Nguyn Thỏi H
2. Phân tích đoạn thơ :
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xớc
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc
Chỉ cần trong xe có một trái tim
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật)
Bài làm
Phạm Tiến Duật là một trong những gơng mặt xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ cứu n-
ớc. Ông đợc gọi là "Viên ngọc Trờng Sơn của thơ ca" bởi thi sĩ đã mang cả hào khí thời đại cùng dãy
Trờng Sơn vào thơ. Đặc biệt mảng thơ về ngời lính lái xe của ông đã để lại ấn tợng thật thú vị, đó là
"Vết xe lăn" nóng bỏng trong những bài thơ Trờng Sơn thời chống Mĩ.
Trong số những vần thơ thông minh, dí dỏm về ngời lính lái xe Trờng Sơn của Phạm Tiến Duật,
phải kể đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Bài thơ đợc viết năm 1969, in trong tập "Vầng trăng - Quầng lửa". Hình tợng thơ hết sức độc đáo :
những chiếc xe không kính băng băng ra trận bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh. Để cuối
bài thơ, tác giả đa ra một ý tởng thật bất ngờ - đó là "trái tim cầm lái":
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xớc
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trớc
Chỉ cần trong xe có một trái tim
ở phần đầu bài thơ, Phạm Tiến Duật đã giải thích rất đơn giản mà sắc sảo : "Không có kính không
phải vì xe không có kính" bởi vì : "Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi". Thật là đơn giản ! Chiến tranh
bom đạn tàn phá. Xe không kính chắn gió vẫn ra trận thanh thản mà ung dung. Hai câu đầu khi kết, tác
giả một lần nữa tả hình dáng của chiếc xe quân sự thời chống Mĩ :
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xớc
Đã không kính - gió, bụi, ma tuôn vào buồng lái, khó khăn chồng chất hơn khi xe lại không có đèn,
rồi không có mui xe thùng xe có xớc. Một hình ảnh trần trụi do chiến tranh gây nên. Ngời lái xe phải
huy động mọi giác quan, năng lực để lái xe trong mạo hiểm, phiêu lu. Tất cả đều vợt qua bởi :
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc
cả những khó khăn đó để "Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay". Chính đôi tay nắm chặt ấy đã nói lên ý
nghĩa thiêng liêng, cao đẹp của tình đồng đội, của ý chí quyết tâm đánh giặc
Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đặc sắc :
Đêm nay rừng hoang sơng muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của ngời lính, là biểu tợng đẹp về cuộc
đời ngời chiến sĩ. Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Ngời lính, khẩu súng,
vầng trăng giữa cảnh rừng hoang sơng muối phục kích giặc. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ v-
ợt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sởi ấm lòng
họ. Hình ảnh Đầu súng trăng treo là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh tợng
trng
Tác giả Chính Hữu đã từng nói : "Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp
điệu nh lắc của một cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát. Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở rất
xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc nh treo
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
2
Nguyn Thỏi H
lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng nh một ngời bạn" Đó là hình
ảnh thực của cuộc kháng chiến, của những ngời lính khi chờ giặc tới.
Ngoài tả thực, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tợng trng. Đó là sự kết hợp giữa
bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang
tính trữ tình. Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ. Đây là hình ảnh tợng trng cho tình cảm trong sáng của ngời chiến
sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vơn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnh thơ thật độc đáo,
gây xúc động bất ngờ, thú vị cho ngời đọc. Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tởng
chiến đấu và tình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ.
Với nhịp chậm, giọng thơ hơi cao, ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà
sâu sắc về hình ảnh ngời lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Năm khổ thơ tiếp theo, số lợng câu chữ trở lại bình thờng, hoán đổi đều đặn ở hai kiểu kết hợp :
7- 8- 8- 7- và 7- 7- 8- 7 . Đờng ra trận đẹp lắm, nên xe không kính cứ chạy bon bon, ngời lái xe đã
nhìn thấy, nhìn thấy và thấy. Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đờng chạy thẳng vào tim. Quan trọng
nhất, thấy đợc nụ cời rạng rỡ của nhau. ấy cũng chính là thấy đợc lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng sau
những câu đùa vui và hành động tếu táo :
Gặp bạn bè suốt dọc đờng đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi
Khổ thơ có một sự thay đổi đặc biệt so với toàn bài ở số lợng chữ trong câu thơ : 8- 8- 8- 8. Bốn
câu thơ 32 chữ chia đều nhau thanh điệu bằng trắc ở bốn chữ cuối và trở lại kiểu phối âm bình thờng
bằng- trắc- trắc- bằng. Câu kết của bài thơ mở rộng bằng thanh bằng :
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Đây là câu thơ mấu chốt của cả khổ thơ và cả bài thơ. Hóa ra tất cả khó khăn thử thách ở phía trên
kia chẳng là gì cả, dù cho bom rơi, pháo thả, dù xe không kính, dù đờng ra mặt trận có khi đồng nghĩa
với cái chết thì ngời lính lái xe ra trận cũng luôn cảm thấy bình yên, an toàn bởi vì có một trái tim. Đó
là trái tim biết thức vì Miền Nam, biết khát khao chân lí, hòa bình. Hành trang ra trận cần biết bao một
trái tim nh thế.
Bài thơ đã khắc họa đậm nét hình ảnh ngời chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam : Đời chúng ta
đâu có giặc là ta cứ đi. Bài thơ không chứa đựng một ẩn ý sâu xa nào khiến ngời đọc phải suy luận,
nêu giả thiết hoặc là thế này hoặc là thế kia. Tạo dựng hình ảnh thơ bằng ngôn ngữ thô mộc của đời
sống thờng nhật, không sử dụng các loại mĩ từ, mĩ cảm, ẩn dụ, hình ảnh thơ thể hiện đạt tới độ chân
thực cao mà vẫn rất thơ, đó là tài nghệ của Phạm Tiến Duật trong lao động sáng tạo. Bài thơ có đầy đủ
yếu tố cách tân và hiện đại nhng vẫn mang đậm bản sắc của thơ ca dân tộc, nối tiếp truyền thống của
thơ ca cách mạng viết về anh bộ đội trong hai cuộc trờng chinh cứu nớc vĩ đại của dân tộc ở thế kỉ XX
II. tự luận
Hình ảnh ngời lính qua hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không
kính (Phạm Tiến Duật)
Bài làm
Lớp cha trớc lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
(Tố Hữu)
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí !
Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ : Đồng chí. Một sự lí
giải tình đồng chí của nguời lính. Đó là xuất phát từ sự giống nhau ở cảnh ngộ, xuất thân từ nghèo
khó, là cùng chung mục đích, lí tởng, nhiệm vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu sát bên đầu/ Đêm
rét chung chăn thành đôi tri kỉ ) Một chữ chung khiến những ngời vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao
hơn là thành đồng chí.
Ngời xa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tri kỉ. Chính Hữu nhìn thấy ở anh bộ đội Cụ Hồ một tình
cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - tình đồng chí. Tình cảm này không phải chỉ vì sự cảm thông sâu xa
tâm t, nỗi lòng của nhau mà là cái chung lớn lao. Là những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời chiến
đấu. Tất cả diễn đạt bằng lời không đủ, bao nhiêu lời thân thơng, trìu mến nhất cũng trở thành sáo
rỗng, không chuyên chở nổi sức nặng cảm động giữa những ngời lính, ngời đồng đội. Vì thế đoạn thơ
thứ hai có 10 dòng vẫn theo từng cặp tơng ứng để cuối cùng dồn lại một hành động thay cho muôn lời :
"Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay". Tình đồng chí giữa những ngời lính vệ quốc, nói nh Chính Hữu :
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run ngời vầng trán ớt mồ hôi
áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cời buốt giá
Chân không giày
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
5
Nguyn Thỏi H
Là tình cảm của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX truyền lại. Tình của
những dân ấp, dân lân, "Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm - Tập khiên, tập
súng, tập mác, tập cờ mắt cha từng ngó" (Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu). Những
con ngời ấy vốn dĩ không đi vào cuộc chiến đấu cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn. Nhng cuộc
thiên nhiên, biển cả bao la. Qua bài thơ ta cảm nhận đợc không khí lao động khẩn trơng, hăng say,
nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
6
Nguyn Thỏi H
Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :
Mặt trời xuống biển nh hòn lửa
Giới thiệu một ngày sắp kết thúc, sự vật bắt đầu nghỉ ngơi sau hành trình 12 giờ mệt mỏi. Thế nhng
với con ngời làm nghề đánh cá thì lại khác, dấu hiệu mặt trời xuống biển mở ra một sự bắt đầu với
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi. Đánh cá trên biển là công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm. Vậy mà
những ngời đánh cá "lại" ra khơi với một tinh thần sảng khoái, tràn trề niềm vui, phấn chấn :
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Tiếng hát đợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần nh một điệp khúc và nó trở thành âm thanh chủ đạo trong bài
thơ :
- Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng
- Ta hát bài ca gọi cá vào
Tác giả miêu tả những con cá, những đàn cá gợi nên bức tranh sinh động về biển cả. Hình ảnh đàn cá
lóng lánh màu sắc nh một bức tranh sơn mài.
Giữa khung cảnh mênh mông, rộng lớn, hình ảnh ngời lao động xuất hiện với t thế làm chủ thiên
nhiên, biển cả, làm chủ công việc của mình. Hình ảnh thật khỏe khoắn, rắn chắc :
Sao mờ kéo lới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã tô đậm lên hình ảnh những ngời lao động mới với tầm
vóc ngang tầm vũ trụ và hòa nhập với khung cảnh trời nớc bao la :
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lớt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lới vây giăng
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con ngời lao động mới hăng say, khỏe
khoắn giữa thiên nhiên kì ảo. Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh. Để rồi,
khi đọc thi phẩm ta cảm tởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - Hào hùng, tráng lệ và lãng
mạn.
Nh bao bài thơ khác, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt
trời, trăng, sao, gió, mây Tuy nhiên, bằng cái nhìn của một con ngời mới XHCN, đi giữa miền Bắc
hòa bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách ấn tợng đầy tài năng của Huy Cận, thiên nhiên đã trở
nên chân thực, sống động mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế. Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên
ấy, con ngời hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao động. Đặt
mình vào t cách con ngời lao động trên biển khơi mênh mông, Huy Cận đã lắng nghe đợc sự hòa hợp
tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con ngời.
Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền đánh cá gắn với
hình ảnh mặt trời tráng lệ : "Mặt trời xuống biển nh hòn lửa" - "Mặt trời đội biển nhô màu mới". Trong
câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác. Khi mặt trời
xuống biển là lúc có hình dáng quả cầu đỏ sẫm. Những tia sáng phản chiếu dới mặt nớc, lung linh nh
hoa lửa. Vẫn mang nét tráng lệ, nhng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ở phần đầu bài thơ, hình
ảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lành
của đoàn thuyền đánh cá.
Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng. Đó là mối quan hệ tơng
hợp giữa con ngời với thiiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với
mây trời, sóng nớc và với cá - sinh lực, tinh lực của biển.
Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình ảnh miêu tả trực tiếp
thiên nhiên nhng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say, nhiệt
tình của con ngời. Chúng ta hãy đọc những vần thơ :
Câu hát căng buồm cung gió khơi
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Ta hát bài ca gọi cá vào
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
đánh xe thật vất vả - Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay. Hồi tởng những năm tháng bà cháu cùng sớm
hôm có nhau. Bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, bà dặn cháu viết
th cho bố ở chiến khu, bà sớm chiều nhen bếp lửa Lời kể sao mà ngậm ngùi tha thiết quá ! Nó gợi
trong lòng ngời bao niềm xúc động sâu xa. Làm sao quên đợc : Những năm giặc đốt làng cháy tàn
cháy rụi. Bà đã dặn cháu :
Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết th chớ kẻ này kể nọ
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
9
Nguyn Thỏi H
Cứ bảo nhà vẫn đợc bình yên
Hình ảnh ngời bà hiện lên trong lời thơ ấy đẹp làm sao ! Bà lúc nào cũng sẵn sàng chịu đựng. Bà
là thế đấy! Suốt một đời tận tụy vì con, vì cháu. Nhng không chỉ có thế. Vợt lên trên tình thơng ấy, bà
còn là ngời làm việc âm thầm, lặng lẽ, biểu lộ ý thức trách nhiệm của mình với Tổ quốc. Bà đã cùng
chịu đựng gian khổ, cùng chia sẻ hi sinh cho cuộc kháng chiến này. Càng lớn khôn, tác giả càng nhận
thức rõ tấm lòng cao quí của bà. Ngời đã lận đận biết mấy nắng ma để nhen nhóm trong lòng đứa cháu
yêu quí của mình ngay từ tuổi thơ một tình cảm rộng lớn hơn tình bà cháu thông thờng, đó là một ngọn
lửa chứa chan niềm tin dai dẳng đối với đất nớc con ngời :
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đợm
Nhóm niềm thơng yêu khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng bếp lửa
Hình ảnh bếp lửa đợc lặp lại nhiều trong bài thơ có giá trị tu từ độc đáo. Đây là hình ảnh tả thực
trong cuộc sống đời thờng. Song, đối với ngời đi xa quê hơng lại là một dấu ấn khó phai mờ - Bởi vì
chính bên cạnh bếp lửa hồng ấy, hình ảnh ngời bà "còm cõi", "chập chờn", "sơng sớm" in đậm trong
tâm trí tác giả từ tuổi nhỏ. Nhờ bếp lửa mà thời ấu thơ của tác giả êm đềm, ấm áp nh những câu
chuyện cổ tích mà bà thờng hay kể. Bếp lửa và ngời bà chính là nguồn sáng tâm hồn, nuôi dỡng tình
Bẳng Việt đã đem đến một biểu tợng tình bà yêu cháu vô cùng sâu nặng. Đó là những tháng
năm xa chỉ còn trong kí ức, mẹ cha bận công tác, giữa thời bom đạn, bà chăm chút, yêu thơng dạy bảo
cháu nên ngời. Bà là nguồn sống gia đình, là những gì tảo tần, nhẫn nại, giàu niềm tin, hết lòng yêu th-
ơng, chăm lo, chi chút cho cháu và gia đình. Bà là ngọn lửa của tình thơng hạnh phúc con cháu. Bà
khơi dậy và làm bùng lên khát vọng. Hành động nhóm bếp không chỉ là hình ảnh đời thờng ấm áp mà
chính là ngọn lửa của sự sống. Khi viết những dòng thơ Bếp lửa, tác giả đang ở xa Tổ quốc và đã trởng
thành. Đây là một bài thơ thật sự sâu sắc về tình yêu đất nớc trong hình ảnh dung dị của ngời bà - quê
hơng.
Hồi ức về những ngời thân yêu bao giờ cũng sinh động, ta càng rời xa tuổi thơ thì kỉ niệm càng
thân thiết, gần gũi, cảm động. Bếp lửa là một hồi ức tuyệt đẹp về ngời bà, nhắc nhở mỗi ngời về tình
yêu cụ thể trong tâm hồn và trái tim những ngời Việt Nam yêu nớc.
Phân tích hình ảnh ngời mẹ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên l ng mẹ của
Nguyễn Khoa Điềm
Bài làm
Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ đợc Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào ngày 25 tháng 3
năm 1971, là một trong số những bài thơ hay của ông. Nổi bật trong bài là hình ảnh ngời mẹ Tà Ôi nh
là biểu tợng về ngời mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là một con ngời rất mực thơng con nhng cũng vô cùng
yêu nớc. Dờng nh đứa con yêu quí và đất nớc thân thơng nuôi con nên ngời và đánh giặc giải phóng
quê hơng là những gì trọng đại nhất cao quí nhất của ngời mẹ này trong những năm đất nớc phải gồng
mình chống đế quốc Mĩ xâm lợc.
Bài thơ đồng thời là lời hát ru. Tác giả ru em Cu Tai ngủ ngoan (đồng thời miêu tả hình ảnh ng ời
mẹ). Ngời mẹ trong bài ru em ngủ ngoan nhng đó là lời ru thầm, lời ru trong tim (Lng đa nôi và tim
hát thành lời). Lời ru của tác giả và lời ru của ngời mẹ nối tiếp nhau, đan cài, hoà quyện vào nhau làm
nên những khúc hát ru vừa đằm thắm, dịu dàng, vừa trầm t, sâu lắng. Vì kết cấu bài thơ nh những khúc
hát ru nên bài thơ cứ trở đi trở lại một số khúc giống nhau nh những nét nhạc chủ đạo trong một bài
hát. Bài thơ có ba khúc ru. Mỗi khúc hát ru là một đoạn thơ. ở đoạn thơ thứ nhất, ngời mẹ ru con khi
địu con trên lng và giã gạo nuôi bộ đội. Giấc ngủ của em nghiêng nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ
hôi lao động vất cả của mẹ. Ngời mẹ Tà Ôi thơng con nhất mực không lúc nào chịu rời con đã lấy lng
làm nôi và đôi vai gầy làm gối cho con. Và lời ru con của mẹ cất lên bên cối gạo giữa sàn nhà cũng
chính là lời tâm sự, lời tự nhủ, lời mẹ thầm nói với chính mình. Lòng yêu con của mẹ gắn liền với tình
đợc gặp Bác Hồ và mong đất nớc đợc độc lập tự do :
Con mơ cho mẹ đợc gặp Bác Hồ
Mai sau con lớn thành ngời tự do .
Tiếng hát ru con của ngời mẹ Tà Ôi không phải đợc cất lên bên cánh võng hay trên giờng ấm nệm
êm trong phòng ngủ. Tiếng hát ru ấy ngân lên trong trái tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp
trên núi, khi mẹ chuyển lán , đạp rừng hoặc trên đờng ra chiến trờng để giành trận cuối. Nh vậy, bà
mẹ Tà Ôi là một ngời mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cho chiến đấu của toàn dân tộc. Tình th-
ơng con, thơng bộ đội, thơng dân làng, thơng đất nớc hoà quyện vào nhau trong tấm lòng của một ngời
mẹ miền núi yêu nớc trong những năm tháng chống Mĩ khó khăn, gian khổ.
Theo lời ru (và cũng là tình yêu thơng của mẹ), theo bớc chân của ngời mẹ Tà Ôi, không gian
cũng đợc mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi Ka Li (khi mẹ đi tỉa bắp) rồi đến những
rừng những suối khi mẹ chuyển lán đạp rừng. Và ớc mơ, khát vọng của ngời mẹ gửi gắm qua lời hát ru
tha thiết, nặng tình nặng nghĩa ấy cũng mỗi lúc một lớn dần : Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
đến Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều Từ mong muốn Mai sau con lớn vung chày lún sân đến
Mai sau con lớn phát mời Ka Li cuối cùng cũng bùng lên thành một khát vọng cháy bỏng Mai sau
con lớn làm ngời tự do. Tinh thần, không khí sục sôi của đất nớc trong những năm tháng đánh Mĩ đã
đi vào lời hát ru của những bà mẹ. Cuộc chiến tranh nhân dân khiến cả đến những bà mẹ miền núi có
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
12
Nguyn Thỏi H
con nhỏ vào cuộc chiến đấu hi sinh, gian khổ. Biết bao em bé đã lớn trên lng mẹ đi đến chiến tr -
ờng và trong số họ không ít những ngời đã thành những anh hùng dũng sĩ. Qua những khúc hát ru với
những điệp khúc đã trở đi trở lại nhng vẫn có sự biến hoá phát triển, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện
thật sinh động, ám ảnh đầy sức mạnh nghệ thuật khát vọng mãnh liệt độc lập tự do của toàn dân tộc.
Từ bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy em hãy viết lại những suy t của ngời lính sau
chiến tranh.
Bài làm
Cuộc kháng chiến đã qua đi, ngời lính trong chiến tranh giờ đây đã về với cuộc sống hàng ngày.
13
Nguyn Thỏi H
Cũng nh dòng sông có khúc phẳng lặng êm đềm, cũng có khúc ghềnh thác dữ dội. Cuộc đời vốn
cũng nhiều biến động. Ghi lại một tình huống, cuộc sống nơi thị thành, của những con ngời từ rừng về
thành phố, Nguyễn Duy đặt con ngời vào bối cảnh.
Thình lình đèn điện tắt
Phòng buynh đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn .
Khi ánh trăng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm khắp không gian thì vầng trăng xuất hiện khiến
con ngời ngỡ ngàng trứơc ánh trăng thân thơng của tuổi thơ trên những nẻo đờng ta sống và trong cuộc
chiến gian khổ, ác liệt. Cuộc sống hiện đại làm cho lòng ngời thay đổi Trớc ngời bạn vô tình ấy,
trăng chẳng nói, chẳng trách khiến ngời lính cảm thấy có cái gì rng rng. ánh trăng soi chiếu khiến ng-
ời ta nhận ra độ lệch của nhân cách mình.
Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi ngời vô tình
ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình .
ánh trăng trớc sau vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung. Trăng lặng lẽ tròn đầy một cách
trong sáng, vô t, mặc cho thời gian trôi, mặc cho bạn bầu xa ai đó quay lng dù trong quá khứ trăng là
tri kỉ. Nhng trăng cũng khơi gợi niềm xúc động, đánh thức lơng tâm ở con ngời. Cái giật mình đợc
diễn tả trong khổ thơ vô ngôn thể hiện sự bình tĩnh đáng quí. Qua bài thơ Nguyễn Duy đã khám phá
ra vẻ đẹp không bao giờ kết thúc. Dờng nh cuộc sống mới đầy đủ hơn khiến cho con ngời lãng quên
ánh trăng. Hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn con ngời không bao giờ ngơi nghỉ
và việc hoàn thiện mình của chính mỗi con ngời cũng không phải một sớm một chiều.
Cuộc đấu tranh hớng thiện âm thầm mà khốc liệt, nó đòi hỏi lòng dũng cảm của con ngời. Ngời
lính năm xa đã dành trọn quá khứ soi mình trong hiện tại để đấu tranh loại bỏ sự vô tình vô nghĩa của
bản thân, hớng tới sự cao cả, tốt đẹp.
ánh trăng là bài thơ không quên về quá trình hớng thiện, quá trình hoàn thiện mình của mỗi
con ngời trong cuộc sống hôm nay.
ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái vầng trăng tình nghĩa ấy :
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện, cửa gơng
Vầng trăng đi qua ngõ
Nh ngời dng qua đờng .
Trớc đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trờng đã thay đổi. Từ hồi về thành
phố đời sống cũng thay đổi theo : quen ánh điện, cửa g ơng . ánh điện , cửa g ơng tợng trng cho
cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng dần dần cái vầng trăng tình nghĩa ngày nào bị lãng quên.
Vầng trăng ở đây tợng trng cho những tháng năm gian khổ, đó là tình bạn, tình đồng chí đợc hình
thành từ những tháng năm ấy. Trăng bây giờ thành ng ời dng Con ngời ta thờng hay đổi thay nh
vậy. Bởi thế đời vẫn thờng nhắc nhau : ngọt bùi nhớ lúc đắng cay. ở thành phố vì quen với ánh
điện, cửa gơng quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên ngời đã không thèm để ý đến Vầng trăng -
con ngời, mảnh đất từng là tri kỉ một thời.
Phải đến lúc toàn thành phố mất điện :
Phòng buyn đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn
Vầng trăng xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy ngời lính năm xa mới bàng
hoàng trớc vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xa bỗng ùa về làm "Con ngời này" cứ r-
ng rng nớc mắt.
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
15
Nguyn Thỏi H
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rng rng "
" ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình .
Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lợng biết bao !
ngột khiến ông Hai sững sờ cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tởng
nh đến không thở đợc . Trong điều kiện, hoàn cảnh lúc này, ông không thể biết đợc tin này thực h ra
sao. Nhng những ngời tản c đã kể quá rành rọt, họ còn khẳng định vừa ở dới ấy lên, làm ông không
thể không tin, nên càng khiến ông đau buồn, khổ sở. Tin ấy không chỉ làm cho ông cảm thấy đau về
thể xác mà còn xâm chiếm, ám ảnh , day dứt tinh thần. Tiếng cời nói xôn xao của đám ngời mới tản c
lên ấy vẫn cứ dõi theo Cha mẹ tiên s nhà chúng nó ! Cái giống Việt gian bán nớc thì cứ cho mỗi
đứa một nhát! khiến ông đau đớn, xấu hổ cúi gằm mặt xuống mà đi .
Về đến nhà, ông nằm vật ra giờng, nhìn lũ con, cảm thấy tủi thân, nớc mắt cứ giàn ra. Chúng nó
cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ? chúng nó cũng bị ngời ta rẻ rúng hắt hủi ? Tin hay không tin ?
Ông ngờ ngợ nh lời mình nói không đợc đúng lắm ? Nhng rồi nghĩ rằng ngời ta hơi đâu bịa ra những
chuyện ấy. Suốt cả ngày sau, ông không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn trong gian nhà chật hẹp, lắng tai
nghe ngóng động tĩnh bên ngoài. Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cời nói xa xa,
ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tởng nh ngời ta đang để ý, ngời ta đang bàn tán đến cái
chuyện ấy . Tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề, biến động dữ dội trong nội tâm nhân
vật, sự sợ hãi ám ảnh tâm trạng ông Hai.
Càng yêu làng, tự hào về làng, thì khi làng theo Tây càng tỏ nỗi đau, nỗi nhục ở ông Hai. Cái đau,
cái nhục ấy cũng chính là lòng yêu làng, yêu nớc của ông Hai. Bao nhiêu ý nghĩ ghê rợn nối tiếp bời
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
17
Nguyn Thỏi H
bời trong đầu óc ông, đẩy ông Hai vào tình huống phải lựa chọn hay là quay về làng ?, về làng tức
là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ. Tình yêu quê và tình yêu Tổ quốc xung đột dữ dội trong lòng ông. Cuối
cùng ông đã lựa chọn Không thể đ ợc ! Làng thì yêu thật, nhng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.
Đối với ngời nông dân thuần phác ấy, tình yêu nớc rộng lớn, hớng về kháng chiến, cụ Hồ đã bao trùm
lên tình yêu quê.
Nỗi lòng đó của ông đợc trút vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ: Thế con có thích về
làng Chợ Dầu không? ; Thế con ủng hộ ai ? Phải chẳng, cũng chính là lời ông Hai tự nhủ với
mình, tự giãi bày nỗi lòng. Ông Hai bày tỏ nỗi lòng sâu xa, chân thành của ngời nông dân với quê, với
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
18
Nguyn Thỏi H
thách cuộc sống, thử thách trong nghề. Nửa đêm, đúng giờ ốp thì dù ma tuyết, giá lạnh thế
nào cũng phải trở dậy ra ngoài trời làm công việc đã qui định.
ở ngời thanh niên này còn có những nét tính cách và phẩm chất rất đáng mến nữa. Đó là
sự cởi mở, chân thành, quí trọng tình cảm, khát khao đợc gặp gỡ, trò chuyện với mọi ngời. Sự
chu đáo, tình cảm chân thành, giản dị trong từng lời nói, cách quan tâm. Một củ tam thất đào đ-
ợc, một ổ trứng gà, một bó hoa và những câu chuyện làm quà Tất cả gửi gắm tình cảm chân
thành của ngời lao động trẻ tuổi - thế hệ thanh niên trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
của đất nớc ta.
Với những ngời đã gặp anh, tiếp xúc với anh, anh thanh niên không chỉ đáng yêu vì cách
sống mà đáng yêu ở cả những suy nghĩ, quan niệm về ng ời cô độc, về nỗi thèm ngời, về vị
trí cuộc sống, về ấn tợng mà mỗi ngời tạo ra trong đời, anh luôn cảm thấy mình nhỏ bé, bình th-
ờng so với những ngời khác. Khi ông hoạ sĩ già phác thảo chân dung anh vào sổ tay, anh rất ng-
ợng ngùng, tìm một chân dung khác cho tác phẩm của ông hoạ sĩ mà anh cho là có ý nghĩa hơn
anh. Nào là ông kĩ s vờn rau, ngày này sang ngày khác rình xem ong thụ phấn cho su hào để
nâng cao năng xuất cây trồng, cho đời củ su hào to và ngọt hơn ; một ngời làm công tác nghiên
cứu khoa học, mời năm không một ngày xa cơ quan, luôn trong t thế sẵn sàng đợi sét để lập ra
bản đồ sét ngời tìm ra của chìm dới lòng đất cho đất nớc.
Anh đã gửi gắm tới mọi ngời ý nghĩ : trong im lặng của Sa Pa, nơi ngời ta nghĩ tới nghỉ
ngơi còn có những ngời làm việc, lo nghĩ cho đất nớc.
Chỉ bằng một số chi tiết và sự xuất hiện của anh thanh niên trong khoảnh khắc của truyện
- cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa nhân vật ông hoạ sĩ, cô kĩ s trẻ và anh thanh niên làm công tác khí t-
ợng ở Sa Pa, tác giả đã phác hoạ đợc chân dung nhân vật chính với những nét đẹp về tinh thần,
tình cảm, cách sống và cả những suy nghĩ về cuộc sống, ý nghĩa công việc.
Cảm nhận của em về nhân vật ông họa sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa
Bài làm
tuyên ngôn nghệ thuật.
Nhân vật ông họa sĩ già là nét đẹp trong cuộc sống, một con ngời ý thức đợc vị trí, trách nhiệm của
mình trong công cuộc xây dựng đất nớc, là ngời nhạy cảm trớc cái đúng, cái sai, ái đẹp luôn hớng
thiện, mong muốn làm điều tốt đẹp cho cuộc sống. Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác để lại cho
Lặng lẽ Sa Pa những vang vọng, tác động mạnh đến t tởng, tình cảm của mỗi ngời.
. Phân tích hình ảnh biểu tợng : Đầu súng trăng treo (Đồng chí - Chính Hữu) ; hình ảnh Trăng
(ánh trăng - Nguyễn Duy)
Bài làm
* Biểu tợng Đầu súng trăng treo.
Đầu súng trăng treo là câu kết bài thơ Đồng chí, cũng là một biểu tợng đẹp về ngời chiến sĩ thời
kì đầu kháng chiến chống Pháp. Trong đêm phục kích giữa rừng, bên cạnh hình ảnh thực là súng, là
nhiệm vụ chiến đấu tạo nên con ngời chiến sĩ thì cái mộng, cái trữ tình là trăng. Hình ảnh trăng tạo nên
con ngời thi sĩ. Hình ảnh chiến sĩ, thi sĩ hài hòa với nhau trong cuộc đời ngời lính cách mạng. Hai hình
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
20
Nguyn Thỏi H
ảnh đối lập đặt cạnh nhau tạo ra ý nghĩa vô cùng độc đáo. Súng là chiến tranh lạnh lùng, là gợi ra sự
chết chóc, tàn phá, ghê sợ. Còn trăng là tợng trng cho hòa bình, gợi lên sự thanh cao, hạnh phúc, thơ
mộng, dịu dàng. Ngời lính cầm súng để bảo vệ hòa bình, khát khao hòa bình. Súng và trăng : cứng rắn
và dịu hiền, chiến sĩ và thi sĩ, có ngời còn gọi đây là một cặp đồng chí.
Chính Hữu đã thành công với hình ảnh Đầu súng trăng treo - một biểu tợng thơ giàu sức gợi cảm.
Tác giả đã từng nói : "Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng đi phục kích giặc trong đêm trớc mắt tôi
chỉ có ba nhân vật : Khẩu súng, vầng trăng và ngời bạn chiến đấu. Ba nhân vật quện với nhau tạo ra
hình ảnh đầu súng trăng treo"
Đầu súng trăng treo, đã trở thành một biểu tợng đẹp của ngời lính cách mạng Việt Nam : Hiện thực
và lãng mạn, chiến sĩ và thi sĩ.
* Hình ảnh trăng trong ánh trăng của Nguyễn Duy
ánh trăng của Nguyễn Duy với hình ảnh trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nớc mà còn
Lẽ sống cao đẹp ấy đã trở thành lí tởng trong bài ca cuộc đời của biết bao thế hệ những con ngời Việt
Nam anh hùng. Và khi bớc vào ngỡng cửa của thi ca thì Sống là cho và chết cũng là cho cũng chính
là niềm khao khát cháy bỏng trong tâm hồn mỗi thi nhân.Trong số đó, ta không khi nào quên nhắc đến
tiếng hát nhẹ nhàng ,sâu lắng ,tha thiết của khát vọng với cuộc đời, với đất nớc trong thi phẩm Mùa
xuân nho nhỏ đợc thơ Thanh Hải viết tháng mời 11 năm 1980 .
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đợc Thanh Hải sáng tác trớc khi nhà thơ qua đời một tháng .Trong
tâm lí nặng nề, sức khoẻ và bệnh tật mà hồn thơ Thanh Hải vẫn cất cánh bay cao để rồi mang đến cho
cuộc sống một tình yêu, một nỗi niềm thiết tha với quê hơng đất nớc và cùng theo đó là ớc nguyện
chân thành đợc cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Tổ Quốc thân yêu.
Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Thanh Hải lựa chọn mùa xuân để khởi nguồn cảm hứng. Từ
hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, tác giả đi đến với ớc nguyện đợc làm một Mùa xuân nho nhỏ lặng
lẽ dâng hiến cho cuộc đời, cho đất nớc non sông. Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ là một bức tranh
thiên nhiên đẹp đẽ, sinh động với sự hoà quện tuyệt vời giữa sắc màu và âm thanh. Đó là dòng sông
xanh, bông hoa tím biếc, đó là lộc giắt đầy quanh lng và lộc trải dài nơng mạ .Và còn là tiếng hát
trong trẻo của loài chim chiền chiện, loài chim cất tiếng hót báo hiệu tin vui, đem lại cuộc sống ấm no
hạnh phúc cho con ngời. Tất cả mọi sự vật, thiên nhiên đều đợc tác giả nâng niu, trân trọng, không
muốn những gì đẹp đẽ, tinh khiết nhất của mùa xuân tan biến : Tôi đa tay tôi hứng - Hứng những giọt
long lanh trong vắt của tiếng hót say sa từ trời xanh rơi xuống. Tiếng chim hót vang trời xuân kia, bằng
tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, bằng tấm lòng thiết tha yêu mến cuộc sống tơi đẹp này, với Thanh Hải đã
thành giọt long lanh hữu hình cụ thể để mà nâng niu gìn giữ mãi sức sống mãnh liệt của mùa xuân.
Bằng sự kết hợp hài hoà giữa âm thanh và màu sắc cùng lối nói đảo ngữ ẩn dụ, tác giả đã vẽ lên trớc
mắt ngời đọc một bức tranh mùa xuân, rất đặc trng cho đất trời xứ Huế.
Từ xúc cảm say sa ngây ngất trớc mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ bồi hồi nhớ tới mùa xuân của
đất nớc, của cách mạng, đó là mùa xuân của những con ngời cầm súng và ra đồng. Lộc non trên lng
ngời ra trận chính là sức mạnh dân tộc, lộc trải dài nơng mạ là sự hối hả xôn xao cho một mùa màng
mới,cho đồng ruộng vẫn mãi mãi bạt ngàn một màu xanh. Ngời cầm súng và ngời ra đồng là hai lực l-
ợng chính thực hiện nhiệm vụ của đất nớc lúc bâý giờ, đó là chiến đấu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. ý
thơ càng sâu sắc : Ngời ra trận phải đổ máu, ngời ra đồng phải đổ mồ hôi nớc mắt. Máu, mồ hôi, nớc
mắt của nhân dân đã góp phần giữ lấy mùa xuân mãi mãi cho dân tộc.
Cũng từ đó tác giả tự hào nghĩ về đất nớc thân yêu với bốn ngàn năm trờng kì lịch sử cùng bao
Câu Nam ai, Nam Bình
Nớc non ngàn dặm mình
Nớc non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế .
Khúc Nam ai, Nam bình là điệu nhạc buồn thơng, dịu dàng trìu mến mà tự bao đời nay, ngời
dân xứ Huế vẫn hát để gợi nhắc lòng ngời nhớ về nghĩa tình thuỷ chung, nhớ về tình yêu quê hơng đất
nớc. Non nớc Việt Nam cũng nh đất trời xứ Huế tơi đẹp quá ! Một câu hát truyền thống sẽ đi mãi cùng
trái tim một ngời con đã suốt đời chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, đến giây phút cuối cùng vẫn còn mong
mỏi mãnh liệt hơn bao giờ hết khát vọng cống hiến vẹn toàn cho quê hơng đất nớc.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ vừa tạo nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tuyệt đẹp với sự nảy
nở sinh sôi, với sức sống bền bỉ mãnh liệt của vạn vật lại vừa là tiếng hát nhẹ nhàng tha thiết, sâu lắng
về khát vọng cống hiến cho đất nớc của nhà thơ Thanh Hải. Có lẽ chính vì sự nhịp nhàng trong ngôn từ
và cái bồi hồi mãnh liệt của khát vọng mà bài thơ vẫn mãi nhẹ nhàng thấm vào lòng ngời và trở thành
một lời nhắn nhủ ân tình với ngời đọc.
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73
Email : hoc
23
Nguyn Thỏi H
Sự thành kính thiêng liêng của Viễn Phơng trong bài thơ Viếng lăng Bác.
Bài làm
Nhà thơ Cu-Ba F.Đờ-ri-gết đã từng ca ngợi : "Hồ Chí Minh - tên ngời là cả một miền thơ".
Vâng, quả đúng vậy ! Đợc viết về Ngời là niềm vinh dự lớn lao cho thế hệ những ngời cầm bút. Một
dòng sông thi ca viết về Con ngời đẹp nhất ấy chảy dạt dào hơn mấy chục năm qua. Ngời đi vào trong
thơ từ buổi đầu Ngời đi tìm hình của nớc - Chế Lan Viên, là ngời lính già trong chiến dịch Việt Bắc
với nhiều đêm hành quân không ngủ trong thơ Minh Huệ. Và Ngời toả sáng làm ấm lòng những đứa
con đất Việt trong giờ phút về "Viếng lăng Bác" - Viễn Phơng. Lăng Bác trở thành nơi lu giữ bóng
dáng Bác lúc sinh thời, nơi chiêm ngỡng thành kính của nhân dân và bè bạn quốc tế. Viếng lăng Bác là
một bài thơ ngắn đầy cảm động, thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn, tự hào,
lẫn nỗi xót xa khi tác giả từ Miền Nam ra viếng Bác.
Bác nằm trong lăng, giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Mặt trời trong lăng là một ẩn dụ độc đáo, một cách sáng tạo mới mẻ của Viễn Phơng, cùng với
điệp từ "ngày ngày", "mặt trời trong lăng" đã đợc vĩnh viễn hoá, bất tử hoá thành hình tợng Bác Hồ
trong lòng mọi ngời, giữa thiên nhiên, vũ trụ. Mặt khác để ca ngợi sự vĩ đại, công lao trời bể của Bác
đối với nhân dân Việt Nam. Bác đã chiếu sáng cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của đêm tr-
ờng nô lệ. Tác giả không dùng "đoàn ngời, tốp ngời" mà dùng "dòng ngời", cùng với từ láy "ngày
ngày" thể hiện hình ảnh này đã trở thành qui luật đều đặn, thể hiện tấm lòng thành kính của nhân dân
Việt Nam, của bạn bè bốn phơng đối với Bác. Mỗi ngời thăm Bác lúc bấy giờ là đại diện cho những
tấm gơng điển hình tiên tiến trên mặt trận chiến đấu, là những ngời con u tú, là những bông hoa tơi
thắm kết thành một "tràng hoa" để dâng lên Ngời. "Bảy mơi chín mùa xuân" là hình ảnh hoán dụ,
khẳng định sự trờng tồn, bất tử nh mùa xuân vĩnh viễn, tràn đầy sức sống.
Sang tới khổ thơ thứ ba, chúng ta thấy hiện lên một giấc ngủ bình yên, thanh thản. "Cả cuộc đời
Bác có ngủ yên đâu". Với Bác đợc ngủ bình yên khi :
"Việc quân, việc nớc bàn xong
Gối khuya yên giấc bên khung trăng nhòm".
Với Viễn Phơng, Bác ngủ bình yên nghĩa là Bác vẫn còn sống, đợc nghỉ ngơi, giấc ngủ đến với
Ngời nhẹ nhàng, thanh thản bởi lúc này, nớc đang tràn ngập niềm vui chiến thắng, ớc nguyện của Ngời
đã trở thành sự thật. "Vầng trăng" là hình ảnh ẩn dụ, tợng trng cho lòng nhân ái, đức độ, tâm hồn Bác.
Đồng thời, gợi vầng trăng tri kỉ đã từng gắn bó với Bác, thể hiện tâm hồn Bác hoà hợp với tình yêu
thiên nhiên. "Trời xanh" cũng là một hình ảnh ẩn dụ, tợng trng cho hình ảnh bất tử của Bác. "Bác còn
sống mãi với non sông đất nớc". Bác đã hoá thân vào thiên nhiên, đất nớc. Cặp từ quan hệ "vẫn biết
mà sao" thể hiện sự đau đớn, tiếc thơng đến cực độ của tác giả - "nhói", tình cảm ấy cũng là tình cảm
chung của nhân dân khi Bác ra đi "đời tuôn nớc mắt, trời tuôn ma". Mạch cảm xúc từ thành kính
chuyển thành tiếc thơng, làm cho thơ Viễn Phơng có lối viết hàm súc, câu chữ để lại nhiều ám ảnh
trong lòng ngời đọc.
Nguyn Thỏi H.Ho an Krụngpk klk.
Nick: th_nhanhlanrung_73