảo thường tập trung vào các chủ đề về thị trương, hội nhập, xây
dựng thương hiệu, thương mại điện tử…
 Mời các đoàn doanh nghiệp nước ngoài đến tim cơ hội kinh doanh tại
Việt Nam:
Thời gian qua, Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến Thương mại, Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng, các tổ chức XTTM
các tỉnh/thành phố lớn đã mời nhiều đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt
Nam và tổ chức cho các doanh nghiệp trong nước gặp gỡ, giao thương, tìm cơ
hội kinh doanh.
 XTTM thông qua các tham tán thương mại Việt Nam tại các nước:

Xây dựng 92 biển quảng cáo, 4,5 triệu đầu ấn phẩm, cung cấp 32.000 kg
ấn phẩm cho 29 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, phát hành trên 20.000
đầu tặng phẩm, đồ lưu niệm, xây dựng 05 phòng thông tin tại các sân bay trong
nước..
 Quảng bá du lịch nhân các sự kiện quốc tế lớn tại Việt Nam:
Tranh thủ các sự kiện quốc tế được tổ chức tại Việt Nam, Chương trình đã
tiến hành các hoạt động giới thiệu hình ảnh điểm đến Việt Nam, về đất nước, con
người Việt Nam với các đối tượng trực tiếp tham dự sự kiện và thông qua các
kênh báo chí (cả báo nói, hình và viết) với công chúng quốc tế …
 Tổ chức và tham gia các sự kiện xúc tiến trong và ngoài nước:
Tổ chức và đầu tư hỗ trợ, hướng dẫn, tham gia tổ chức tuyên truyền quảng
bá du lịch qua hoạt động của gần 100 sự kiện du lịch trong nước. Tổ chức tham
gia 52 hội chợ du lịch quốc tế định kỳ hàng năm và tổ chức 29 chương trình giới
thiệu điểm đến (road show) tại các thị trường gửi khách quan trọng.
 Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, tăng khả năng
cạnh tranh:
8
Lựa chọn, hỗ trợ khôi phục và tổ chức 20 lễ hội truyền thống tiêu
biểu/năm. Đầu tư nâng cấp các khu, điểm du lịch: (theo chương trình đầu tư hạ
tầng cơ sở du lịch của Chính phủ). Tổ chức các hội thi chuyên ngành như: hội thi
toàn quốc về hướng dẫn viên du lịch, lễ tân, ẩm thực, tổ chức bình chọn các
doanh nghiệp du lịch tiêu biểu. Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch: trên 200
lớp ở 47 địa phương. Xây dựng mới và nâng cấp 16 tours du lịch làng nghề trong
cả nước.
Ngoài các chương trình XTDL nằm trong chương trình hành động quốc
gia về du lịch, các địa phương còn tập trung đầu tư cho các hoạt động XTDL của
địa phương như: giới thiệu đất nước, con người, các sản phẩm, tour, tuyến, điểm
du lịch của địa phương thông qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông... Tổ
chức các lễ hội, hội chợ du lịch, liên hoan ẩm thực, tổ chức các sự kiện du lịch
mang tính chất vùng, tham gia các sự kiện du lịch, hội chợ du lịch trong nước,

động lực và nâng cao hiệu quả hoạt động XTTM, XTDL.
2. Tăng cường mối liên kết giữa các tổ chức XTTM, XTDL. Các địa
phương thành công trong hoạt động XTTM, XTDL là những nơi có sự liên kết
chặt chẽ giữa tổ chức XTTM, XTDL trung ương với địa phương, các tổ chức xúc
tiến phi chính phủ, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và các doanh nghiệp
chuyên nghiệp dịch vụ XTTMDL. Mối liên kết này là hệ thống liên kết mở, tự
nguyện theo kế hoạch hành động chung, có tác dụng nâng cao thế và lực của từng
tổ chức XTTM, XTDL.
3. Gắn kết chặt chẽ XTTM xuất khẩu, XTTM nội địa, XTDL và xúc tiến
đầu tư. Ưu tiên hợp lý cho XTTM xuất khẩu nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh
trong xuất khẩu, đảm bảo mục tiêu chiến lược phát triển xuất khẩu của tỉnh và cả
nước nhưng cần dành một tỉ lệ thích hợp để XTTM nội địa, XTDL. Vì thị trường
nội địa dưới tác động hội nhập kinh tế là thị trường tiềm năng ngày càng lớn, có
tác động thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu.
4. XTTM, XTDL mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài hơn là lợi ích
trước mắt. Do vậy, cần phải đầu tư ngân sách cho hoạt động XTTM, XTDL của
tỉnh như là một lĩnh vực đầu tư phát triển, đồng thời huy động tốt các nguồn lực
của xã hội.
5. Có nhiều công cụ để triển khai hữu hiệu XTTM, XTDL. Do vậy, các
tỉnh, thành cần lựa chọn cho riêng mình các công cụ và phương thức thích hợp
nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động XTTM, XTDL.
6. XTTM, XTDL đòi hỏi tính chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn sâu.
Vì vậy, nhất thiết phải đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực XTTM,
XTDL.

10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XTTMDL CỦA TỈNH BẾN TRE
I- Các hoạt động XTTMDL hỗ trợ doanh nghiệp (2001–2006):
Cùng với hoạt động XTTMDL trên cả nước, thời gian qua, tỉnh Bến Tre đã

- Xây dựng và phát hành sách: “Chào mừng quý khách đến Bến Tre”, tập
gấp: “Giới thiệu du lịch Bến Tre”, Bản đồ du lịch.
- Xây dựng bảng quảng bá du lịch: “Việt Nam - Điểm đến thiên niên kỷ
mới” và biển quảng bá “Chào mừng quý khách đến Việt Nam” tại các trục đường
giao thông chính dẫn đến các tuyến điểm du lịch trọng điểm như Cồn Phụng, Ba
Tri, Chợ Lách.
- Phối hợp các báo, đài phát thanh, truyền hình trung ương, tỉnh bạn và địa
phương viết bài giới thiệu về đất nước con người Bến Tre với du khách trong và
ngoài nước.
- Tổ chức; trưng bày sản phẩm xuất khẩu, brochure tại Showroom xuất
khẩu của Trung tâm Xúc tiến Thương mại & Đầu tư TP.HCM, Trung tâm
Thương mại Việt Nam đặt tại Newyork (Hoa Kỳ) và Dubai (Tiểu vương quốc
Dubai).
Ngoài ra, còn tổ chức quảng bá thông tin sản phẩm, doanh nghiệp trên các
phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm do các tổ chức XTTMDL trong và
ngoài nước tổ chức.
Thông qua việc quảng bá thông tin sản phẩm doanh nghiệp trên báo đài,
tạp chí, internet và các ấn phẩm quảng bá, nhiều khách hàng trong nước, ngoài
nước đã quan hệ hỏi hàng, một số doanh nghiệp lữ hành của TP.HCM đã tổ chức
khảo sát tour và đưa nhiều đoàn khách du lịch đến tham quan du lịch Bến Tre.
Thông qua tham tán thương mại các nước, đã giới thiệu cho các doanh nghiệp
nhiều đối tác tìm mua các sản phẩm thủy sản, dừa, hàng TCMN của Bến Tre.
Sau khi tham gia showroom trưng bày hàng TCMN do Trung tâm Xúc tiến
Thương mại, Đầu tư TP.HCM tổ chức hàng năm, các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất, xuất khẩu hàng TCMN đã tìm được nhiều đối tác mới, đã mở rộng thị
trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp chưa xây dựng brochure, catalogue và các
ân phẩm quảng bá nên việc quảng bá thông tin về doanh nghiệp cũng còn hạn
chế.
3- Tổ chức Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Hội chợ thương mại du

thành công chung của Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hội chợ thương mại
du lĩch tổ chức hàng năm.
Hạn chế: cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc tổ chức Tuần lễ doanh nghiệp nhỏ
và vừa và hội chợ thương mại du lịch còn mang tính tạm bợ .
4- Tham gia hội chợ từ 2001 - 2006:
Tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia 22 hội chợ tại các thành phố lớn,
các tỉnh trong nước. Giới thiệu 01 doanh nghiệp thủy sản, 01 doanh nghiệp sản
xuất, xuất khẩu hàng TCMN tham gia hội chợ triển lãm tại Nhật theo chương
trình của Cục Xúc tiến Thương mại. Thông tin về nội dung của các hội chợ- triển
lãm, hội thi tay nghề trong và ngoài nước do Bộ Thương mại, Cục Xúc tiến
13
Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức XTTM
trong và ngoài nước tổ chức để các doanh nghiệp quan tâm tham dự.
Qua các kỳ tham gia hội chợ trong nước, đã thu được những thành công
nhất định, quảng bá được sản phẩm, mở rộng được hệ thống đại lý tiêu thụ tại các
tỉnh nhất là mặt hàng: kẹo dừa, kẹo chuối, bánh phồng, bưởi da xanh, hàng
TCMN, có cơ hội giao lưu, trao đổi và tìm hiểu thêm về phương thức kinh doanh
có hiệu quả như: quảng cáo, khuyến mãi, giao thương hàng hóa qua biên giới, các
đối tác cũng đã tìm đến các doanh nghiệp. Sau khi tham dự Hội chợ Thủy sản tại
Tokyo (Nhật Bản), Công ty Cổ phần XNK Thủy sản đã ký được trên 20 hợp
đồng xuất khẩu nghêu. Công ty TNHH Thanh Bình sau khi tham dự Hội chợ
hàng TCMN tại Tokyo (Nhật Bản) đã ký được trên 10 hợp đồng xuất khẩu và có
trên 15 khách hàng đặt mối quan hệ thường xuyên.
Gần đây các doanh nghiệp đã lựa chọn kỹ hơn để đảm bảo việc tham gia
hội chợ đúng mục đích, đạt hiệu quả cao. Các doanh nghiệp cũng đã nhận thức
được việc cần thiết để nâng cao chất lương, hình thức sản phẩm của mình cho
phù hợp. Nhờ đó chất lượng của hàng hóa, dịch vụ tham gia trưng bày tại các
HCTL cũng dần được nâng cao.
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp nhỏ chưa xây dựng các phương tiên quảng
bá như brochure, catalogue, sản phẩm chưa đăng ký nhãn hiệu, chưa đăng ký

Thời gian qua, các doanh nghiệp của tỉnh có nhu cầu khảo sát thị trường
nước ngoài khá lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp rất ngại phải đi chung đoàn với
các doanh nghiệp lớn ngoài tỉnh, do các doanh nghiệp trong tỉnh là doanh nghiệp
nhỏ, khả năng cạnh tranh còn yếu. Nếu đi khảo sát chung với các doanh nghiệp
lớn cùng ngành hàng thì kết quả tiếp thị quảng bá, tìm kiếm khách hàng mới sẽ
rất hạn chế. Vì vậy, các doanh nghiệp đề xuất tỉnh nên đứng ra tổ chức các đoàn
khảo sát thị trường ngoài nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp quảng bá, tiếp thị
các sản phẩm của địa phương.
6- Gặp gỡ, giao lưu với các đoàn doanh nghiệp nước ngoài:
Tổ chức cho các doanh nghiệp của tỉnh tham gia các cuộc đón tiếp, gặp
gỡ, giao thương với các đoàn doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Hà Lan, Canada, Thái Lan đến Việt Nam theo lời mời của Cục Xúc tiến Thương
mại, Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam tại TP.HCM, Cần Thơ, Trung
tâm Xúc tiến Thương mại Đầu tư TP.HCM.
Các doanh nghiệp đã trực tiếp gặp gỡ các nhà nhập khẩu nước ngoài, tiếp
thị trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên do chưa chủ động
được nguồn hàng, ổn định về số lượng, chất lượng nên một số doanh nghiệp của
tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài.
7- Tổ chức hội thảo, hội thi, tập huấn, đào tạo:
Tổ chức 22 cuộc hội thảo tập trung vào các chủ đề hội nhập kinh tế quốc
tế, xúc tiến thương mại, thị trường xuất khẩu các sản phẩm dừa, trái cây, hàng
TCMN…
15
Tổ chức 25 lớp tập huấn ngắn hạn tập trung vào các chủ đề kỹ thuật đàm
phán trong thương mại, nghiệp vụ marketing cơ bản, xây dựng và đăng ký
thương hiệu, khởi sự doanh nghiệp, thương mại điện tử, nghiệp vụ kinh doanh
xăng dầu, gas, nghiệp vụ quản lý chợ, nghiệp vụ quản lý nhà hàng, khách sạn,
các lớp du lịch sinh thái và xúc tiến du lịch sinh thái.
Ngoài ra còn tổ chức hoặc giới thiệu cho các doanh nghiệp tham gia các
hội thảo, lớp tập huấn do các tổ chức XTTM trong và ngoài nước tổ chức.

Việt Nam chất lượng cao; 4 doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 2006; sản phẩm các
doanh nghiệp còn lại được thị trường chấp nhận.
Tình hình các doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh xuất khẩu:
- Kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001- 2005 đạt 313,592 triệu USD. Nhịp
độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 24%/năm, gấp 3,43 lần so với
nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1996-2000.
- Cơ cấu hàng xuất khẩu: hàng thủy sản chiếm tỷ trọng 34,77%, hàng CN-
TTCN chiếm tỷ trọng 50,42%, hàng nông sản chiếm tỷ trọng 14,81% tổng kim
ngạch xuất khẩu.
- Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (2001 - 2005)
Danh mục ĐVT 2001 2002 2003 2004 2005
- Thủy hải sản Tấn 3.832 4.530 5.359 7.607 8.052
- Dừa trái Triệu trái 59 56 63 78 71,9
- Chỉ xơ dừa Tấn 39.377 48.730 63.774 47.808 65.499
- Than thiêu kết Tấn 9.149 15.595 6.556 4.593 13.745
- Than hoạt tính Tấn 23 192 72,5
- Cơm dừa nạo sấy Tấn 1.994 6.270 7.146 7.381 13.464

- Thị trường xuất khẩu: ngày càng phát triển, năm 2000 hàng hóa của
Bến Tre xuất khẩu sang 20 nước, năm 2005 xuất khẩu sang 55 nước và lãnh thổ.
Thị trường trung gian từng bước giảm mạnh, thị trường trực tiếp tăng dần, tạo lập
được một số thị trường mới phù hợp với năng lực kinh tế của địa phương.
- Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu:
Doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu dừa:
- Tổng số: 40 doanh nghiệp, trong đó có 03 doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
- Đa số các doanh nghiệp ngành dừa còn xuất khẩu sản phẩm dưới dạng
nguyên liệu thô làm nguyên liệu để các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất ra các
sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như: dừa khô trái, thạch dừa, chỉ xơ dừa,
17

sản xuất trong tỉnh để xuất khẩu. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hàng TCMN
có quy mô nhỏ, gặp khó khăn về tài chính, nguồn nhân lực có trình độ quản lý,
đội ngũ thiết kế còn thiếu và chưa được đào tạo qua trường lớp. Mặt hàng TCMN
từ dừa khá đa dạng, khoảng 200 mặt hàng, song số lượng sản xuất của mỗi loại
rất ít, chất lượng, tính đồng đều không giống nhau. Do vây, khi khách hàng nhập
khẩu có nhu cầu sô lượng tương đối lớn, các doanh nghiệp không đáp ứng được.
Việc nghiên cứu thị trường để sáng tạo ra các mẫu mã mới nhằm đáp ứng nhu
18
cầu thị trường còn nhiều hạn chế. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN
còn thấp, thị trường cũng không ổn định. Tuy nhiên, hàng TCMN có tiềm năng
tiêu thụ tại thị trường nội địa để phục vụ khách du lịch thông qua hệ thống siêu
thị, cửa hàng lưu niệm, các điểm du lịch..
Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản:
Có 8 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản. Trong đó: có 03 doanh
nghiệp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
sang EU, các doanh nghiệp còn lại chủ yếu cung ứng xuất khẩu. Các sản phẩm
xuất khẩu chủ yếu là tôm, nghêu đông, cá fillet, hầu hết các doanh nghiệp chưa
chế biến các sản phẩm thủy sản có giá trị cao. Nhìn chung thị trường xuất khẩu
thủy sản tương đối ổn định, việc mở rộng thị trường mới cũng còn hạn chế (do
doanh nghiệp chưa hiểu rõ khách hàng và sợ gặp rủi ro trong khâu thanh toán).
Tình hình giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá xuất khẩu tăng chậm đã ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản.
Doanh nghiệp xuất khẩu trái cây:
Chưa có doanh nghiệp xuất khẩu trái cây, có khoảng 3 cơ sở thu mua trái
cây xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc, Campuchia. Việc mở rộng thị trường
xuất khẩu trái cây gặp nhiều khó khăn do: sản lượng, năng suất trái cây chưa ổn
định, công nghệ bảo quản sau thu họach chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
Do vậy, chất lượng và tính đồng đều trái cây chưa cao, chưa đáp ứng quy định về
kiểm dịch thực vật nên chưa thể xuất khẩu trực tiếp sang các nước. Mặt khác,
năng lực của các đơn vị kinh doanh, xuất khẩu trái cây còn yếu nhất là đội ngũ

+ Quảng cáo thông qua báo, tạp chí: 46,7% doanh nghiệp
+ Quảng cáo thông qua đài truyền hình: 26,7% doanh nghiệp
+ Tham gia các showroom trong nước: 6,7% doanh nghiệp
+ Tham gia các showroom ngoài nước: 13,3% doanh nghiệp
+ Tham gia hội chợ TMDL tại tỉnh: 33,3% doanh nghiệp
- Tham gia hội chợ trong nước: 33,3% doanh nghiệp tham gia các hội chợ
sau:
Hội chợ Vietfish; Hội chợ các doanh nghiệp đạt giải thưởng chất lượng
tại TP.HCM; Ngày hội tôn vinh các doanh nghiệp mạnh Việt Nam; các hội chợ
do Sở Thương mại - Du lịch tổ chức tham gia tại các tỉnh/thành phố.
- Tham gia hội chợ ngoài nước: 40% doanh nghiệp tham gia 14 lần Hội
chợ
(Hội chợ Thương mại Quốc tế Tứ Xuyên – Trung Quốc; Hội chợ Thương mại
Quốc tế tại Dubai; Hội chợ Nhượng quyền Thương hiệu – Hoa Kỳ; Hội chợ Thủy
sản Brussel - Bỉ; Hội chợ Conxemar - Tây Ban Nha; Hội chợ Polfish – Ba Lan;
Hội chợ Bremen - Đức; Hội chợ Fine Food – Úc)
20
- Khảo sát thị trường trong nước: 53,3% doanh nghiệp tự khảo sát thị
trường hoặc tham gia các đoàn khảo sát thị trường do Sở Thương mại - Du lịch tổ
chức.
- Khảo sát thị trường ngoài nước: 60% doanh nghiệp - với 26 lần tham gia
khảo sát thị trường ngoài nước như sau:
Thị trường Ai Câp (dừa); Hàn Quốc (dừa, thủy sản); Nhật (Thủy sản, dừa);
Nam Phi (dừa, dược); Angola (dược); Hungary (dược); Đan Mạch (thủy sản); Mỹ
(thủy sản); Trung Quốc (dừa, trái cây, thủy sản); Ba Lan (thủy sản); Hà Lan (thủy
sản); (Tham dự Hội nghị Dừa Châu Á – Thái Bình Dương (dừa).
- Gặp gỡ giao lưu với các đoàn doanh nghiệp nước ngoài: 40% doanh
nghiệp tiếp và làm việc với các đoàn doanh nghiệp: Ba Lan; Hà Lan; Úc; Nhật;
Pháp; Đan Mạch; Hàn Quốc; Rumani; Hungary; Hongkong; Trung Quốc, Nam
Phi; Iran; Cộng hòa Séc, Mexico, Ai Cập, Sri Lanka; Đài Loan; Mỹ; Canada.

phẩm của các doanh nghiệp đa số là sản phẩm thô, chưa có bao bì nhãn hiệu hoàn
chỉnh, chưa đăng ký các tiêu chuẩn quản lý chất lượng … nên công tác XTTM
gặp không ít khó khăn, nhất là khi tiếp thị, quảng bá sản phẩm ra thị trường nước
ngoài.
Về tài chính: Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu của Bến Tre
có quy mô nhỏ, còn bị hạn chế về khả năng tài chính (vốn ít), do đó khó thực
hiện được chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh, XTTM..
Về nhân lực: năng lực quản lý điều hành còn thiếu và yếu, không có cán bộ
chuyên trách về nghiên cứu thị trường, XTTM
Về sự hỗ trợ của nhà nước thời gian qua, cơ quan XTTM của tỉnh đã có
nhiều nổ lực tổ chức nhiều hoạt động XTTM hỗ trợ doanh nghiệp tìm khách hàng
mới, thị trương mới. Tuy nhiên do gặp khó khăn về kinh phí nên việc hỗ trợ các
doanh nghiệp cũng còn hạn chế.
2- Một số thông tin về doanh nghiệp du lịch và hoạt động XTDL của các
doanh nghiệp:
2.1- Một số thông tin về doanh nghiệp du lịch:
Tính đến năm 2006:
- Toàn tỉnh có 6 doanh nghiệp hoạt động du lịch, 32 điểm du lịch sinh thái,
30 khách sạn – nhà nghỉ, 37 nhà hàng – cơ sở ăn uống lớn.
- Phương tiện vận chuyển: trên 100 xe khách; 490 xe ngoài tỉnh hoạt động
tại Bến Tre, 60 đò du lịch, 30 đầu xe ngựa; trên 100 xuồng chèo phục vụ du
khách.
- Ca nhạc tài tử: 8 đội
- Loại hình du lịch: du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa, lịch sử.
- Tổng số lao động: 2.624 người (TĐ: Đại học 66 người; Cao Đẳng 130
người; Trung học 524 người; lao động khác: 1904 người)
Tình hình doanh thu, khách du lịch và đầu tư cho du lịch (2001 – 2005)
22
- Doanh thu toàn ngành du lịch năm 2001 đạt 39,2 tỷ đồng, năm 2005 đạt
83,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2005 là 21,06%.

- Nghiên cứu thị trường: hầu hết các doanh nghiệp du lịch quan tâm đến
nghiên cứu thị trường phát triển các dịch vụ du lịch thu hút khách.
- Thông tin du lịch: nhận từ Báo, đài, internet, khách hàng…
23
- Các hình thức quảng bá:
+ Xây dựng catalogue, brochure: 83% doanh nghiệp
+ Xây dựng phim tài liệu, đĩa CD, VCD: 50% doanh nghiệp
+ Quảng cáo trên mạng, trang web các đơn vị khác: 50% doanh nghiệp
+ Quảng cáo thông qua báo, tạp chí: 33,3% doanh nghiệp
+ Quảng cáo thông qua đài truyền hình: 33,3% doanh nghiệp
+ Quảng bá thông qua các hội chợ, sự kiện du lịch tổ chức tại tỉnh 66,7%
doanh nghiệp.
- Tham gia hội chợ trong nước: 50% doanh nghiệp tham gia các hội chợ,
lễ hội do Sở Thương mại Du lịch tổ chức tham gia tại các tỉnh/thành phố.
- Khảo sát xây dựng tour: đã khảo sát và xây dựng 11 chương trình tham
quan du lịch tại tỉnh; 12 chương trình du lịch nối tour với các địa phương trong
nước; 6 chương trình du lịch quốc tế đến Campuchia, Hồng Kông, Trung Quốc,
Thái Lan, Singapore, Malaysia.
Kết quả hoạt động XTDL góp phần tăng doanh thu du lịch và khách du
lịch không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, hoạt động XTDL của các doanh nghiệp
cũng còn một số hạn chế sau đây:
Một số doanh nghiệp, cơ sở hoạt động du lịch chưa thật sự quan tâm đến
hoạt động XTDL, hầu như chưa có doanh nghiệp nào xây dựng chiến lược phát
triển du lịch dài hạn, chưa dành ra một khoảng kinh phí cho hoạt động XTDL.
Việc đầu tư nghiên cứu các sản phẩm du lịch mới lạ để thu hút khách du lịch còn
nhiều hạn chế, các ấn phẩm quảng bá còn nghèo nàn, đa số các doanh nghiệp, cơ
sở hoạt động du lịch chỉ mới xây dựng brochure, chưa quan tâm đến việc đa dạng
hóa các ấn phẩm du lịch để quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng
hoặc quảng bá trực tiếp với khách du lịch. Đa số các doanh nghiệp, cơ sở hoạt
động du lịch chưa quan tâm đến việc tham gia các sự kiện du lịch lớn, các hội

khai theo từng năm (cả trung ương và địa phương). Trước đây 2006, còn được
triển khai theo từng vụ việc cụ thể. Những hoạt động XTTMDL… mới chỉ tập
trung vào việc giải quyết khó khăn, vướng mắc nhất thời. Chưa chủ động gắn với
việc lựa chọn các thị trường mục tiêu, chiến lược.
Nguyên nhân:
- Do công tác XTTMDL mới được triển khai mấy năm gần đây, năng
lực, kinh nghiệm đội ngũ cán bộ làm công tác XTTMDL còn hạn chế. Mặt khác,
do ngân sách của tỉnh còn hạn hẹp. Bộ Thương mại đã có cơ quan chuyên môn là
Cục XTTM, nhưng Trung ương không có cơ chế hỗ trợ về kinh phí đối với các
tỉnh trong chương trình XTTM trọng điểm quốc gia, mà tập trung đầu mối tại các
tổng công ty, hiệp hội…
25

Trích đoạn Nhóm giải pháp tạo ra nguồn hàng, sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh trên thị trường tạo tiền đề cho hoạt động XTTMDL: Nhóm giải pháp đẩy mạnh XTTMDL đến năm 2010: Tiến độ thực hiện: Từ năm 2007-2008:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status