Thế nào là ô nhiễm môi trường đất doc - Pdf 17

Thế nào là ô nhiễm môi trường đất?
"Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
trường đất bởi các chất ô nhiễm".
Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc
theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có:
• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có
thể cùng một nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó,
người ta còn phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân
bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ
v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v ).
• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh
trùng (giun, sán v.v ).
• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ
chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137).
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít. Đầu vào có
nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do con
người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến.
Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó.
Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất
ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và nước sẽ
nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng này,
nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm cho đất
sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức.
Các hệ thống sản xuất tác động đến môi trường đất như thế nào?
Dân số trên trái đất tăng lên, đòi hỏi lượng lương thực, thực phẩm ngày càng
nhiều và con người phải áp dụng những phương pháp để tăng mức sản xuất và
cường độ khai thác độ phì của đất. Những biện pháp phổ biến nhất là:

luỹ cao trong các loại đất giàu khoáng sét và chất mùn.
• Các chất thải gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, mầu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc
da, công nghiệp sản xuất hoá chất. Nhiều loại chất hữu cơ đến từ nước cống,
rãnh thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồn nước tưới
trong sản xuất cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất.
nhiễm đất đô thị - Nguy cơ từ TP.HCM(13:33 20/09/2006)
Tài nguyên đất ở TP.HCM đa dạng và phong phú với nhiều nhóm đất chủ yếu: đất cát biển, đất
mặn (ở Cần Giờ); đất phèn phân bố chủ yếu ở vùng trũng: nam Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông
Đồng Nai, bắc Cần Giờ; đất phù sa, đất xám và đất đỏ (ở Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức). Từ trước
đến nay, người ta thường quan tâm nhiều đến khía cạnh KT – XH của tài nguyên đất mà ít đề
cập hơn đến khía cạnh ô nhiễm và suy thoái đất, cũng như một số ảnh hưởng có thể của đất
hoang hóa.
Ô nhiễm đất chính là việc đưa vào môi trường đất các thành phần có hại đối với sự sống của
cộng đồng và hệ sinh vật. Trong đó, có hai nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là tự nhiên và nhân tạo.
Đối với nguồn ô nhiễm tự nhiên đa số là do xâm nhập mặn chủ yếu từ nước biển và nhiễm phèn
hoặc là do nước mưa lôi kéo các chất bẩn bề mặt thấm qua lớp đất Còn nguồn ô nhiễm nhân
tạo chủ yếu do hoạt động của con người đang là vấn đề đáng được quan tâm. Thành phố hầu
như chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nên được thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận, kênh
rạch và sông ngòi, từ đó gây ô nhiễm nước, đồng thời cùng tác động đến ô nhiễm đất. Thời gian
qua, thành phố cũng quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm công nghiệp, đã có những chỉ đạo cụ
thể triển khai công trình sản xuất sạch hơn, xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trầm trọng
và xử lý cuối đường ống; đồng thời, đưa ra chính sách khuyến khích và ưu đãi DN vay vốn để
triển khai. Tuy nhiên, vấn đề cải thiện môi trường do hoạt động công nghiệp còn hạn chế nên vẫn
có tác động lớn đến ô nhiễm môi trường nước và đất. Ngoài ra, ô nhiễm đất còn do các chất thải
nông nghiệp, nhất là việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; do khai thác nước
ngầm thiếu quy hoạch, không kiểm soát, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, xâm nhập mặn, lún sụt
đất; do khai thác đất, cát trái phép và không kiểm soát nổi, gây sạt lở đất và ảnh hưởng lớn đến
dòng chảy; do sự cố tràn dầu có khả năng gây ô nhiễm nước, đất trầm trọng, đáng lưu ý vụ chìm
tàu Gemini (1996) 72 tấn dầu thô Ngoài ra, ô nhiễm đất còn do bụi và khí thải sinh ra từ quá

V. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM.
1. Do phân bón.
2. Ảnh hưởng của việc dùng nông dược.
VI. ÐẤU TRANH SINH HỌC.
1. Phương pháp ảnh hưởng tử suất.
2. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất.
3. Quản lý tổng hợp các loài dịch hại (IPM).

Ô nhiễm đất là do người ta sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp và do người ta
thải vào môi trường đất các chất thải đa dạng khác. Trong các chất thải này, có những
chất khó hay không thể phân hủy sinh học và đặc biệt là những chất phóng xạ. Ðất cũng
nhận những kim loại nặng từ khí quyển dưới dạng bụi (Pb, Hg, Cd, Mo ) và các chất
phóng xạ. Rác từ đô thị, việc sử dụng phân tươi bón ruộng rẫy cũng góp phần làm ô
nhiễm đất.
Ðặc biệt đất là trung gian của khí quyển và thủy quyển, là vị trí chiến lược trong trao đổi
với các môi trường khác.
Ô nhiễm đất phần lớn là do sản xuất nông nghiệp hiện đại và các hoạt động khác của
người. Các nhóm quốc gia khác nhau có các loại rác thải khác nhau (rác nhà giàu khác
với rác nhà nghèo). Nhưng tất cả đều góp phần làm ô nhiễm đất trước tiên, nơi sinh sống
của con người và của các sinh vật sống ở cạn khác. Sau đó lượng rác thải ngày càng tăng
này còn gây ô nhiễm môi trường nước và không khí.
I. Ô NHIỄM ÐẤT BỞI NÔNG NGHIỆP HIỆN ÐẠI
Ô nhiễm đất xảy ra chủ yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kỹ thuật
canh tác hiện đại. Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi
đất trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm vì dân số gia tăng và cũng vì sự phát
triển thành phố, kỹ nghệ và những sử dụng phi nông nghiệp. Người ta cần phải thâm
canh mạnh hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu trình vật chất trong hệ
sinh thái nông nghiệp.
Phân bón hóa học chắc chắn đã gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng lặp lại, với liều
rất cao gây ra sự ô nhiễm đất do các tạp chất lẫn vào. Hơn nữa Nitrat và Phosphat rải một

Chlomium 66 - 243
Cobalt 0 - 9
Ðồng 4 - 79
Chì 7 - 92
Nicken 7 - 32
Selenium 0 - 4,5
Vanadium 20 - 180
Kẽm 50 - 1490
Ði tìm năng suất tối đa trong khai thác công nghiệp ở những diện tích rộng lớn là nhờ vào
sự gia tăng tối đa lượng phân hóa học. Ðó là một nhân tố ô nhiễm mới cho đồng quê.
Ðịnh luật về năng xuất giảm dần (Loi de rendements décroissants), dường như là không
được biết bởi các nhà khai thác nông nghiệp, nhưng chúng được không biết một cách tự
giác bởi những buôn bán phân bón là kẻ thường khuyên bảo nông dân.
III. Ô NHIỄM ÐẤT DO NÔNG DƯỢC
Sự sử dụng có hệ thống một lượng nông dược ngày càng tăng ở nông thôn là một dẫn
chứng cho một thảm họa sinh thái từ việc sử dụng thiếu suy nghĩ của một kỹ thuật mới.
Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trường. Khác với các chất ô
nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên nhằm tiêu
diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay vào nông thôn để triệt hạ các loài
phá hại mùa màng.
Các diện tích có sử dụng thuốc (phun xịt) rất lớn. 5% lãnh thổ Hoa Kỳ có phun xịt. Ở
Pháp, 18 triệu ha có sử dụng nông dược một lần một năm, chiếm 39% lãnh thổ.
1. Các loại nông dược ( Pesticides)
Các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp. Thuật ngữ pesticides là do từ tiếng
Anh pest là loài gây hại, nên pesticides còn gọi là chất diệt dịch hay diệt họa.
Ta phân biệt:
- Thuốc trừ sâu (insectides)
- Thuốc trừ nấm (fongicides)
- Thuốc trừ cỏ (herbicides)
- Thuốc trừ chuột (gặm nhấm = rodenticides)

hữu nhũ (LD50 là 40 - 60 mg/kg). Chúng được dùng từ những năm 1965 để chống lại các
côn trùng, như là chất bảo vệ hạt giống và thuốc trừ sâu của đất.
HCH được tiếp thị như là hỗn hợp thô của đồng phân BHC , nhưng rộng rải hơn ở dạng
tinh chế có chứa chủ yếu đồng phân gamma, như (HCH, (BHC hay lindane. (HCH có
cùng các đặc tính với các thuốc trừ sâu clor hữu cơ khác, nhưng nó phân cực hơn và tan
trong nước nhiều hơn (7mg/l). Nhũ tương của HCH được dùng để trừ các dịch hại nông
nghiệp và các ký sinh trùng của gia súc. Chúng cũng được dùng bảo vệ hạt giống. HCH
chỉ độc vừa phải đối với chuột (LD50 là 60 - 250mg/kg) (Walker và CSV, 1996).
· Thuốc trừ sâu lân hữu cơ
Trong thế chiến lần thứ hai, hợp chất lân hữu cơ được dùng làm chất độc thần kinh
(neurotoxin), vì chúng có khả năng ngăn trở enzim acetylcholinesteraz (AchE). Chúng
được sản xuất vì hai công dụng chánh, là thuốc trừ sâu và vũ khí hóa học. Chúng là
những ester hữu cơ của acid phosphoric.
Ngày nay một số lượng lớn hợp chất lân hữu cơ được tiếp thị như là thuốc trừ sâu. Ða số
thuốc trừ sâu lân hữu cơ là chất lỏng ưa lipid, vài loại bay hơi, một ít là chất rắn. Chúng ít
bền vững hơn thuốc trừ sâu clor hữu cơ và bị phân hủy dễ hơn bởi các tác nhân hóa học
hay sinh hóa học. Do đó, chúng phân hủy nhanh trong môi trường, nhưng độc tính cấp
thời là đáng kể. Chúng phân cực và tan trong nước nhiều hơn thuốc trừ sâu clor hữu cơ.
Các hoạt hóa của vài thứ thuốc trừ sâu lân hữu cơ hòa tan trong nước đủ để đạt đến nồng
độ cao trong mô dẫn nhựa (phloem) của cây, gây độc cho côn trùng ăn phải (chất độc lưu
dẫn ?).
Dạng thức chế tạo của các hợp chất lân hữu cơ thì quan trọng trong ô nhiễm môi trường
do chúng gây ra. Nhiều thứ được chế biến dưới dạng nhũ tương để phun xịt. Nhiều loại
khác là chất bao bọc hạt giống hay dạng viên nhỏ. Dạng viên cần cho các thuốc trừ sâu
lân hữu cơ độc tính cao, vì dạng này an toàn hơn dạng nhũ tương khi thao tác. Thuốc bị
cầm giữ trong viên, và chỉ thoát từ từ ra môi trường.
Trong nhiều quốc gia, thuốc trừ sâu lân hữu cơ hiện vẫn còn được sử dụng cho hoa màu
dưới nhiều dạng thức khác nhau. Chúng được dùng để kiểm soát ngoại ký sinh của gia
súc và cả nội ký sinh, cào cào, dịch hại các kho chứa, muỗi, ký sinh của cá
· Thuốc trừ sâu carbamate

Simazine (ngăn chặn quang hợp bằng cách chặn đứng chu trình Calvin, cây không thể cố
định CO2). Pichloram là chất độc và rất ổn định trong môi trường.
Các dẫn xuất của acid phenoxyacetic là nhóm thuốc trừ cỏ quan trọng nhất. Các thí dụ
quen thuộc là 2,4-D, 2,4-DB, 2,4,5-T, MCPA và CMPP. Chúng tác động bằng cách rối
loạn quá trình tăng trưởng theo cách của chất điều hòa tăng trưởng tự nhiên Indole acetic
acid (IAA). Chúng là các dẫn xuất của các acid carboxylic phenoxyankal. Khi chế tạo
dưới dạng muối kiềm, chúng rất hòa tan vào nước, nhưng khi chế tạo dưới dạng ester đơn
thì chúng lại ưa lipid và ít hòa tan vào nước.
Ða số thuốc trừ cỏ phenoxy dễ bị phân hủy sinh học và không lưu tồn trong cơ thể sinh
vật hay trong đất. Chúng tác dụng có chọn lọc, như chọn lọc giữa đơn tử diệp và song tử
diệp, chúng được sử dụng chủ yếu để trừ hạt đơn tử diệp trong đất trồng song tử diệp
(ngũ cốc và đồng cỏ). Vấn đề môi trường có hai loại. Thứ nhất là vấn đề độc tính thực vật
(phytotoxycity) do phun xịt hay phun sương. Thứ hai là vài loại có chứa hợp chất cực
độc là dioxin (TCDD = tetrachlorodibenzodioxin), tác nhân màu da cam của 2,4-D và
2,4,5-T dùng như thuốc làm rụng lá cây ở Việt Nam. Ðây là chất cực độc cho hữu nhũ
(LD50 là 10 - 200 (g/kg ở chuột).
c. Thuốc chống đông máu trừ gậm nhấm
Hợp chất Warfarin đã được dùng từ nhiều năm qua như thuốc trừ gậm nhấm. Nó là phân
tử ưa lipid, ít tan trong nước và tác động như chất đối kháng của vitamin K. Gần đây, khi
các gậm nhấm hoang dã kháng được Warfarin, thì thế hệ thứ hai của thuốc này đã được
tiếp thị, cũng có công thức tương cận qua Wafarin. Chúng bao gồm diphenacoum,
bromadiolone, brodiphacoum và flocoumafen. Chúng giống với Wafarin ở tính chất tổng
quát nhưng độc hơn cho thú và chim nhưng lại lưu tồn lâu trong gan của ÐVCXS. Do đó
chúng có thể được chuyển từ gậm nhấm sang các động vật ăn thịt và các loài ăn xác chết
của các gậm nhấm này. Như chim cú ở Anh quốc chẳng hạn, có chứa một lượng thuốc
trừ gậm nhấm nói trên. Thuốc trừ gậm nhấm thường được trộn vào bã mồi, đặt trong nhà
hay ngoài cửa, chúng sẽ được các gậm nhấm hoang dã ăn.
2. Tính chất sinh thái học của nông dược
Dù nông dược có nhiều lợi ích nhưng một số bất lợi xuất hiện dần và trở nên trầm trọng.
Vì nông dược tác động lên cả hệ sinh thái chứ không chỉ loài gây hại. Thực vật, bất kỳ

dụng khá phổ biến cho dân dụng và y học. Nhưng việc tích lũy các chất thải phóng xạ
ngày càng nhiều đã và đang gây nên một vấn nạn không chỉ riêng cho các quốc gia đang
sử dụng chúng. Ở Hoa kỳ, hàng năm có hơn 250 triệu tấn chất thải độc hại, tức trung bình
mỗi người dân một tấn. Các nước Châu âu cũng không kém. Chỉ một phần của số rác trên
được xử lý, còn phần lớn được tập trung ở bãi rác hay thải ra sông hồ, biển và đại dương.
Một vấn đề môi trường khác là việc các nước công nghiệp xuất khẩu rác thải độc hại
sang các nước nghèo. Ðây là cách làm ít tốn kém cho các quốc gia sản xuất khác, lại còn
có thể giúp đỡ các nước có được nguồn ngoại tệ để trả nợ và chi tiêu khác. Các loại rác
này hoặc được bán với giá rẻ làm vật liệu tái chế, hoặc được phép đổ ở một xứ nghèo nào
đó ở châu Phi hay châu Á để đổi lại một số dollar cho chánh quyền sở tại.
V. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM
1. Do phân bón
Ngoài việc ô nhiễm nước do dư lượng Nitrat và Phosphat, các phân bón còn làm ô nhiễm
thức ăn. Thật vậy, những liều cao của phân dùng trong đất trồng làm gia tăng lượng
Nitrat trong mô thực vật mọc ở đây. Nên xà lách trồng trên đất bình thường, chứa 0,1%
đạm Nitrit so với trọng lượng khô. Con số này lên đến 0,6% đất bón 600 kg Nitrat/ha.
Mồng tơi (épinard) có thể chứa một lượng đạm Nitrit rất cao. Người ta cho thấy là Mồng
tơi ở Mỹ chứa 1,37 g/kg và ở Ðức là 3,5 g/kg Nitrat trong mô thực vật này (Schupan,
1965). Lượng đạm cao vậy là có tác hại cho sức khỏe vì chúng gây chứng
methemoglobinemie, thể hiện qua việc ion NO2 kết hợp với Hemoglobin, làm cho hô
hấp (tiếp nhận O2) khó khăn. Khi chuẩn bị thức ăn cho trẻ, khi trữ trong tủ lạnh hay do
hoạt động của vi khuẩn đường ruột, Nitrat biến thành Nitrit rất độc. Nhưng nguy hại hơn,
Nitrit được thành lập trong ống tiêu hóa có thể biến thành Nitrosamine, là một chất gây
ung thư mạnh.
Nhưng lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà còn làm mất ổn
định hệ sinh thái nông nghiệp. Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc
ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên một đe dọa nghiêm trọng trong
việc giữ phì nhiêu của đất. Là do sự tích lũy liên tục các chất tạp (kim loại, á kim) có
trong phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị
giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi.

b. Ảnh hưởng lên các quần xã
Ða số các hậu quả của sinh thái học của việc dùng nông dược là ảnh hưởng gián tiếp thể
hiện sớm hay muộn. Aính hưởng của sự nhiễm độc mãn tính là do hấp thụ liên tục các
nông dược cùng với thức ăn. Nó gây chết cho các độ tuổi và làm giảm tiềm năng sinh
học, nên làm giảm sự gia tăng của các quần thể bị nhiễm, dẫn đến sự diệt chủng của loài.
Aính hưởng của nông dược do sự chuyển vận qua sinh khối, với sự tích tụ nông dược
trong mỗi nấc dinh dưỡng, làm cho nồng độ nông dược trong các vật ăn thịt luôn rất cao.
Trường hợp nặng gặp ở các nông dược ít hay không bị phân hủy sinh học. Cho nên thực
vật có thể tích tụ nông dược trong mô. Ðến phiên chúng làm thức ăn cho những bậc dinh
dưỡng cao hơn, sẽ làm nông dược chuyển đến cuối chuỗi thức ăn:
Ðiều này làm nhiễm độc mãn tính các động vật, dễ thấy là rối loạn chức năng sinh sản
(chậm trưởng thành sinh dục, số trứng ít, trứng có vỏ mỏng). Các chlor hữu cơ như DDT,
dieldrine, heptachlor và PCB, cũng như các thuốc diệt cỏ đều ảnh hưởng đến sinh sản của
chim.
Các ảnh hưởng trên còn có thể dẫn đến các hậu quả sau đây:
- Giảm lượng thức ăn. Một trong những xáo trộn do nông dược gây cho quần xã là làm
giảm lượng thức ăn động vật và thực vật cần thiết cho các loài ở các bậc dinh dưỡng khác
nhau trong hệ sinh thái nông nghiệp (Pimentel và Edwards, 1982). Sự biến mất dần các
thực vật hoang dại do sử dụng thuốc trừ cỏ trong các vùng đất canh tác làm thay đổi sâu
xa nguồn thức ăn và nơi ở của nhiều loài chim định cư sống trong vùng hay xung quanh
đó. Tương tợ, việc sử dụng các thuốc trừ sâu phân hủy nhanh (lân hữu cơ, carbamate và
pyrethroid) tuy không gây độc lâu dài như nhóm chlor hữu cơ, nhưng cũng gây hại cho
các loài chim ăn côn trùng vì chúng và con chúng sẽ không có thức ăn.
- Làm thay đổi cân bằng trong tự nhiên. Nông dược có thể gây ra sự phát triển quá đáng
của một loài thực vật hay động vật nào đó. Khi sử dụng thuốc diệt cỏ ở các nơi trồng ngũ
cốc thì hạt song tử diệp bị loại trừ, khi đó các cỏ họ hòa bản khó ưa sẽ phát triển mạnh vì
vắng các loài cạnh tranh. Sử dụng nông dược có thể loại trừ các kẻ thù tự nhiên của
những loài gây hại. Như ở Hoa kỳ chẳng hạn, việc sử dụng quá đáng azodrin, thuốc trừ
sâu lân hữu cơ, để trừ côn trùng gây hại cây bông vải cho thấy một tình huống tiếu lâm.
Thay vì làm giảm quần thể sâu Heliothis zea, thuốc azodrin lại diệt các thiên địch và ký

gây bịnh cho loài gây hại (nấm ăn côn trùng và vi khuẩn diệt trùng).
Ngoài ra, người ta cò sử dụng cả siêu khuẩn, như trường hợp virus Sanarelli, gây bịnh
Myxomatose cho thỏ, đã tiêu diệt 99% số thỏ ở Pháp năm 1952. Chuyện cũng xảy ra như
vậy ở Úc.
2. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất
Nhằm làm giảm sinh suất của những loài không muốn có. Lần đầu tiên, năm 1954,
Knippling đã thả những cá thể cái của Cochliomyia hominivorax làm bất thụ bởi Co60 ở
đảo Curacao, đã tiêu diệt hoàn toàn loài 2 cánh này, là tác nhân của bịnh myiases.
Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc theo đó thì một cá thể bị bất thụ sẽ bành trướng sự bất
thụ trong quần thể bởi vì nó gây cảm ứng (induction) cho bạn tình của nó. Trong trường
hợp của Cochliomyia, thành công dễ dàng là do các con cái chỉ giao phối một lần trong
đời.
Người ta còn sử dụng các chất gây bất thụ như tia bức xạ ion trong hóa học.
Hiện người ta sử dụng Phéromone và chất dẫn dụ. Năm 1960, Jacobson đã ly trích chất
Giplure, phéromon sinh dục của Lymantria dispar, có thể thu hút những con đực của loài
này ở nồng độ cực nhỏ (10 - 9 ug/lít không khí).
Chế tạo các bẩy có feromone (chất dẫn dụ) và chất bất thụ gốc hóa học là trong những
cách hay để dẫn dụ những loài gây hại.
3. Quản lý tổng hợp các loài dịch hại (IPM)
a. Vài ví dụ
Mục đích của IPM là làm tăng sản lượng nông nghiệp đồng thời giúp nông dân giảm chi
phí mua nông dược và giảm tác hại do nông dược. IPM sử dụng nhiều hình thức quản lý
đồng ruộng như là một hệ sinh thái.
Sự luân canh là cách canh tác làm cho đất chỉ có các cây trồng khác nhau trong mỗi mùa.
Ðiều này làm cho các dịch hại không có cơ may sinh sản liên tục. Chiến thuật này cần
thiết để hoa màu tránh được các loài phá hại.
Ở vài nơi chiến thuật tránh né này không thực hiện được, nên canh tác một vụ một năm là
có lợi hơn. Ðặc biệt, ruộng lúa nước ở Ðông nam á phải gieo cấy nhiều vụ một năm, và
không hoa màu nào khác có thể cho một lượng thực phẩm sánh bằng. Cuộc cách mạng
xanh đã dùng các giống thần kỳ, gia tăng sử dụng phân bón và nông dược. Trong những

Các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học có thể giúp nông dân hiểu biết nhiều hơn. Cần
phải nhận thấy rằng hiện nay nông dân nhận hằng khối lời khuyên của các nhà sản xuất
và những người bán nông dược. Cho nên có nhiều khúc mắc trong vấn đề này.
Nông dân cần được tập huấn nhiều điều để áp dụng IPM. Hiểu biết về sinh học côn trùng,
kỹ năng nhận biết côn trùng và cải thiện việc theo dõi quần thể côn trùng có thể giúp
nông dân quản lý đồng ruộng tốt hơn.
Tập huấn và theo dõi là những điều tiên quyết cho IPM. Nếu không, sự lệ thuộc nặng nề
vào nông dược sẽ vẫn cứ tiếp tục.
· Biện pháp môi trường
Biện pháp này nhằm làm cho các điều kiện môi trường (vô sinh và hữu sinh) trở nên bất
lợi cho các loài dịch hại. Vì biện pháp này dựa nhiều vào kiến thức hơn vào công nghệ,
nên đặc biệt phù hợp cho các nước nghèo. Nhưng biện pháp này vẫn hữu hiệu trong các
xã hội nông nghiệp hiện đại.
Tăng cường đa dạng hoa màu bằng cách đa canh và luân canh, nhằm làm giảm nguồn
thức ăn cho một loài dịch hại nào đó và giúp ngăn chận sự tăng trưởng nhanh của nó.
Thay đổi thời gian gieo trồng. Vài loài thực vật tránh dịch hại một cách tự nhiên bằng
cách mọc sớm hay trễ trong mùa tăng trưởng. Thí dụ ở các nước ôn đới, Cải hoang mọc
sớm trước khi có sự xuất hiện của Bướm cải. Nông dân có thể gieo trồng một hoa màu
nào đó sớm hoặc trễ hơn bình thường, lúc mà côn trùng chưa hay đã bộc phát rồi.
Thay đổi chất dinh dưỡng của cây và đất. Mức độ của vài chất dinh dưỡng trong đất và
cây trồng cũng có thể ảnh hưởng số lượng quần thể dịch hại. Nitơ là nguồn dinh dưỡng
quan trọng mà côn trùng và ký sinh nhận từ thực vật. Lượng Nitơ quá nhiều hay quá ít có
thể làm thay đổi số lượng cá thể của nhiều loài dịch hại. Thí dụ Rệp cây (Aphid) sinh sản
nhiều hơn trên các hạt chứa nhiều Nitơ. Các côn trùng khác, như Thrips và Mites lại sinh
sản ít hơn trên Mồng tơi (Spinach) và Cà tô-mát khi các rau quả này chứa nhiều Nitơ.
Cho nên biết được nhu cầu dinh dưỡng của dịch hại, mức độ chất dinh dưỡng của đất và
của thực vật có thể giúp kiểm soát dịch hại.
Kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận. Hoa màu và cỏ dại có thể là nguồn thức ăn và nơi ở
của dịch hại, nhất là côn trùng. Cho nên cần kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận là cần
thiết. Ðôi khi hoa màu kém giá trị lân cận được dùng làm bẫy (trap crop) để lôi kéo côn

Phòng trừ dịch hại tổng hợp tỏ ra có nhiều lợi ích về nhiều mặt, nhưng để bảo đảm cho sự
thành công, cần sự nổ lực và đầu tư thích hợp. Ðiều quan trọng là chính nông dân, chớ
không phải ai khác, là người đóng vai trò quyết định ở đây


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status