ô nhiễm môi trường đất và hiện tượng sa mạc hóa - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG





BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
ĐỀ TÀI :
: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÀ HIỆN
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÀ HIỆN
TƯỢNG SA MẠC HÓA


TÌM HIỂU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
I.1 Vai trò của đất
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền
móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực
phẩm cho con người.
I.2 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất
 Tài nguyên đất thế giới như sau: Tổng diện tích : 14.777 triệu ha; Đất đóng
băng : 1.527 triệu ha; Đất không phủ băng : 13.251 triệu ha. Trong đó : 12 % DT
đất canh tác, 24% DT đất đồng cỏ, 32% DT đất rừng và 32% DT đất cư trú, đầm
lầy. DT đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác 1.500 triệu
ha.
Hiện nay tài nguyên đất thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa
trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Trong đó,
10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa.
 Ở nước ta, diện tích đất tự nhiên có khoảng 33 triệu ha (xếp thứ 58/200
nước), trong đó có 22 triệu ha đất phát triển tại chỗ và 11 triệu ha đất bồi tụ. Bình
quân đất tự nhiên theo đầu người rất thấp: 0,444 ha/người (2001), bằng 1/6 mức
bình quân của thế giới. Bình quân diện tích nông nghiệp chỉ khoảng 0,12
ha/người.
I.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là quá trình làm biến đổi hoặc thải vào đất các chất
ô nhiễm làm thay đổi tính chất và cấu trúc của nó theo chiều hướng không có lợi,
mất khả năng đáp ứng cho nhu cầu sống của con người
I. 4Thực trạng ô nhiễm môi trường đất
Theo số liệu của viện tài nguyên thế giới năm 1993 quỹ đất của toàn thế giới
khoảng 13 tỉ ha.
một số nước có quỹ đất hạn hẹp như Hà Lan, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ,

Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng
nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông
vận tải và sinh hoạt gây ra.
+ Tại thành phố Hồ Chí Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với
tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động
của các khu công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công
nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng
1.740.000 m
3
nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng,
1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm giảm nhu
cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng. Lượng chất thải
này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp
nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi
sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch
các dòng sông, nước bị ô nhiễm lau ngày sẽ dẫn đến gây ô nhiễm môi trường đất.
Về ô nhiễm môi rường đất, ngoài tác động của sản xuất công nghiệp, hoạt động
giao thông vận tải cũng là nguồn thải rất quan trọng.
Chỉ tính riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên
địa bàn thành phố tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu Dizel.
Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì, 4200 tấn CO2,
4500 tấn NO2, 116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2, 13200 tấn Hydrocacbon và 156
tấn Aldehyt. Chính vì thế, tại nhiều khu vực trong các đô thị có nồng độ các chất ô
nhiễm lên khá cao.
Tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đến năm 2010,
nếu tất cả 74 khu công nghiệp đều sử dụng hết diện tích, thì các xí nghiệp sẽ thải
ra một lượng chất thải rắn lên tới khoảng 3500 tấn/ngày tức làn gấp 29 lần so với
hiện nay, trong đó có khoảng 700 tấn chất thải độc hại
+ Tại Hà Nội, vào nhưng năm 1996-1997 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở xung
quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực

O
5
) và
kali(K
2
O); trong đó, đáng chú ý
nhất là đạm,một loại phân mang lại
hiệu quả rõ rệt nhất cho năng
suất cây trồng nhưng cũng dễ gây ô
nhiễm cho môi trường đất do tồn
dư của nó. Ta biết rằng, cây chỉ sử
dụng hữu hiệu tối đa 30% lượng
phân bón vào đất, còn lại,phần thì bị rửa trôi,phần nằm lại trong đất,gây ỗ nhiễm
môi trường
Ví dụ:
(1) Tích tụ dư lượng phân nitrat(NO
3
__
) hay các dạng phân đạm khác dễ
chuyển thành KNO
3
và sau đó là NO
2
__
. Phân đạm amon, chẳng hạn,chứa NH
4
+
,
khi bón cho đất khô,trở thành NO
3

-
+ O
2
NO
3
-
+ H
2
O
Nó làm tăng tính chua của môi trường đất bởi vì dạng acid HNO
3
rất phổ biến
trong đất.
Một dạng phân hóa học khác gây ô nhiễm môi trường đất là phân lân,mặc dù
lân là yếu tố cần thiết cho cây rau đậu,nhưng với lượng lân cao, sẽ gây chua cho
môi trường đất

(2) Trong phân super lân thường có 5% acid tự do. Riêng lượng acid tự do
H
2
SO
4
nào cũng đã làm trong môi trường chua thêm.Mặt khác,các dạng phân hóa
học đều là các muối cả cá acid( hoặc là muối kép hoặc muối đơn). Vì vậy, khi hòa
tan thường gây chua cho môi trường đất. Như đã nói ở trên,60- 70% lượng phân
bón cây không sử dụng, bị hòa tan vào nước ao, hồ, song làm xấu môi trường sinh
thái, gây hại cho hệ thủy sinh mà các nhà môi trường gọi là “phú dưỡng
hóa”(eutrophication).Mặt khác, sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân bón cũng
gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính. Khi bón nhiều phân hóa
học làm đất hở nên chặt hơn, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp

kiện sinh sôi, nảy nở, lan truyền qua nước mặt, nước ngầm hoặc bốc hơi và không
khí là ô nhiễm môi truờng sinh thái:
Gây bệnh trực tiếp từ đất vào người từ đất
______
động vật
____
người
Gây ô nhiễm ,mùi
Gây bệnh cho người và gia súc qua thực phẩm qua rau xanh đậu, đỗ….
Hơn thế nữa, bón quá nhiều phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí sẽ là quá trình
khử chiếm ưu thế,sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ làm môi trường sinh
thái đất chua, đồng thời chúa nhiều chất độc như H
2
S, CH
4,
CO
2
II.1.2 Thuốc trừ sâu bệnh( pesticide)
Thuốc trừ sâu bệnh bao gồm trừ sâu, côn trùng, tuyến trùng, diệt cỏ,kích
thích sinh trưởng đều là các hợp chất hóa học hữu cơ hay vô cơ.Nó rất cần thiết để
diệt sâu bệnh, bảo vệ cây trồng.Tuy nhiên, do bản chất là những chất hóa học diệt
sinh học nên ít nhiều đều ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

II.1.2a . Thuốc trừ sâu (insecticides)
Thuốc trừ sâu được chia
ra làm 3 nhóm chính: Chất
vô cơ, chất có gốc thực vật
và chất hữu cơ tổng hợp.
Thuốc trừ sâu hữu cơ tổng
hợp được sử dụng nhiều nhất

nó phân cực hơn và tan trong nước nhiều hơn (7mg/l). Nhũ tương của HCH được
dùng để trừ các dịch hại nông nghiệp và các ký sinh trùng của gia súc. Chúng cũng
được dùng bảo vệ hạt giống. HCH chỉ độc vừa phải đối với chuột (LD50 là 60 -
250mg/kg) (Walker và CSV, 1996).
II.1.2c Thuốc trừ sâu lân hữu cơ
Trong thế chiến lần thứ hai, hợp chất lân
hữu cơ được dùng làm chất độc thần kinh
(neurotoxin), vì chúng có khả năng ngăn
trở enzim acetylcholinesteraz (AchE).
Chúng được sản xuất vì hai công dụng
chính, là thuốc trừ sâu và vũ khí hóa học.
Chúng là những ester hữu cơ của acid
phosphoric. Do đó, chúng phân hủy
nhanh trong môi trường, nhưng độc tính
cấp thời là đáng kể. Chúng phân cực và
tan trong nước nhiều hơn thuốc trừ sâu
clor hữu cơ.
Trong nhiều quốc gia, thuốc trừ sâu lân
hữu cơ hiện vẫn còn được sử dụng cho
hoa màu dưới nhiều dạng thức khác nhau.
Chúng được dùng để kiểm soát ngoại ký
sinh của gia súc và cả nội ký sinh, cào
cào, dịch hại các kho chứa, muỗi, ký sinh của cá
II.1.2d Thuốc trừ sâu carbamate
Ðây là các dẫn xuất của acid carbamic và phát triển gần đây hơn 2 nhóm thuốc
trừ sâu nói trên. Giống như thuốc trừ sâu lân hữu cơ, chúng có tác động ngăn trở
enzym acetylcholinesterase (AchE). Carbamate thường là thể rắn, vài thứ ở thể
lỏng. Sự hòa tan vào nước thay đổi đáng kể. Giống như thuốc trừ sâu lân hữu cơ,
chúng dễ bị phân hủy bởi các tác nhân hóa học hay sinh hóa học và thường không
có vấn đề lưu tồn lâu dài. Ðộc tính cấp thời của chúng là điều đáng nói. Vài loại

phenoxyankal. Khi chế tạo dưới dạng muối
kiềm, chúng rất hòa tan vào nước, nhưng khi
chế tạo dưới dạng ester đơn thì chúng lại ưa
lipid và ít hòa tan vào nước.
Ða số thuốc trừ cỏ phenoxy dễ bị phân hủy
sinh học và không lưu tồn trong cơ thể sinh vật
hay trong đất. Vấn đề môi trường có hai loại.
Thứ nhất là vấn đề độc tính thực vật
(phytotoxycity) do phun xịt hay phun sương. Thứ hai là vài loại có chứa hợp chất
cực độc là dioxin (TCDD = tetrachlorodibenzodioxin), tác nhân màu da cam của
2,4-D và 2,4,5-T dùng như thuốc làm rụng lá cây ở Việt Nam. Ðây là chất cực độc
cho hữu nhũ (LD50 là 10 - 200 (g/kg ở chuột).
II.1.2g Thuốc chống đông máu trừ gậm nhấm
Hợp chất Warfarin đã được dùng từ
nhiều năm qua như thuốc trừ gậm
nhấm. Nó là phân tử ưa lipid, ít tan
trong nước và tác động như chất đối
kháng của vitamin K. Chúng bao
gồm diphenacoum, bromadiolone,
brodiphacoum và flocoumafen.
Chúng giống với Wafarin ở tính chất
tổng quát nhưng độc hơn cho thú và chim nhưng lại lưu tồn lâu trong gan của
ÐVCXS. Do đó chúng có thể được chuyển từ gậm nhấm sang các động vật ăn thịt
và các loài ăn xác chết của các gậm nhấm này. Như chim cú ở Anh quốc chẳng
hạn, có chứa một lượng thuốc trừ gậm nhấm nói trên. Thuốc trừ gậm nhấm thường
được trộn vào bã mồi, đặt trong nhà hay ngoài cửa, chúng sẽ được các gậm nhấm
hoang dã ăn.
II.1.3 Tàn tích cây trồng(remain of agricultural plant)
Những tàn tích, rác từ cây trồng
nông nghiệp là nguồn phân hữu cơ quý

N đó đã bị giữ trong phức hệ hữu
cơ, như là phức acid humic hoặc
ligảin.Mặt khác, trong phân gia súc chứa rất nhiều các dạng vi khuẩn gây bệnh
đường ruột như coli, E.coli
Trong phân gà chúa nhiều vi trùng salmonerium tuberculosis, Trong thức ăn thừa
hỏng của gia súc chúa đến 1010 vi sinh vật/g, khoảng 109 các loại vi sinh vật dạng
kỵ khí,và cũng khoảng đó vi khuẩn enterbacteriaceae, một loại vi khuẩn rất nguy
hiểm cho sức khỏe động vật và người tiếp xúc với môi trường đất.Trong phân
động vật lại có nhiều trứng giun sán.Các trứng này sẽ lại trải qua
một thời gian trong môi trường đất, để rồi khi người tiếp xúc với đất, người hay
gia súc sẽ bi nhiễm giun sán.
Nhưng chuồng trại chăn nuôi gia súc như các trại heo, trại gà,phân gia súc nếu
không được thu gom,xử lý bảo đảm kỹ thuật và vệ sinh môi trường thì sẽ là hiểm
họa cho môi trường sinh thái,trong đó có môi trường đất. Vì khi một lượng lớn các
chất thải này làm môi trường sinh thái đất mất khả năng tự làm sạch của nó thì sự
nguy hại là khó lường,Lúc này sự ô nhiễm đã trở nên trầm trọng.Các cơ quan hoạt
động môi trường đất đều bị tê liệt. Chất thải, vi trùng từ đó mà lan khắp nơi: trong
nước ngầm, trong nước suối trong hay bay vào không khí.Cá khí CH
4
, CO
2
, NO
cũng từ đay mà góip vao 15% hiệu ứng nhà kính.Các loại vi khuẩn sau đay thường
gặp trong đất trai chăn nuôi: tả li, thương hàn, viêm gan, toét mắt…
II.1.5 Tàn tích của rừng(remain of forest)
Tàn tích của rừng sau , sau khi thu
hoạch gỗ, phần bỏ đi gọi là” slash” là
một lượng lớn. Ở Mỹ, lượng nàu là 23
triệu tấn/năm. Tàn tích này khi nằm lại
trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo

S…. từ trong quá
trình đốt nhiên liệu và chế biến sản phẩm mà thành.Dạng lỏng có các acid H
2
SO
4
,
HCl,acid hữu cơ, nước, xà phòng, dầu mỡ…. Dạng rắn có các chất thải trong công
nghiệp cơ khí, hàn tiện, trong sản xuất gang thép, luyện quặng, tuyển quặng….
trong số đó có không ít các chất thải của giao thong như NO
X,
CO
X,
SO
X
và Pb cũng
lắng tụ và gây ô nhiễm đất hai bên đường.Ảnh hưởng của chất thải công nghiệp
lên môi trường sinh thái đất đã quá rõ ràng về nhiều mặt

II.2.1 Các loại khí thải của công nghiệp và giao thông( emission of industry
and transport)
CO: là sản phẩmcủa sự
đốt cháy không hoàn
toàn carbon:80%CO là
từ động cơ xe hơi, xe
gắn máy và một ít từ
các vụ núi lửa hoặc
khói lò gạch, bếp
lửa.Trong bầu không
khí các thành phố ô
nhiễm có thể từ 50-80

2
. Tuy nhiên, sự có mặt không nhiều của nó trong môi trường
sinh tahí đất cũng làm tổn thương lớn đến sức sống của động vật
CO
2
và SO
2
,NO
2
trong không khí bị ô nhiễm khi gặp mưa sẽ tạo ra các axit
tương ứng H
3
CO
3
, H
2
SO
4
và HNO
3
II.2.2 Mưa acid
Mưa acid lại vừa là kết quả tự nhiên vừa là kết quả của ô nhiễm khí quyển từ
khí thải công nghiệp và giao thông thành phố tạo nên
Những trận mưa acid đã làm tê liệt các hoạt động môi rường sinh thái đất, trước
hết làm phản ứng môi trường giảm xuống đột ngột ở tầng mặt, sau đó là một loạt
quá trình sinh hóa và vi sinh bị ngưng trệ
Sơ đồ hình thành mưa acid
Ví dụ: HNO
3
hình thành từ phản ứng của hơi NO

SO
2
+ O
2
SO
3
H
2
SO
3

SO
2
+ H
2
SO
4
H
2
SO
4
Hàng ngàn ha cánh rừng và đất rừng ở Đức, Tiệp, Ba Lan bị mưa acid. Nó giết
hết động vật trên mặt đất và trong tầng trên đất nên gọi là “animal kill
rain”.Nguyên nhân cá chết lại không phải là do H
2
SO
4
mà là hệ quả của nó thông
qua sự tăng Al
+3

3+
Fe
2+
. Sự khử Fe là kết quả
của sự lên men hô hấp của vi sinh vật,quá trình này sinh sản ra CH
4,
H
2,
H
2
S,acid
hữu cơ và các acid mùn. Các hệ vi sinh vật mà chủ yếu là bacteria, sau là fungi và
actinomicetes tham gia mạnh vào quá trình này .Trong các bacteria thì nhóm
clostridium và nhóm khử sắt đóng vai trò quan trọng.Hợp chất Fe(CHO
3
)
2
sẽ xuất
hiện và dễ xảy ra phản ứng phân ly thành Fe
2+

và HCO
3
-
.Fe
2+
cùng với silicat và
khoáng sét tái tổng hợp ra silicat thứ sinh hoa trị II.Khoáng này biểu hiện màu
xám xanh,xanh lơ hay xanh thẫm
- Tác hại của gley hóa đến môi trường sinh thái

sinh thái đất và sau đó,nếu không
sử dụng chất khí vừa thoát ra
này,nó sẽ bốc lên và làm tăng
hiệu ứng nhà kính.Sự phân giải
rác hữu cơ cũng gây ô nhiễm, do
các sản phẩm trung gian hoặc vụ
khẩn gây bệnh cho đất và nước
ngầm nếu chon rác không đúng
kỹ thuật
II.4.2 Ô nhiễm môi trường đất từ các bãi rác và hầm cầu tự hoại
Ở thành phố lớn, vấn đề xử lý các bãi rác là một khó khăn lớn.Ô nhiễm từ bãi
rác là một khó khăn lớn.Ô nhiễm từ bãi rác: mùi, bệnh tật, ô nhiễm môi trường
không khí,môi trường nước và môi trường đất.Ở đây, ta xét về ô nhiễm bãi rác gây
chô môi trường đất
- Mùi hôi thối khiến cho
không khí trong đất ngột
ngạt,ảnh hưởng đến động vật
trong đất,ảnh hưởng lớn đến
sức khỏe dân quanh vùng
- Các chất độc sinh ra trong
quá trình lên men khuếch tán
và thấm vào đất, nằm lại ở
trong đó,nhất là H
2
S
- Nước rỉ ra từ các bãi rác và
hầm ô nhiễm trầm trọng về
mặt sinh học
- Các chất thải kim loại nặng
từ các bãi rác thấm vào đất

Một số chỉ tiêu nước rỉ bãi rác Buôn Ma Thuột(mẫu được lấy ngày 30
tháng 5 năm 1995,đã được bảo quản theo tiêu chuẩn,và được phân tích tại Trung
tâm Bảo vệ môi trường TP Hồ Chí Minh(EPC)

STT Thành phần Hàm lượng(mg/l)
1 Ph 7,9
2 BOD 4800
3 COD 8100
4 DO 0
5 Màu 3600(đơn vị màu)
6 SC( Chất rắn lơ lửng) 10000(mg/l)
7 TDS 14448
8 SO
4
-
9 PO
4
16,1
10 NO
2
-
11 NO
3
-
12 NH
4
215,3
13 Dầu mỡ 0
14 Tổng sắt 11,7
15 Pb 1,3

-Kim loại nặng có độ dẫn điện và dẫn điện cao, có ánh kim, dễ dát mỏng, uốn
cong và kéo sợi với tỷ trọng lớn hơn 5-6 g/cm
3
. Các kim loại nặng như Al,
As,Cd,Co,Cr,Cu,Fe,Hg,Mn,Ni,Pb,Zn chúng lại có khả năng tích lũy trong hệ
thống sinh hóa của cơ thể sinh vật và gây hại cho thực vật, động vật vag con người
khi ăn thức ăn chứa nhiều kim loai nặng
Hàm lượng trung bình kim lọa nặng trong bùn cống rãnh thành phố(ppm)
(nguồn:Tan et al,1971,wild,1993)

Bùn cống
rãnh
Al Fe Mn Cu Zn Pb Ni Cd Cr Hg
Bùn cống
rãnh thanh
phố
7280 2370 150 565 2220 520 100 28 1040 5
Bùn nhà máy
dệt
- - - 394 864 129 63 4 2490 -
Bùn nhà máy
rượu
- - - 81 255 29 18 2 117 -
Bùn nhà máy
chế biến gỗ
- - - 53 122 42 119 2 81 -
Bùn cống
rãnh ở Anh
- - - 800 3000 700 80 - 250 -
+Chì là kim loại nặng thường được dung trong dụng cụ quang tuyếnX, trong sơn,

II.5 Ô mhiễm môi trường đất do thiên nhiên
Ô nhiễm môi trường đất do nông nghiệp,công nghiệp,chế biến thực phẩmvà do
rác thải đô thị.Đó là những kiêu ô nhiễm do con người tạo nên.Ngoài ra còn ô
nhiễm do tự nhiên.Đố là ô nhiễm phèn,mặn,gley hóa
II.5.1 Nhiễm phèn( the acid sulphate contamination)
Phèn được sinh ra có thể do nguyên
nhân oxy hóa phèn tiềm tàng (FeS) tại
chỗ để tạo thành acid H
2
SO
4
, chứa nhiều
độc chất Al
3+
,Fe
2+
, SO
4
2-
rất cao và pH
môi trường xuống thấp, khả năng trao
đổi và đệm của môi trường đất bị phá
vỡ,không thể tự làm sạch được nũa,nên
cá môi trường bị ô nhiễm nặng.Nếu ô
nhiễm phèn nhôm thì tính độc càng
mạnh và mạnh hơn phèn sắt.Đa dạng
sinh học môi trường không còn nữa,cá tôm chỉ chịu được pH nước>4,0, khi pH
<4,0 phần lớn cá bơi nghiêng, nổ mắt và chết hàng loạt.Sự thay đổi này rất nhanh
chóng ở vùng đất pha cát nhiều phèn vì hoạt tính độc sẽ biểu hiện cao hơn vùng
đất sét.Môi trường đất chỉ được coi là ô nhiễm khi toàn bộ phản ứng môi trường

nước ngầm theo mao quản lên lớp mặt
làm ô nhiễm môi trường đất.Muối NaCl
phân li NaCl Na
+
+ Cl
-
.Môi trường đất ô nhiễm mặn khi nồng
độ tổng số muối tan >0,3 %, trong đó muối Cl
-
>0,15 % và Na
+
có hàm lượng trên
10 mEq/ 100 gr,sau 24 giờ bị ngập nước mặn hoặc bị bốc mặn lên mặt
II.5.3 Ô nhiễm do dầu
Sự tích đọng của những chất ô
nhiễm dầu trong đất chủ yếu kìm
hãm quá trình vận chuyển, bay
hơi và phân hủy sinh học, quá
trình ở lại và lưu chuyển được
biết khi nhiên liệu động cơ bị rò
rỉ từ những thùng chứa và chảy
tràn vào trong đất. Tác động của
lực hấp dẫn kéo các chất lỏng
theo chiều đi xuống, ngược lại
với lực giữ lại các chất lỏng đó
hoặc là sẽ hấp thụ trên hạt
khoáng hoặc là nằm trong lỗ
hổng cấu trúc của đất. Dầu là chất khó bị phân hủy bởi các vi sinh vật sống trong
đất.
Tuy nhiên, đất lại là môi trường không thể pha loãng các chất thải mà ngược lại

qua đất
- Truyền bệnh động vật – đất- người
Trong một số bệnh của động vật truyền sang người, đất có thể giữ vai trò chủ
yếu tác nhân nhiễm khuẩn từ vật nuôi sang người như :
Bệnh xoắn khuẩn vàng, bệnh dich hạch truyền qua chuột,tiếp xúc với đất
nhiễm bẩn trong các hang, công rãnh,bệnh sốt mà,bọ hung
III.2 Tác nhân hóa học
Chất thải từ các nguồn thải công nghiệp bao gồm các chất thải cặn bả, các sản
phẩm phụ do hiệu xuất của các nhà máy không cao
Do nguồn từ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật : phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,
Hàm lượng tích lũy DDT ở các bậc dinh dưỡng ở nước và trên cạn
Số tần khuyếch đại Sinh vật Hàm lượng DDT(ppm)
80000 Chim nước 1600,00
5000 Cá 10000
250 Tôm 5,00
1 Các loài tảo 0,02
75 Chim cổ đỏ 750,00
9 Giun đất 90,0
1 Đất 10,0
Đất bị ô nhiễm trước tiên sẽ gây tác hại đén hệ sinh vật sống trong đất, các động
vật và thực vật sống trên đất.Đất thiếu sinh vật trở nên mmoi trường, khôg thể sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp được nữa
III.3 Tác nhân vật lý
Ô nhiễm nhiệt chủ yếu từ các quá trình sản xuất công nghiệp từ nguồn nước thải
công nghiệp, từ khí thải
Nguồn ô nhiễm do phóng xạ là các chất phế thải của các cơ sở khai thác, nghiên
cứu và sử dụng các chất phóng xạ.Các chất phóng xạ đi vào đất, từ đất vào cây
trồng sau đó có thể đi vào người
+ Phóng xạ tự nhiên : từ U
238

việc ion NO2 kết hợp với Hemoglobin, làm cho hô hấp (tiếp nhận O2) khó khăn.
Khi chuẩn bị thức ăn cho trẻ, khi trữ trong tủ lạnh hay do hoạt động của vi khuẩn
đường ruột, Nitrat biến thành Nitrit rất độc. Nhưng nguy hại hơn, Nitrit được
thành lập trong ống tiêu hóa có thể biến thành Nitrosamine, là một chất gây ung
thư mạnh.
- Thuốc diệt cỏ ảnh hưởng lên quần thể của thế giới : Dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm
thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp. Vì ảnh hưởng của chúng ở
đồng ruộng và ở các vùng phụ cận, vì cây 2 lá mầm rất nhạy cảm với thuốc trừ cỏ
trong gieo trồng ngũ cốc. Ở Việt Nam, trong chiến tranh chống Mỹ, một lượng lớn
thuốc trừ cỏ đã được sử dụng gây nhiều thảm họa cho môi trường. Dù chỉ một lần
phun nhưng các thuốc khai quang này đã làm chết các cây đại mộc nhiệt đới, đặc
biệt ở rừng Sát: Mấm, Ðước, Vẹt Hay Dầu, Thao lao và các cây mộc họ
Caesalpiniaceae ở các rừng vùng núi (Westing, 1984). Các dẫn xuất của acid
phenoxyacetic cũng độc đối với các động vật thủy sinh. Ngoài ra chúng cũng có
thể gây đột biến ở người. Như ở Việt Nam, sự biến dạng thai nhi đã được thấy cao
hơn mức bình thường nơi các bà mẹ bị nhiễm nặng bởi việc phun xịt thuốc khai
quang trong thời gian chiến tranh chống Mỹ.
Dùng thuốc trừ sâu gây chết các quần xã động vật ở trong hay quanh vùng xử
lý. Phun xịt thuốc trừ sâu trên rừng gây chết nhiều chim và thú. Cuối những năm
50, ở Hoa kỳ chiến dịch diệt Kiến lửa (Solenosis soevissina), trên 110.000 km2
bằng máy bay, sử dụng các hạt Heptachlore và dieldrine với liều 2,5 kg/ha ở năm
đầu; 1,4 kg/ha vào 2 năm tiếp theo. Chiến dịch này có lợi cho các nhà kinh doanh
nông nghiệp, nhưng gây nhiều thảm họa cho động vật ở đây. Sáo, Sơn ca và các
chim bộ Sẻ khác bị ảnh hưởng mạnh. Bò sát, côn trùng sống trong đất bị giảm số
lượng mạnh.
Thuốc trừ nấm mặc dù không quá độc đối với cây xanh và động vật, nhưng hậu
quả sinh thái học của chúng vẫn có. Như chúng tỏ ra độc đối với trùn đất là sinh
vật đóng vai trò quan trọng trong sinh thái học đất, nhất là việc giữ độ phi nhiêu
cho đất. Hạt giống trộn với thuốc diệt nấm gây hại cho chim. Một số chất có thể
được tích lũy trong mô của động vật.

các kẻ thù tự nhiên của những loài gây hại. Như ở Hoa kỳ chẳng hạn, việc sử dụng
quá đáng azodrin, thuốc trừ sâu lân hữu cơ, để trừ côn trùng gây hại cây bông vải
cho thấy một tình huống tiếu lâm. Thay vì làm giảm quần thể sâu Heliothis zea,
thuốc azodrin lại diệt các thiên địch và ký sinh của sâu này, làm cho vùng trồng
bông có dùng thuốc bị thiệt hại nhiều hơn vùng không dùng thuốc (Ramade,
1987).
- Ảnh hưởng lên diễn thế. Diễn thế của các quần thể động vật lệ thuộc chặt chẻ
vào diễn thế của các quần thể thực vật, nên thuốc diệt cỏ ảnh hưởng mạnh hơn
thuốc trừ sâu trong diễn thế của quần xã. Thuốc diệt cỏ ít chọn lọc tác động giống
như lửa. Nó làm hệ sinh thái trở lại giai đoạn đầu của giai đoạn chiếm cứ bởi các
thực vật tiên phong. Trong vài trường hợp, sự sử dụng có hệ thống của thuốc trừ
cỏ có thể tạo ra giai đoạn cao đỉnh nghẹn (dysclimax). Các khu rừng Việt Nam,
nơi đã bị tàn phá hoàn toàn bởi thuốc khai quang, thì đất trống được tre và đồng cỏ
bao phủ, rừng không thể phục hồi trở lại được. Rừng tre và đồng cỏ phát triển
thành quần xã cao đỉnh nghẹn (tắc nghẹn, dysclimax).
VI.2 Ảnh hưởng đến nước ta(tại Đồng Bằng Sông Cửu Long)
Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005 :
-Sự tích tụ cao các chất độc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng
hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng, vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng
xấu tới sức khỏe con người.
-Do sử dụng nhiều hóa chất trong nông nghiệp, hiện nay tình hình ngộ độc thực
phẩm do các hóa chất độc, trong đó có thuốc bảo vệ thực vật vẫn diễn ra phức tạp
và có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm
năm 2004 có 145 vụ ngộ độc ( trong đó thực phẩm độc chiếm 23%, hóa chất 13%)
với 3580 người mắc, có 41 người tử vong.
- Tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Quá trình sử dụng đất trong canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công
nghiệp, đô thị hóa…ở đồng bằng sông Cửu Long làm biến đổi đất và làm suy thoái
nghiêm trọng. Diện tích thủy sản tăng lên rất nhanh. Năm 2000 là 445.300 ha đến
năm 2006 đã là 699.200 ha, đồng thời diện tích trồng lúa cả năm giảm dần: năm

Việc lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà còn làm mất
ổn định hệ sinh thái nông nghiệp. Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp
với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên một đe dọa
nghiêm trọng trong việc giữ phì nhiêu của đất. Là do sự tích lũy liên tục các chất
tạp (kim loại, á kim) có trong phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất.
Trong sản xuất công nghiệp, lượng nước thải chưa được xử lý triệt để, tiếp tục
thải ra nguồn tiếp nhận là các sông, kênh rạch làm suy giảm chất lượng nước mặt.
Gây nên các dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản và sức khỏa người dân: các bệnh
sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh giun sán ký sinh trùng, suy dinh dưỡng trẻ em, ngộ
độc thức ăn….
.

CHƯƠNG VI
CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
VI.1·Tập huấn (giáo dục) và theo dõi (quan trắc)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status