NHỮNG HẠT NGỌC SÁNG TRONG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG potx - Pdf 17

NHỮNG HẠT NGỌC SÁNG TRONG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA
CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG

Bùi Thị Minh Hồng
Khoa Mac – Lênin, TT.HCM
Đặt vấn đề
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng kinh tế với mục tiêu nắm vững quá trình phát sinh,
phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế
trong lịch sử để làm cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ, khoa học những vấn đề cơ
bản của kinh tế chính trị học, tránh được chủ nghĩa kinh viện, giáo điều là việc
làm bắt buộc với những ai muốn nắm vững học thuyết Mác.
Chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết kinh tế Mác nói riêng là sản phẩm từ việc
làm cần mẫn, kiên trì với tinh thần sáng suốt, ý chí kiên cường bất chấp mọi khó
khăn để tìm kiếm những viên đá quí lẫn trong những hòn sỏi bình thường hay
những hạt ngọc bị lớp bụi mờ che lấp.
C.Mác là người đã biết “nhặt ra” những viên đá quý, hạt ngọc sáng trong mớ boòng
bong những lập luận rối rắm, những quan điểm lý luận nhầm lẫn của các nhà tư tưởng
trước ông để đặt nó vào đúng vị trí, tạo cho nó một giá trị đích thực mà không có gì có
thể phủ nhận, không loại bụi mờ nào có thể che phủ được.
Bài này viết về những luận điểm đúng, sai, những hạn chế của các nhà kinh tế theo chủ
nghĩa trọng thương.
Tóm tắt nội dung
Chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông là hệ thống quan điểm kinh tế đầu
tiên của giai cấp tư sản, có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy quá trình phát
triển của CNTB. Chủ nghĩa trọng thương, dù đó chỉ là cương lĩnh, chính sách kinh
tế mang nặng tính kinh nghiệm, đưa ra lời khuyên từ thực tiễn, còn hạn chế về lý
luận, chưa biết đến quy luật kinh tế nhưng cũng đã tạo ra những tiền đề lý luận KT
– XH cho KTCT tư sản phát triển. Bên cạnh những sai lầm, hạn chế của họ chúng
ta còn tìm thấy những luận điểm đúng đắn, những viên ngọc sáng.
Thế kỷ XVI – XVII, sau các phát kiến lớn về địa lý thì ngoại thương bắt đầu phát
triển và trở thành “công cụ” để cướp bóc thuộc địa, là nguồn vàng bạc và đóng vai

gọi là chủ nghĩa trọng thương chính cống - lấy thương mại làm bản cân đối chính.
Tư tưởng chủ yếu vẫn là nhằm thu được nhiều tiền hơn dựa trên cơ sở ngoại thương
và có sự can thiệp của nhà nước nhưng đã nhấn mạnh nhân tố kinh tế là sự bành
trướng thương nghiệp của giới thưong nhân. Chính sách kinh tế lúc này đã khác
trước: mở rộng xuất khẩu, không cấm xuất khẩu vàng bạc.Tán thành nhập khẩu
hàng ngoại với quy mô lớn. Lên án việc tích trữ tiền. Dự tính cho lưu thông tiền tệ,
khuyến khích công nghiệp chế tạo, nhất là các ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu.
Hai giai đoạn phát triển cũng chỉ phản ảnh một mục đích chung của CNTT là phải
thu được nhiều tiền hơn, nguồn để thu là lợi nhuận thương nghiệp, chỉ khác nhau ở
thủ đoạn và phương pháp tiến hành.
Các nhà tư tưởng trọng thương chủ nghĩa đã nói về tiền và thương mại như sau:
2
Ở Anh, nơi CNTT đạt trình độ chín muồi và trải qua hai giai đoạn rõ rệt do quá
trình phát triển CNTB ở đây bắt đầu sớm hơn các nước Châu Âu khác. Giai cấp
quý tộc cũng tư sản hoá nên CNTT cũng mang tính tư sản triệt để hơn. Đại biểu
tiêu biểu là Thomas Mun (1571 – 1641). Với ông, “thương mại là hòn đá thử vàng
với sự phồn thịnh của một quốc gia”. Trong tác phẩm “Sự giàu có của nước Anh
và mậu dịch đối ngoại” thì ông cho rằng ngoại thương là công cụ bình thường và
tốt nhất để làm giàu và tích lũy tiền tệ; cho xuất khẩu tiền nhắm buôn bán là chính
đáng. Việc thừa thải tiền trong nước có hại và làm hàng tăng giá. Muốn thu được
nhiều tiền bằng việc bán ra nhiều sản phẩm phải nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ở Pháp, CNTT không trải qua hai giai đoạn rõ rệt nhưng đã đóng vai trò thúc đẩy
nhanh chóng sự phát triển kinh tế Pháp. A.Montchretien là người đầu tiên nêu
thuật ngữ “kinh tê chính trị” đánh giá tiền “là sợi dây thần kinh của chiến tranh vì
tiền mạnh hơn sắt thép”. Nhưng ông cũng cho rằng tài sản của đất nước không chỉ
là tiền mà là số dân (nông dân), là của cải tự nhiên, lúa mì Ông ca ngợi thương
mại và nêu một hình ảnh rất đặc trưng cho mối quan hệ giữa nội thương và ngoại
thương: “nội thương là ống dẫn dầu, ngoại thương là chiếc máy bơm”, “thương
mại là mục đích chủ yếu của nhiều ngành nghề trong xã hội”, thương nhân không
phải là người có ích mà còn là người bắc cầu nối liền các ngành nghề trong xã hội,

dụng chính sách bảo hộ thuế quan, tán thành công ty độc quyền
Như vậy, thành tựu lý luận của CNTT còn rất nhỏ bé so với yêu cầu của sự phát
triển kinh tế TBCN. Các vấn đề nêu ra giải quyết một cách thô sơ, đơn giản, thậm
chí còn tầm thường. Phê phán về những hạn chế đó, C.Mác cho rằng CNTT thế kỷ
XVI – XVII đã đi theo cái “hình thái chói lọi của giá trị trao đổi và đã đứng trên
lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hoá để xét nền sản xuất TBCN và với cái chủ
nghĩa hiện thực thô sơ của nó, đã đại biểu thực sự cho phái kinh tế học tầm thường
của thời kỳ đó, vì những lợi ích thực tiễn mà đã gạt xuống hàng thứ yếu những
mầm mống phân tích khoa học đầu tiên ”
Tuy nhiên, lẫn trong những hòn sủi tầm thường đó là những viên ngọc sáng mà
chính C.Mác sau này đã nhặt ra đặt vào đúng vị trí của nó:
Điều trước tiên dễ thấy nhất là, khi xem thương mại là quan trọng, tìm cách phát
triển thương mại thì CNTT đã khuyến khích phát triển và lưu thông hàng hoá, làm
cho đoạn tuyệt với truyền thống kinh tế tự nhiên. Chính đó cũng làm cho con
người thoát khỏi cách giải thích những vấn đề, hiện tượng kinh tế bằng những lời
đạo đức hoặc bằng lý thuyết thần học, tôn giáo. Sự sai lầm trong việc đồng nhất
tiền tệ với của cải là lớp bụi mờ che phủ bên ngoài nhưng không lấp mất cái lõi
bên trong nó là một viên đá đẹp: của cải là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng
(như kiểu kinh tế tự nhiên). Khi đề ra nhiệm vụ làm giàu bằng cách đẩy mạnh phát
triển ngoại thương thì chính điều đó đã bộc lộ mục đích của kinh tế hàng hoá là lợi
nhuận. Chính CNTT cũng là người đầu tiên đưa ra bản tuyên ngôn của xã hội tư
sản, đã cố gắng nhận thức CNTB, tìm ra nguồn gốc của sự giàu có là lợi nhuận
thương nghiệp. Đó cũng là một hạt ngọc. Một hạt sáng khác trong quan điểm của
Thomas Mun là đã quan tâm đến quan hệ giữa lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng
hoá. Phần nào, đã nhìn vai trò của công nghiệp đối với thương nghiệp.
Kết luận: Mặc dù còn nhiều hạn chế, giản đơn, thô sơ nhưng hệ thống quan điểm
của CNTT đã tạo ra những tiền đề lý luận cho KTCT tư sản phát triển; giúp cho
con người cắt đứt khỏi truyền thống kinh tế tư nhiên, giải thích nhiều vấn đề kinh
4
tế bằng thực tiễn kinh tế chứ không phải bằng đạo đức hoặc lý thuyết thần học, tôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status