Nhượng quyền thương mại: Khái niệm và hệ thống văn bản điều chỉnh của pháp luật Việt nam - Pdf 17

Nhượng quyền thương mại: Khái niệm và hệ thống văn
bản điều chỉnh của pháp luật Việt nam.
Chúng ta thường nghe thấy thuật ngữ "nhượng
quyền thương mại", "nhượng quyền thương hiệu" hay
có thể đều đã nghe nói tới những hợp đồng nhượng
quyền hàng tỉ đô la. Tuy nhiên, không phải ai cũng có
thể hiểu rõ khái niệm " nhượng quyền thương
mại."

Nhượng quyền thương mại là gì?
Đã có nhiều khái niệm được đưa ra nhằm giải thích,
hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động
kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên,
do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm
này thường khác nhau. Nhưng tựu trung lại, hiểu theo
nghĩa thông thường nhất, về bản chất, nhượng quyền
thương mại (franchising) là một hoạt động kinh doanh
trong đó có thoả thuận của hai bên (bán, mua
franchising) chuyển giao mô hình kinh doanh gắn liền
với các đối tượng sở hữu trí tuệ trên cơ sở một hợp
đồng franchising. Về phương diện pháp lý, tại Điều
284 Luật Thương mại năm 2005 của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Nhượng quyền
thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên
nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền
tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng
dịch vụ theo các điều kiện sau đây:1. Việc mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy
định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương

hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương
mại. Đây là hai văn bản hướng dẫn khá chi tiết và đầy
đủ với việc xác định các vấn đề cơ bản như khái niệm
nhượng quyền thương mại, quyền thương mại, điều
kiện nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng
quyền thương mại, đăng ký hoạt động nhượng quyền
thương mại và các vấn đề tài chính liên quan đến
nhượng quyền thương mại. Về mặt thuật ngữ,
nhượng quyền thương mại theo quy định tại Mục 8
của Luật Thương mại được hiểu là hình thức “bán”
quyền thương mại, tuy nhiên, theo quy định tại Điều
284 thì lại được mô tả hết sức cụ thể của một
phương thức kinh doanh với việc “mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh
do bên nhượng quyền quy định và được gắn với
nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh
doanh, biểu tương kinh doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền ”. Đồng thời, Nghị định số 35 còn xác
lập một thuật ngữ pháp lý mới mẻ, đó là “quyền
thương mại” với tư cách là điểm mấu chốt trong quan
hệ nhượng quyền thương mại. Về điều kiện nhượng
quyền, theo quy định thì doanh nghiệp nhận quyền
kinh doanh theo phương thức này phải có ngành
nghề đăng ký kinh doanh phù hợp. Đối với bên
nhượng quyền, pháp luật đòi hỏi họ phải có hệ thống
kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt
động được ít nhất là một năm, hàng hoá dịch vụ kinh
doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại với
giấy phép kinh doanh nhượng quyền trong tay. Điều
kiện này là cần thiết bởi đây là hình thức kinh doanh

quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng lệ phí Đăng ký hoạt động nhượng quyền
thương mại. Theo đó, lệ phí đăng ký hoạt động
nhượng quyền thương mại được áp dụng đối với các
thương nhân Việt Nam và nước ngoài được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (Bộ Công Thương và các
đơn vị trực thuộc) cấp Thông báo chấp thuận điều
kiện hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy
định của pháp luật. Mức lệ phí đăng ký hoạt động
nhượng quyền thường mại được tính theo từng nhóm
đối tượng như: Thương nhân nước ngoài nhượng
quyền thương mại vào Việt Nam, thương nhân Việt
Nam nhượng quyền thương mại ra nước ngoài hay
Thương nhân nhượng quyền thương mại trong
nước. Với một khuôn khổ pháp lý khá cụ thể và chi
tiết điều chỉnh hoạt động này, chúng ta có thể hi vọng
rằng mô hình nhượng quyền thương mại sắp tới sẽ
có cơ hội phát triển mạnh tại Việt Nam, nhất là khi
Việt Nam đã tham gia WTO.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status