Kiến thức lớp 10
Nguyễn Bỉnh Khiêm –Nhàn-phần 5
I. CUỘC ĐỜI
Sinh năm 1491 mất năm 1585, tên húy là Văn Ðạt, tự là Hanh
Phủ, đạo hiệu Bạch Vân cư sĩ. NBK vốn người làng Trung Am,
huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Cha ông là Văn Ðịnh (Cù Xuyên
tiên sinh), mẹ là con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan
Lúc nhỏ, ông theo học bảng nhãn Lương Ðắc Bằng, nổi tiếng
thông minh khác thường, được thầy yêu mến.
Học giỏi nhưng lúc còn trẻ,ông không chịu ra thi làm quan, thích
sống đời ẩn dật. Mãi đến năm 45 tuổi, ông đột ngột ra thi và đỗ
ngay Trạng nguyên khoa Ất Mùi, niên hiệu Ðại Chính thứ 6
(1535) đời Mạc Ðăng Doanh.
Ở triều được 8 năm, ông lại xin về ở ẩn nhưng vẫn theo giúp nhà
Mạc khi có yêu cầu.
Về Trung Am, ông cho xây dựng am Bạch Vân, lập quán Trung
Tân bên dòng sông Tuyết để dạy học trò nên người đời sau còn
gọi ông là Tuyết giang phu tử. Học trò ông có nhiều người lỗi lạc
như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan,
Khi mất, ông được nhà Mạc truy phong Lại bộ thượng thư Trình
quốc công, cho xây dựng miếu thờ
II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
Chữ Hán: Bạch Vân am tập, một bài tựa, tác phẩm Trung Tân bi
Lý tưởng trọng nghĩa khinh tài của kẻ sĩ bị bôi nhọ bởi đồng tiền:
Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết rượu hết ông tôi (Thói đời)
Xã hội phong kiến chỉ đầy dẫy nhựng cảnh cá lớn ăn thịt cá nhỏ.
Tinh thần nhân nghĩa giờ bị mờ nhạt bởi sức nặng của đồng tiền:
Ðời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thì hơn hết mọi lời
2. Triết lý chữ Nhàn trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ðể chỉ tư tưởng nhàn tản, có nhiều thuật ngữ: an nhàn, nhàn
tản, nhàn dật, nhàn phóng, ản dật, nhàn, Nói chung đều có
nghĩa là làm rất ít hoặc không làm gì cả. Thể xác an nhàn, tâm
hồn thanh thản, những kẻ sĩ ẩn dật thường không còn lo nghĩ
việc đời, thích ngao sơn ngoạn thủy, xem danh lợi như một áng
phù vân.
Tư tưởng Nhàn của kẻ tu hành chịu ảnh hưởng của thuyết xuất
thế của nhà Phật. Tư tưởng nhàn của những kẻ trốn tránh nhiệm
vụ, hưởng lạc, vinh thân phì da là những tư tưởng có tính chất
tiêu cực. Nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, một kẻ sĩ có khát
vọng cứu dân giúp đời nhưng bất lực trong hoàn cảnh rối ren, là
sự phản kháng, không cộng tác với nhà nước phong kiến để giữ
tròn phẩm giá của kẻ sĩ chân chính trong thời buổi loạn lạc:
Lúc nhàn ngẫm việc xưa nay
Ðối với NBK, sự biến đổi có tính chất tuần hoàn của tạo hóa (theo
quan niệm triết học của người trung đại) được đồng nhất với sự
biến đổi, hưng vong, đắc thất của chế độ phong kiến. Sự biến đổi
này, theo ông, là rất ghê gớm:
Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
Dựa vào lẽ tương sinh tương khắc, ông đã thể hiện rõ những
xung đột gay gắt trong xã hội đương thời: chiến tranh phong kiến,
sự phân chia giai cấp nghèo giàu, sang hèn trong xã hội, mâu
thuẫn giữa hạnh phúc và bất hạnh trong đời người, Chính những
xung đột đó đã dẫn đến một quá trình suy thoái mà những kẻ sĩ
chân chính thời đó luôn đau lòng khi chứng kiến. Dựa vào lẽ tuần
hoàn, ông cố gắng lý giải sự biến đổi, sự suy thoái của chế độ
phong kiến như là một giai đoạn tất yếu trong chu kỳ hết hưng
thịnh đến suy vong. Ðiều này cũng có nghĩa là ông rất tin tưởng
vào tương lai, lúc mà chế độ phong kiến tìm lại được sự ổn định,
cân bằng :
Tái nhất âm hề phục nhất dương
Tuần hoàn vãn phục lý chi thường (Khiển hứng)
Tuy nhiên, sự vận động của lịch sử dân tộc không đồng nhất với
sự vận động của chế độ phong kiến. Vì vậy, bản thân những tư
tưởng của ông cũng chứa đựng những mâu thuẫn giữa ý muốn
giải quyết những khó khăn của phong kiến trong hoàn cảnh suy
thoái và sự bất lực trước hoàn cảnh nan giải đó
Non nước có mùi lòng khách chứa
Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng (Thơ Nôm bài 33)
Ba gian am quán lòng hằng mến
Ðòi chốn sơn hà mặt đã quen (bài 8)
Ông dành trọn tình cảm chân thành của mình cho nhân dân lao
động:
Vũ Dương khoái đỗ thời thời nhược
Thượng thụy ưng tri đại hữu niên (Hạ nhật vũ tình)