KHÔNG GIAN THĂNG LONG TRONG
THƠ NGUYỄN TRÃI
Nguyễn Trãi (1380-1442) sinh ra ở dinh ông ngoại Trần Nguyên
Đán tại kinh thành Thăng Long và suốt thời thanh niên cũng khi ở
trong thành, khi ra ngoại thành ở với cha ở làng Ngọc Ổi (nay
thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, ngoại thành Hà Nội); rồi đỗ
Thái học sinh, có 7 năm làm quan với nhà Hồ (1400-1407); rồi
qua mười năm ẩn náu ở thành Đông Quan dưới thời Minh thuộc
(1407-1416); trải qua mười năm chiến trận (1417-1427), phần đời
còn lại của Nguyễn Trãi (1427-1442) chủ yếu làm qun trong triều
và gắn bó với kinh thành Thăng Long – ngoại trừ một số thời gian
có về Côn Sơn nghỉ dưỡng, ẩn dật. Đương nhiên Nguyễn Trãi đã
có phần đời quan trọng gắn bó với Thăng Long, buồn vui, nếm
trải mọi thăng trầm cùng Thăng Long yêu dấu.
Theo khảo sát của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học,
dường như bài thơ Thủ vĩ ngâm được Nguyễn Trãi sáng tác
trong khoảng mười năm bị quân Minh theo dõi, khống chế, giam
lỏng ở kinh thành Thăng Long:
Góc thành Nam lều một gian,
No nước uống thiếu cơm ăn.
Con đòi khóc dường ai quyến,
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn.
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn.
Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam lều một gian(1).
Với Nguyễn Trãi, những khó khăn khi bị giam giữ ở Thăng Long
không làm ông nản chí mà càng kích thích ý chí đấu tranh giành
Trãi lại muốn lui về ở ẩn, muốn tìm về miền quê Côn Sơn thánh
tĩnh; ngược lại, khi đang ở Côn Sơn, có khi ông lại đau đáu nhớ
tới trách nhiệm với đất nước và ước mong về một ngày được dấn
thân nhập cuộc, được thi thố tài năng phục vụ vương triều, dựng
xây đất nước. Điều này tạo nên những nghịch lý và sự luân
chuyển hai chiều giữa hai dòng tâm sự: từ Thăng Long nhớ về cố
hương và từ nơi cố hương vọng nhớ về kinh đô Thăng Long.
Tuổi trẻ Nguyễn Trãi được lịch sử đặt trước ngã ba đường. Ông
phải lựa chọn một lối sống. An cư hay dấn thân cứu nước? Quả
có niềm day dứt trong ông và từ đó hiện hình thành những câu
thơ da diết.
Trượng sách hà tòng quy Hán Thất?
Bão cầm không tự tháo Nam âm.
(Mạn thành 1)
(Chống roi ngựa do đâu theo về nhà Hán?
Ôm đàn chỉ gảy khúc Nam âm thôi).
Về đâu? câu hỏi nghe da diết biết dường nào! Về đâu giữa ngã
ba đường thời đại? Câu trên là tiếng lòng xốn xang của Nguyễn
Trãi mà đường tơ chỉ mới đau buồn, một mối băn khoăn về lý
tưởng. Câu sau là lời khẳng định dứt khoát, mạnh: “Ôm đàn chỉ
gảy khúc Nam âm thôi”. “Khúc Nam”, một cách nói đủ gợi cho
người đọc hiểu lòng Nguyễn Trãi đã nghiêng về phía non sông
đất nước. Cho nên, sự lựa chọn đúng đắn, tự thân đã là một giá
trị.
Sự lựa chọn của Nguyễn Trãi phản ánh nhận thức đúng đắn về
quy luật vận động của lịch sử: nhà Trần đã suy, nhà Hồ không tìm
Phương xa dâng ngọc lụa, vẽ cảnh hội nhà vua,
Uy nghi của Trung Quốc được thấy lại quan nhà Hán.
Yêu khí phương Bắc đã dẹp quang, sóng kình đã lặng,
Đất Nam châu vẫn giữ giang sơn muôn đời)
Nguyễn Trãi ca ngợi người anh hùng “quyền mưu” và “nhân
nghĩa” Lê Lợi đã làm nên lịch sử bằng những vần thơ hào hùng,
sảng khoái. Đó là lẽ hiển nhiên. Song, ở Nguyễn Trãi còn có
những suy ngẫm mới mẻ về người anh hùng mà văn học trước
đó chưa hề có. Theo quan niệm “Bất tương thành bại luâïn anh
hùng”, Nguyễn Trãi không chỉ đề cao người anh hùng vệ quốc,
anh hùng giải phóng. Trong nhiều bài thơ, thi thoảng ông nhắc
đến Hồ Quý Ly trong tư cách một “anh hùng để hận…”, “ anh
hùng ôm hận…”, “anh hùng một thuở…” qua những dòng thơ
nhuốm màu bi tráng. Quả là có sự ngậm ngùi, cảm khái và trân
trọng trong những câu thơ về Hồ Quý Ly.
Vẻ đẹp hình tượng con người Nguyễn Trãi nằm ở chỗ luôn trăn
trở với các bổn phận của nhà Nho. Trước hết là bổn phận của kẻ
bề tôi và kẻ làm con. Trong thơ, Nguyễn Trãi nói nhiều đến đạo
“quân thân”. Trong ý thức, tình cảm của Nguyễn Trãi luôn có sự
gắn kết chặt chẽ giữa “quân” và “thân”. Hai chữ “quân thân” canh
cánh bên lòng. Trong bài Mạn hứng, Nguyễn Trãi bộc bạch tấm
lòng của mình đối với vua rất xúc động: Hà tằng nhất phạn nhẫn
vong quân (Chưa từng một bữa ăn nào mà không nhớ đến vua).
Đó là sự thật. Bởi lẽ, đối với Nguyễn Trãi, đạo “quân thân” luôn
thường trực trong ông. Xét cho cùng, đạo “quân thân”, niềm
“trung hiếu” mà Nguyễn Trãi thường nhắc đến trong thơ chính là
tấm lòng yêu nước, thương dân của ông. Chẳng phải Nguyễn
Trãi đã phải gạt nước mắt tiễn cha nơi ải Nam Quan, trở về tìm
yêu. Trong bài Thanh minh, dường như nhà thơ gắng gượng dồn
nén mọi cảm xúc của mình nhưng tự nó vẫn cứ tràn lên nỗi nhớ
thương, day dứt:
Nhất tòng luân lạc tha hương khứ,
Khuất chỉ thanh minh kỷ độ qua.
Thiên lý phần uynh vi bái tảo,
Thập niên thân cựu tận tiêu ma.
Sạ tình thiên khí mô lăng vũ,
Quá bán xuân quang tê cú hoa.
Liêu bả nhất bôi hoàn tự cưỡng,
Mạc giao nhật nhật khổ tư gia.
(Kể từ khi lưu lạc ra làng khác,
Đếm đốt ngón tay, thanh minh đã qua mấy lần.
Xa nghìn dặm mồ mả không được lạy quét,
Trải mười năm thân cựu đã thảy hao mòn.
Chợt tạnh khí trời vào tiết mưa rào,
Đã quá nửa xuân, hoa tê cú nở.
Tán khuây nâng một chén còn phải cố gượng uống,
Để đừng có ngày ngày khổ về nhớ nhà) Bài thơ được viết trong hoàn cảnh loạn lạc. Thấm đẫm trong lòng
Nguyễn Trãi là nỗi buồn nhớ cố hương, gia quyến. Nhìn cảnh
xuân qua mà lòng sầu tiếc vô hạn vì đã không làm tròn bổn phận
với gia đình. Nguyễn Trãi xa quê, ngày thanh minh không sao về
được để chăm sóc phần mộ tổ tiên ông bà.Đó là điều đau xót
nhất của Nguyễn Trãi. Xót xa, nhưng đành nén lòng, “gắng
gượng” nâng chén để quên đi nỗi khổ nhớ thương ngày ngày
đang dằn vặt mình:
Xong việc quan giở sách ý khôn cầm được.
Đối với núi nhà, ai lại không mang lòng tang tử,
Lòng trung hiếu khi nào lại có cổ kim khác nhau.
Cầm bài thơ này tặng ngươi ta còn tự cảm,
Thơ làm xong ta cũng nước mắt áo đầm đìa)
Yêu mến cha mẹ là thứ tình cảm tự nhiên, vĩnh hằng của con
người. Trong thơ Nguyễn Trãi, tình quê hương thường được diễn
đạt qua các hình tượng như gia sơn, cố viên, cố lý (núi nhà, núi
cũ, vườn nhà, vườn cũ…). Quê hương, ở đó có kỷ niệm êm đềm
của tuổi thơ, có hình ảnh của mẹ cha, của những thân bằng
quyến thuộc. Con người dù ở đâu, làm gì cũng luôn hướng về
quê hương với một tình yêu trong sáng nhất. Nhân đề tập thơ
của bạn nhớ cha mẹ, Nguyễn Trãi cũng tự liên hệ về hoàn cảnh
mình. Ý đó thể hiện rõ ở hai câu kết đầy xúc động:
Trì thử tặng quân hoàn tự cảm,
Thi thành ngã diệc lệ triêm khâm.
Nước mắt (lệ) là một thứ ngôn ngữ của tình cảm con người.
Trong thơ, Nguyễn Trãi không nói nhiều đến nước mắt. Bởi vậy,
khi ông nói “nước mắt thấm áo” (lệ triêm khâm) là ông thú nhận
một sự thực: ông không giấu được nỗi lòng mình. Giọt nước mắt
đó trở thành một tín hiệu nghệ thuật đầy biểu cảm.
Không tự giới hạn trong quan hệ vua - tôi, cha - con, Nguyễn Trãi
còn đặt mình vào các mối quan hệ xã hội rộng lớn khác. Bởi vậy,
ở ông ngoài hai chữ “quân thân” còn có tư tưởng nhân nghĩa.
Trong Nho giáo, “nhân” và “nghĩa” là hai phạm trù đạo đức của
nước, với dân. Lấy chuyện Tử Mỹ ôm mối cô trung, Bá Nhân nhìn
non sông rơi lệ, Nguyễn Trãi mượn chuyện người để ký thác tấm
lòng mình. Đó là một nỗi niềm đầy bi thiết. Ông vô cùng xót xa,
đau đớn cho thân phận mình, đau đớn vì sự bất lực khi nhìn cảnh
non sông đất nước thanh bình mà mình bất lực, không làm gì
được cho dân cho nước. Nguyễn Trãi là một nhà nho giàu tinh
thần nhập thế. Nhà nho ấy luôn có chí khí thanh cao, có lý tưởng
trong sáng, có mục tiêu rõ ràng, luôn làm tròn bổn phận đạo
“quân thân”. Không chỉ thế, con người Nho giáo Nguyễn Trãi còn
có tư tưởng, ý thức vượt thời đại mà ông đang sống. Nhà Nho
quân tử ấy biết định hướng đúng đắn trong sự lựa chọn, biết
nhận ra vai trò của nhân dân trong thế thịnh suy của đất nước…
Đó là những điều mà không phải ai ở thế kỷ XV cũng dễ dàng
nhận ra được.
Xuất, xử là những lối ứng xử cơ bản của nhà nho. Những cách
ứng xử này do các tình huống chính trị quy định và làm bộc lộ
những khía cạnh tinh thần con người nhà Nho. Nho giáo đã dạy
người quân tử: “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng”. Nguyễn Trãi
ý thức rất rõ về điều này và ông thực sự bị đặt vào tình thế đó
trong những năm cuối đời. Vậy nên trong những năm làm quan ở
kinh thành, Nguyễn Trãi chỉ thấy được thỏa mãn trong tình bạn
bè, thường xuyên đàm đạo, tặng thơ cho nhau. Trong số nhiều
bạn thơ đáng chú ý có bạn đồng khoa Cúc Pha Nguyễn Mộng
Tuân. Đặc biệt Nguyễn Mộng Tuân có hai bài thơ tặng Nguyễn
Trãi với những lời chân thành, tri âm tri kỷ. Mừng nhà mới Ức
Trai, Nguyễn Mộng Tuân cảm thông sâu sắc trước một tài năng
và nhân cách:
Thiện trị ưng tri kế Tử Kinh,
Trãi được Lê Thái Tông bổ dụng trở lại, Nguyễn Mộng Tuân hết
lời ngợi ca và động viên bậc tài năng đàn anh:
Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên,
Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền.
Nhất thời từ hãn (hàn) suy văn bá,
Lưỡng đạo quân dân ác chính quyền.
Bạch phát chỉ nhân thiên hạ lự,
Thanh trung lưu dữ tử tôn truyền.
Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn Đẩu,
Hảo vị triều đình lực tiến hiền.
(Ngồi trong gác vàng, dáng thanh như ông tiên trong lầu ngọc,
Giúp đời, làm rạng rỡ cho nước, từ xưa chưa ai được như thế.
Nổi tiếng đàn anh, từng đem văn chương múa bút một thời,
Nắm quyền chính sự, nay lại phụ trách hai đạo quân dân.
Tóc tuy bạc mà vẫn luôn luôn lo lắng việc đời,
Lòng trong trắng, ngay thẳng mong truyền lại cho con cháu.
Bạn làng Nho một mực xem ông như Thái Sơn, Bắc Đẩu,
Vậy ông nên vì triều đình ra sức giới thiệu kẻ hiền tài)
(Tặng quan Gián nghị đại phu họ Nguyễn)
Vân Trình dịch thơ:
Gác tía thanh cao phong cách tiên,
Giúp đời dựng nước đã ai trên?
Một thời văn bút lừng danh tiếng,
Hai đạo quân dân lại nắm quyền.
Tóc bạc vẫn lo tròn đạo nghĩa,
Lòng thanh ý muốn cháu con truyền.
Cung dư tịch địa bán trăn kinh,
Hỷ đắc tân thi đương tọa minh.
Cóng thuật lũ khuynh mưu phụ tửu,
Nang thư duy hữu thảo huyền kinh.
Bồng môn đảo lý nghinh giai khách,
Hoa ổ di sàng cận khúc tinh.
Tiếu ngã lão lai cuồng cánh thậm,
Bàng nhân hưu quái Thứ công tinh.
(Thứ vận Hoàng môn Thị lang Nguyễn Cúc Pha hạ tân cư thành)
(Chỗ vắng chỉ hơn cung đất mà nửa phần gai bụi,
Mừng được thơ mới để ghi chỗ ngồi.
Cong gạo nếp dốc luôn rượu mưu với vợ nấu,
Túi sách chỉ có quyển chép kinh Thái huyền.
Cửa bồng xỏ lộn dép ra đón khách quí,
Dời giường dưới khóm hoa gần hiên vòng.
Cười ta về già càng thêm cuồng,
Hàng xóm đừng lạ Thứ công vẫn tỉnh đây)
(Họa vần thơ của Hoàng môn Thị lang
Nguyễn Cúc Pha mừng làm xong nhà mới)
Trong toàn bộ cuộc đời Nguyễn Trãi, chúng ta dễ dàng nhận ra
ông là con người hành động. Chưa bao giờ ông có ý định từ bỏ
công danh của mình. Thời loạn thì “múa bút, vung gươm” giúp
dân giữ nước. Thời bình thì trỗ tài “kinh bang, tế thế” giúp vua
xây dựng nền thái bình thịnh trị: