BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________ Phạm Vũ Lan Anh KHÔNG GIAN LỮ THỨ TRONG
THƠ ĐƯỜNG
Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
Mã số : 66 22 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TRẦN XUÂN ĐỀ Thành phố Hồ Chí Minh – 2009Lời Cảm Ơn
đời, là sự thấm nhuần những nguyên lý mĩ học Trung Hoa trong sáng tác:
huyền thoại chi âm, cam dƣ chi vị, ngôn ngoại chi ý. Cái hay, cái đẹp của
nghệ thuật văn chương hầu như đều có chung một cội nguồn.
Đến với thơ Đường không chỉ là đến với “sắc liễu bên bờ sông Dương
Tử, những cành mai đợi tuyết ở núi Cô Sơn, tiếng chuông chùa ở núi Hàn
San, chòm mây trắng trên lầu Hoàng Hạc” hay “Ải Ngọc Môn gió xuân
không bao giờ thổi tới, sông Hoàng Hà tuôn nước xuống tự trời cao”. Mà đến
với thơ Đường còn là những trăn trở rất riêng sau khi thưởng thức, khi ngẫm
thấy và nhận thấy bao nhiêu nỗi niềm riêng tây, vi tế, những sóng ngầm của
cõi lòng, những niệm thức đã bắt gặp sự giao hòa qua những vần thơ ấy. Và
có lẽ, gạt qua tất cả những thủ pháp nghệ thuật, tất cả những kĩ xảo của một
nền văn học đạt đến đỉnh cao trong đời sống tinh thần nhân loại, còn lại là sự
tồn tại của một không gian tinh thần, không gian xuyên thấu mà ở đó con
người (thi nhân và độc giả) ý thức được sự tồn tại của mình, không lu mờ,
2
không hòa lẫn, không là phát ngôn hay đại diện cho bất cứ điều gì khác ngoài
tình cảm của con người.
Trong cuộc sống bưng bít ở nông thôn thời trung đại dưới chế độ độc
quyền phương Đông (absolutisme oriental – chữ dùng của Karl Marx), nhà
thơ – nhà nho khư khư ngồi giữ lấy “xóm cùng làng hẻm”, “lìa nhà mƣời dặm
đã bùi ngùi mƣa gió hoa vàng, ở lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu
bạc”. Bởi suy cho cùng, “nhà nho và người nông dân – hai nhân vật nông
thôn” khi ra khỏi không gian gia đình, làng-họ, không gian hương – tính, nhà
nho- nhà thơ khi đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan và trong thời gian làm quan
có thể bị biếm trích, lưu lạc nơi chân trời góc bể, cầm quân ở chốn biên cương
thì nỗi cô đơn, bơ vơ nơi đất khách quê hương, nỗi niềm hoài niệm về cố
hương lại trở đi trở về đến nhức buốt, tái tê. Tất cả những nỗi niềm ấy được
gửi gắm vào những vần thơ bàng bạc sắc màu của không gian lữ thứ. Vì, đối
với nhà thơ trong tình cảnh như thế phải ra đi, phải rời xa làng - họ gia đình là
quan trên mỗi bước đường hoạn lộ.
Qua việc tìm hiểu không gian lữ thứ trong thơ Đường, phần nào đó
những quan niệm tưởng chừng như rất xa với cuộc sống của con người hiện
đại, tưởng chừng như đã nhạt nhòa phôi pha theo dòng chảy của thời gian:
quan niệm về nhân cách con người-xuất phát điểm làm xuất hiện những đặc
trưng văn hóa mĩ học, quan niệm về thế giới tự nhiên, quan niệm về xã hội và
vị trí của nhân cách trong cấu trúc ấy… có dịp được tái hiện. Để qua đó, dù
cảm để hiểu hay hiểu để cảm thì vẻ đẹp xưa của một thời cũng làm cho trái
tim người đọc mềm lại, để những cung bậc cảm xúc lẩn khuất đâu đó có dịp
ùa về, để thấy sự tồn tại của mình trên cuộc đời là có ý nghĩa… Bởi đâu đó
4
phảng phất trong những bài thơ Đường qua không gian lữ thứ những tâm sự
của mình đã được ai đó nói hộ bằng thơ và hơn nữa bằng cả một tấm lòng.
Thơ Đường quả thật đã cất cánh trong không gian lữ thứ. Và tất cả
những điều trình bày ở trên khiến chúng tôi chọn cho mình đề tài nghiên cứu
KHÔNG GIAN LỮ THỨ TRONG THƠ ĐƢỜNG.
2. Lịch sử vấn đề
Sự phức tạp khi tìm hiểu thơ Đường có lẽ là điều không thể phủ nhận.
Không chỉ vì sự đa dạng của phong cách nhà thơ khi đội ngũ thi nhân được
mở rộng và lực lượng sáng tạo chủ đạo được thay đổi trong bối cảnh kinh tế -
xã hội Trung Quốc đạt đến đỉnh cao, bởi chính sách “dĩ thƣ thủ sĩ” (dùng thơ
để chọn người tài) và sự ái mộ đặc biệt của nhà vua và xã hội đối với thi
nhân; không chỉ vì sự phản ánh các mặt sinh hoạt trong xã hội của thơ Đường
được mở rộng hơn: khi các nhà thơ cúi xuống với nỗi đau của con người, đã
nhìn thấu những chuyển biến mong manh trong tâm trạng con người trước
những thời khắc đặc biệt, trước sự luân chuyển tưởng chừng rất vô tình của
thiên nhiên vạn vật; không chỉ bởi sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật
cũng như các chi phái. Điều này có thể giúp người đọc hiểu hơn vì sao có sự
phân chia thành bốn phái biên tái-điền viên-lãng mạn-hiện thực và bốn giai
nội dung và nghệ thuật Đường thi, là dịp mà thơ Việt và thơ Đường giao hòa,
vượt thắng lẫn nhau, rất hữu ích và thú vị. Điểm đặc trưng là qua cảm quan
thẩm mĩ mang màu sắc trực quan của các nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam,
thơ Đường được tìm hiểu, khám phá ở mức độ tác phẩm. Và cuối thế kỉ XIX,
vua Tự Đức đã nhận xét thơ Đường một cách chủ quan, vu khoát, rằng “thi
đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đƣờng” (thơ ở Việt Nam đến Tùng Thiện Vương,
Tuy Lý Vương thì thơ Thịnh Đường không bằng).
6
Thế kỷ XX đánh dấu sự bùng nổ của các phương pháp và lý thuyết nghiên
cứu văn học mở ra nhiều hướng tiếp cận thơ Đường mới cho các nhà nghiên
cứu Việt Nam. Dưới góc độ tiếp nhận, bên cạnh sự tiếp xúc trực tiếp với thơ
Đường trên sự tương đồng văn hóa - văn học của các nước Đông Á; không
dừng lại ở mức độ bình giảng trực cảm các bài thơ riêng lẻ, các học giả và
dịch giả Việt Nam đã đón nhận, chuyển ngữ rất nhiều các công trình nghiên
cứu văn học Trung Quốc trong đó có thơ Đường. Những công trình nghiên
cứu thơ Đường ở các nước phương Tây nơi có ngành Đông Phương học phát
triển và đạt những thành tựu rực rỡ như Nga, Pháp, Anh, Mĩ… không những
cung cấp cho các nhà nghiên cứu Việt Nam những cách tiếp cận mới mà còn
mở rộng biên độ cảm nhận thơ Đường.
Đó là những tiền đề quan trọng trong việc tìm hiểu và tri nhận một không
gian đặc biệt trong thơ Đường-không gian lữ thứ.
Và một trong những đề tài lớn của thơ Đường được đề cập là thơ tiễn
biệt, thơ biên tái và thơ sơn thủy- nơi mà không gian nghệ thuật đậm sắc màu
của không gian lữ thứ. Nhưng đối với các bài thơ thuộc mảng đề tài này, các
sách tham khảo và các giáo trình văn học Trung Quốc (Lịch sử văn học Trung
Quốc tập 1 do Nxb Giáo dục phát hành, Văn học sử Trung Quốc tập 2 của
Nxb Phụ nữ, giáo trình Văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, Phạm
Thế Ngũ, Trần Xuân Đề…) cùng các tuyển tập trích dẫn thơ Đường hiện có ở
Việt Nam qua góc nhìn văn hóa đều không đề cập trực diện đến không gian lữ
Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dƣới góc nhìn văn hóa), Cao Xuân
Huy (Tƣ tƣởng phƣơng Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu), Phương Lựu
(Văn hóa, văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở Việt Nam ), Lê Thị
8
Thanh Tâm (Nghiên cứu so sánh thơ thiền Lý Trần và thơ thiền Đƣờng Tống
– luận án tiến sĩ), Nguyễn Khắc Phi, Đoàn Lê Giang, Đoàn Hương, Trần
Ngọc Vương, Phan Ngọc, Nguyễn Tuyết Hạnh… vì một mục đích khác: giải
thích rõ hơn những tồn nghi trong văn học sử Việt Nam. Nhưng tất cả những
nhận định ấy đã trở thành gợi ý quý báu cho người viết trong quá trình thực
hiện đề tài.
Các tư liệu viết về thơ Đường và có liên quan đến thơ Đường rất nhiều
tuy nhiên những tư liệu trực tiếp liên quan đến không gian lữ thứ thì rất ít ỏi
một phần do tính chuyên sâu của đề tài. Trong những năm gần đây, thành tựu
của phương pháp nghiên cứu văn học bằng ánh sáng thi pháp học đã đem lại
những khám phá, phát hiện đầy thú vị về thơ Đường trong đó ít nhiều có đề
cập đến không gian lữ thứ. Điển hình đó là sự xuất hiện của hàng loạt các
công trình nghiên cứu về không gian nghệ thuật, Về thi pháp thơ Đƣờng của
Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử; Thi pháp thơ Đƣờng của Nguyễn Thị Bích
Hải; Một số đặc trƣng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đƣờng của Nguyễn Sĩ
Đại; luận án tiến sĩ về Tứ tuyệt Lí Bạch của Phạm Hải Anh; Thơ sơn thủy cổ
đại Trung Quốc của Trần Trung Hỷ, Thi pháp thơ Đƣờng của Lương Duy
Thứ, lời mở đầu tác phẩm Giai thoại thơ Đƣờng của Cao Tự Thanh…
Điểm nổi bật của cách nghiên cứu thi pháp học của các tác giả trên là đã
nhìn nhận không gian thơ Đường trong đó có không gian lữ thứ như một dấu
ấn mang đặc trƣng thẩm mĩ-nghệ thuật đặc biệt của thơ Đường, đã bước đầu
nhìn nhận không gian lữ thứ là một mã riêng như một chìa khóa để mở cửa
vào thế giới nghệ thuật của thơ Đường. Từ đây, qua góc nhìn thi pháp học các
nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận định mang tính gợi mở như không gian
tống biệt cũng là không gian vũ trụ (Nguyễn Thị Bích Hải), không gian du
Sau nữa, do tính chất tập trung chuyên sâu vào một vấn đề cơ bản của
luận văn nên dù tài liệu nghiên cứu về thơ Đường (ngoài những nhận định về
không gian lữ thứ) khá nhiều nhưng người viết chỉ tập trung vào những tài
liệu góp phần làm nổi bật nhận định: không gian lữ thứ là một không gian
mang tính nghệ thuật thẩm mĩ đặc biệt trong rất nhiều các kiểu dạng không
gian nghệ thuật độc đáo của thơ Đường.
Và không gian trong thơ Đường là không gian mang nhiều sức gợi.
Bởi đặc điểm chung nhất của thơ Đƣờng là “trọng tình” với bút pháp cơ bản
là “nhập thần”, không theo đuổi sự tái hiện diện mạo mà biểu hiện cái thần
của cảnh tƣợng thiên nhiên [29,tr.62]. Trong thời gian thực hiện đề tài, người
viết nhận thấy không gian lữ thứ cũng là sự thể nghiệm, cụ thể hóa những đặc
điểm ấy và chính điều này đã tạo nên một bản sắc vừa đa dạng nhưng cũng
vừa thống nhất trong phong cách của các nhà thơ.
Sự chuyển hóa đa dạng của các dạng thức trong không gian lữ thứ đòi
hỏi một sự nhận đồng (identity) - một sự chia sẻ, đồng cảm mang tính văn
hóa và chấp nhận tính tương đối của sự vật. Và ở những lằn ranh của những
dạng thức ấy, không gian lữ thứ có tính đa trị. Chính tính đa trị ấy giúp cho
không gian lữ thứ của thơ Đường bất tử với thời gian. Vì ở mỗi thời đại nhất
định, một (hoặc nhiều) khía cạnh và phương diện của không gian lữ thứ ấy trở
nên đặc biệt hơn. Và dưới ánh sáng bổ trợ của các ngành khoa học-nghệ thuật
khác, không gian lữ thứ sẽ hiển lộ những vẻ đẹp mới, sức sống mới phù hợp
với xu hướng thẩm mĩ và tầm đón nhận của bạn đọc.
Đến với thế giới thơ Đường sẽ là đến với một thế giới quen mà lạ, lạ
mà quen. Quen bởi những lợi thế trong cách cảm nhận của người Việt về thơ
Đường và lạ bởi đó là một vườn hoa mênh mông đầy sắc màu mà cả cuộc đời
của một con người khó có thể chiêm ngưỡng đến tận cùng vườn hoa đó.
11
Không gian lữ thứ trong thơ Đƣờng được triển khai trên cơ sở kế thừa và mở
rộng dựa trên tất cả những thành tựu nghiên cứu về Đường thi của các bậc
góc nhìn đa chiều, đa diện; là cảm thấu sự phức tạp, phong phú của chiều sâu
những cung bậc cảm xúc; là sự khát khao khám phá và nhìn nhận thân phận
con người với tất cả vẻ đẹp tiềm ẩn lung linh, huyền ảo của nó. Thế mạnh của
văn chương là sự hiểu thấu những góc khuất của con người bằng cảm xúc,
bằng trái tim. Và với khát khao ấy, một khi những thành tựu mới, những bước
tiến trong nghiên cứu văn học xuất hiện, “mắt thơ” luôn đón nhận nó bằng
tấm lòng tri kỷ vì đó cũng là những nẻo đường mới để đến với thế giới thơ ca,
để thấy đâu đó chính con người mình trong những dòng trắng, trong sự
chuyển dịch của con chữ. Đó là một cái nhìn đầy tính nhân văn của văn
chương đối với cuộc đời, đối với con người. Vì thế, không gian lữ thứ trong
thơ Đường cũng sẽ được hình dung trong một cảm quan như thế: một cảm
quan đầy màu sắc, đầy cảm xúc.
1.1. Góc nhìn loại hình, thi pháp
Không gian lữ thứ là một không gian đẹp. Đẹp bởi sự mênh mang xa
vắng mơ hồ mà vỏ âm Hán Việt đã cấp cho nó. Đẹp bởi những sắc độ mờ ảo
về mặt ngữ nghĩa. Và đẹp bởi cả một nỗi buồn vương vấn nhẹ nhàng mà kẻ
tha nhân, người lữ thứ chất chứa trong lòng. Nhờ vẻ đẹp đó, không gian lữ
thứ trở thành một địa hạt hợp lý của văn chương. Nhưng chính vì vẻ đẹp
mông lung huyền ảo đó mà việc gọi tên xác định đúng những nội hàm quả
không dễ dàng. Phải chăng không gian lữ thứ trong thơ Đƣờng là cái không
gian mà độc giả cảm nhận được khi đọc những bài thơ do các thi nhân đương
13
thời sáng tác trong không gian xa quê: nơi những nhà thơ trị nhậm với tƣ
cách mệnh quan triều đình, trên đƣờng nhà thơ đi đến nơi bị biếm trích, các
thi nhân trên đƣờng chạy loạn, tại những địa điểm nhà thơ bị biếm trích,
thậm chí ở trong tù và cả những nơi thi nhân du lãm, khi tiễn biệt tri kỉ trƣớc
khi dấn thân trên chốn đƣờng xa mịt mù mà không biết ngày tái ngộ?
Không gian trong thơ Đường là một không gian đậm chất phương
Đông thiên về gợi nhiều hơn tả. Và chính yếu tố này khi gặp trí tưởng tượng
những gì thân thuộc hiếm hoi trong cuộc đời đầy biến động đã đem đến cho
Đỗ Phủ cái cảm giác tri túc:
Thanh giang nhất khúc bão thôn lƣu
Trƣờng hạ giang thôn sự sự u
Tù khứ tự lai lƣơng thƣợng yến
Tƣơng thân tƣơng cận thủy trung âu
Lão thê họa chỉ vi kì cục
Trí tử xao châm tác điếu câu
Đa bệnh sở tu duy dƣợc vật
Vi khu thử ngoại phục hà cầu?
Thanh giang một dải nước bao quanh
Dằng dặc ngày hè xóm vắng tanh
Lũ én ra vào trên mái rạ
Đàn âu quen biết giữa sông xanh
Kẻ bàn cờ giấy cùng bu nó
Uốn lưỡi kim câu với trẻ ranh
Ốm mãi cũng nên quen vị thuốc
Thân hèn đâu tưởng chuyện công danh
(Đỗ Phủ, Thanh giang)
Có thể thấy sự khác biệt cơ bản về phong vị thơ ở hai không gian khác
nhau. Trong không gian hương tính, nhà thơ được sự trợ giúp về mọi mặt của
gia đình, làng họ; thơ Đường được trứ tác trong hoàn cảnh đó không thể hiện
nỗi cô đơn của thi nhân, không bày tỏ nỗi ca thán chính sự, sự đau khổ cùng
cực của dân chúng, không mô tả những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn,
hoành tráng, không thể hiện một cách ấn tượng sự hòa hợp của con người với
trời đất, vũ trụ. Và vì thế, sự xuất hiện và tồn tại của không gian lữ thứ đã
mang lại những sắc thái mới cho thơ Đường. Những sắc thái mới ấy không
15
chỉ làm nội dung thơ Đường trở thành một bức tranh toàn bích, mà còn kéo
chiều hoài cố về quê cũ (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói
sóng cho buồn lòng ai), của một tiếng chim kêu lanh lảnh trong khe núi mùa
xuân (trăng lên chim thảng thốt/ Khe vọng tiếng chim kêu), của một tiếng quạ
kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của
hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài (Trăng tà chiếc quạ kêu sương / Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ)…
Không gian lữ thứ với tư cách là một hình tượng nghệ thuật đã góp
phần làm nên vẻ đẹp của Đường thi. Không gian lữ thứ không chỉ nắm bắt sự
cảm nhận những sắc thái riêng biệt của không gian địa lý và không gian tâm
lý như những vô thức tập thể của dân tộc Trung Hoa. Sự nắm bắt này đã làm
cho thơ Đường Trung Hoa khác biệt với lục bát Việt Nam, với Haikư của
Nhật Bản. Không gian lữ thứ còn là sự giao hòa của không gian sự kiện,
không gian bối cảnh, không gian tâm lý và cả không gian kể chuyện. Sự song
hành của những kiểu không gian này đã làm nên những tên tuổi đỉnh cao như
thi tiên Lí Bạch, thi thánh Đỗ Phủ, thi Phật Vương Duy, thi quỷ Lý Hạ và rất
nhiều nhà thơ được bao thế hệ bạn đọc yêu mến.
1.2. Góc nhìn chủ thể sáng tạo - nhân vật trữ tình
Một trong những điểm nhìn đặc biệt để cảm nhận không gian trong tác
phẩm là đặt mình vào vị trí tác giả. Chính tác giả sẽ là người hiểu rõ hơn ai
hết về không gian mà mình cảm thụ, xây dựng và thể hiện nó trong tác phẩm
của mình. Và không gian ấy đã góp phần hình thành nên phong cách riêng
của từng nhà văn nhà thơ, góp phần thể hiện một thế giới quan độc đáo khó
lẫn của từng tác giả. Trong thơ trữ tình, một thể loại đặc biệt của văn học,
17
trong đó có thơ Đường, sự gặp gỡ của chủ thể sáng tạo - tác giả bài thơ với
nhân vật trữ tình trong tác phẩm là điều không thể phủ nhận. Bởi thơ là để gửi
gắm nỗi lòng, là để kí thác tâm sự. Bản chất của thơ ca là thể hiện đời sống
nội tâm của nghệ sĩ. Không gian lữ thứ cũng góp phần thể hiện đời sống nội
tâm với nhiều sự dao động ấy. Vì một trong những động lực sáng tạo của nhà
sinh, hay những lúc sa cơ lỡ vận của người anh hùng mạt lộ bị biếm trích, bị
đày ải, hay những phút giây bình yên với chính mình trên con đường du lãm,
thi nhân luôn sống thực với chính mình, và thơ đã trở thành bầu bạn của nhà
thơ để chia sẻ những khoảnh khắc “đoạn trường” đó. Cho dù sự xa quê là lựa
chọn của thi nhân, nhưng sự lựa chọn nào cũng phải trả giá: đằng sau tất cả
những trách nhiệm đó là hình bóng quê nhà. Quê nhà luôn là hình bóng muôn
thuở, luôn ngự trị vĩnh hằng trong tâm khảm của mỗi người con xa quê. Tình
cảm quê hương hay nỗi lòng của chinh nhân, lữ khách đã có từ trước. Nhưng
nỗi lòng lữ thứ của thi nhân trong thơ Đường không phải chỉ là người thất cơ
lỡ vận. Mà trong dạng thức của không gian lữ thứ, nhà thơ còn khắc khoải đi
tìm một cái gì đó rất riêng thuộc về tinh thần, nhằm phát hiện và trả lời cho
những băn khoăn mang tính triết học: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Và ta sẽ đi về
đâu trong thế giới này? Vì vậy, quê hƣơng trong tình cảm của thi nhân không
còn là nơi chôn rau cắt rốn nữa. Nó là một cái gì đó lớn hơn, không chỉ ở
phía sau với nỗi hoài hƣơng nguồn cội mà ở đâu đó xa vời phía trƣớc
[10,tr.50].
Chỉ trong không gian lữ thứ trực tiếp và cụ thể hơn là trong sự đối lập
có phần nghiệt ngã với không gian hương tính mà hình ảnh quê nhà luôn là
một cái gì đó khiến thi nhân nhức nhối. Nhức nhối không hẳn chỉ vì con
19
người nhà thơ bị bứng ra khỏi môi trường quen thuộc xa bạn bè tri kỉ, xa
những gì tưởng chừng đã thuộc về mình, không hẳn vì chốn mới sẽ đến không
bình yên, mà nhức nhối như một cách nhắc nhở, như một cách tự an ủi mình
của thi nhân rằng mình vẫn còn một chốn đi về, còn một nơi để mà nhớ, để
mà day dứt khi gặp những vật gợi nhắc trong không gian: một cành cúc vào
thu, một li rượu lúc tiễn biệt, một cành liễu ven đường, một vầng trăng cô đơn
trên không tịch mịch. Bởi chỉ có kí ức mới hội nhập đƣợc cuộc sống (Macxen
Prux). Và chỉ khi tồn tại trong cái không gian lữ thứ cùng chân đó, cùng giãi
bày nỗi lòng khi đày ải mà tâm sự của Tư Không Đồ và Vương Duy mới khác
của mình thì Lí Bạch – một thi nhân “nhất sinh hiếu nhập danh sơn du” (suốt
đời thích chơi ở nơi núi non nổi tiếng) khó có thể viết được bài thơ “Tặng
nội” thể hiện suy nghĩ sâu kín nhất, chân thật với trái tim nhà thơ nhất về
người vợ của mình:
Tam bách lục thập nhật,
Nhật nhật túy nhƣ nê
Tuy vi Lí Bạch phụ,
Hà dị Thái Thƣờng thê
Ba trăm sáu chục ngày
Ngày ngày túy lúy say
Làm vợ chàng Lí Bạch
Giống bà Chu Trạch thay!
Tự thán mình cả năm làm con sâu rượu, lại so sánh mình với Chu
Trạch không biết nghĩ tới thân phận của vợ, Lí Bạch quả đã viết một bài thơ
sám hối dành cho Lí Bạch phu nhân với bằng cả tấm lòng chân thật của mình.
Như vậy trong không gian lữ thứ thực – không gian đã từng chiếm một
phần đời của nhà thơ, không còn là một không gian vật lý đơn thuần để phát
triển sở kiến, sở văn, làm cho những điều trông thấy trở nên rộng, sâu, mới so
với những gì nghe, thấy trong không gian gia đình, làng họ nữa mà đã trở
thành một không gian nghệ thuật với rất nhiều điểm nhấn. Ở đó, nhà thơ với
tư cách là chủ thể sáng tạo đồng thời là nhân vật trữ tình đã suy tư, trải lòng,
đối diện với chính mình để tìm kiếm và nhìn thấy một tha nhân, một người
khác trong chính con người mình. Từ đây, những khát khao được nói lên
tiếng nói của chính con người bên trong được thể hiện qua nhiều bình diện:
Thơ thuật hoài hoặc có tính chất thuật hoài;
21
Thơ thể hiện cuộc sống của nhân dân bị trị, cuộc sống của giới thống
trị xã hội và những bình luận phê phán chính sự;
Thơ tống biệt và thơ thể hiện tình bạn giữa các thi nhân;
dạng thức không gian này đã trở thành người bạn thứ ba vô hình nhưng hữu
tình chia sẻ những cảm xúc của người đi và kẻ ở. Tình bạn, tình tri kỉ, nỗi
lòng được kí thác, được gởi gắm vào không gian lữ thứ hình thành nên chiều
thứ năm của không gian, bên cạnh bốn chiều cơ bản vốn có của nó. Và đây
cũng là một nét đặc biệt của không gian lữ thứ.
Ở không gian lữ thứ ảo nhà thơ cũng nhìn mình như một người khác –
người khách trên con đường lữ thứ. Với tư cách đó, nhà thơ không chỉ hƣớng
ngƣời đọc vào một miền lý tƣởng, hoài bão trong tâm tƣ, mà còn hƣớng
ngƣời đọc vào vị thế, địa vị, cảnh ngộ của chính mình trong thế giới. Cái họ
muốn khêu gợi đồng cảm không chỉ là cảm xúc của họ, tâm trạng của họ, mà
chủ yếu là cảnh ngộ của họ, vị thế họ, tình cảm mà họ thể nghiệm [52,tr.154].
Vì thế, nỗi buồn song trùng khi phải tiễn bạn nơi đất khách quê người của Vi
Trang càng trở nên ngậm ngùi hơn bao giờ hết:
Thiên thai phƣơng thán dị hƣơng thân
Hựu hƣớng thiên nhai biệt cố nhân
Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt
Túy tinh hà xứ các chiêm cân
Bên trời lận đận đã thương thân
Lại ở bên trời biệt cố nhân
Trăng lạnh canh tàn nơi quán khách
Tỉnh say mỗi ngả lệ đầm khăn
(Vi Trang, Đông dương tửu gia tặng biệt )
23
Không gian lữ thứ gián cách còn đặc biệt ở chỗ: nó nằm giữa lằn ranh
mong manh của không gian lữ thứ và không gian gia đình, làng họ, không
gian hương tính. Hiện hữu ở cái lằn ranh ấy, một vẻ đẹp rất khác lạ như một
sự thách đố đã hiện ra: vẻ đẹp nằm ở lưỡng ngạn. Và chính sự thách đố ấy đã
thắp sáng trong lòng độc giả hai niềm say mê: chiêm ngưỡng và khám phá. Vì
nếu quan niệm tự do và sự giải phóng nội tâm là sự nắm vững quy luật, hòa