Di tích lịch sử văn hóa Đền Đô - Pdf 18

Di tích lịch sử văn hóa Đền Đô
Thứ Sáu, 29/02/2008 - 3:54 PM
Đền Đô kiến trúc tuyệt vời,/Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm.
Đền Đô ở làng Đình Bảng (Từ Sơn), nguyên là Thái miếu nhà Lý, do Lý Thái Tổ khởi dựng năm 1019.
Năm 1030, Thái miếu được Lý Thái Tông nâng cấp, mở rộng thành Đền thờ Lý Thái Tổ. Năm 1602, Vua
Lê Kính Tông đã trùng tu, xây dựng Thái miếu với một quy mô lớn, thờ 8 vị vua triều Lý, lấy tên là Cổ
Pháp Điện - Đền Lý Bát Đế.

Trải qua gần 900 năm tồn tại, với nhiều lần trùng tu tôn tạo. Đền Đô đã trở thành một trong những địa chỉ
tiêu biểu nhất của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc. Nơi đây còn là cơ sở hoạt động bí mật của nhiều lãnh tụ
cách mạng trong những tháng năm gian khổ tìm đường cứu nước.

Với kiểu “Nội công ngoại quốc”, Đền Đô được xây dựng thành 2 khu: Nội thành và ngoại thành, với tổng
diện tích 31.250m2, được bao bọc bằng một bức tường thành cao 2,3m, rộng 0,9m. Đền Đô được bố cục
hài hòa, bề thế với 21 hạng mục công trình kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh xảo gồm nhà Chuyển Bồng,
nhà Tiền Tế, nhà Phương Đình, Vương Mẫu Tử, nhà để ngựa thờ, Văn Chỉ, Võ Chỉ, Năm Cửa Rồng… Phía
trước Năm Cửa Rồng (Ngũ Long Môn) là Hồ Bán Nguyệt có diện tích 9.500m2. Giữa hồ có nhà Thủy
Đình vuông vức, 2 mái chồng uốn lượn hài hòa giữa một không gian thoáng đãng. Trước đây, nhà Thủy
Đình ở Đền Đô đã được chọn làm hình ảnh in trên “Giấy năm đồng vàng” Đông Dương. Qua Năm Cửa
Rồng, du khách sẽ tới một sân đền rộng, được lát đá dẫn vào nhà Phương Đình 8 mái, rồi đến nhà Tiền Tế,
treo bức hoành phi “Cổ Pháp Triệu Cơ” (đất Cổ Pháp là nơi mở đầu sự nghiệp vương triều Lý). Tiếp đến là
2 nhà vuông 8 mái chồng, dẫn vào hậu đô “Cổ Pháp Điện” gồm 7 gian, rộng 180m2, hình chữ công (I). “Cổ
Pháp Điện” là công trình chính của Đền Đô được xây dựng hoành tráng, trang nghiêm, đặt các pho tượng 8
vị vua triều Lý. Nội thất Đền Đô được bài trí chi tiết, đồ thờ phong phú. Tượng các đức vua ở hậu đô,
hương án, bài vị, hoành phi, câu đối, sập và mâm thờ… đều được sơn son thiếp vàng rực rỡ. Ngựa thờ có
đủ áo giáp, may thêu rất công phu, lục lạc đồng sáng loáng. Đỉnh đồng, bình hương, trống, chiêng… đều bề
thế.

Năm 1952, Đền Đô bị giặc Pháp phá hủy hoàn toàn. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc vừa đúng một năm,
khi về thăm Đảng bộ và nhân dân Đình Bảng, đứng trên nền đất ngôi đền xưa, Bác Hồ đã xúc động nói với
mọi người: Đền Đô là công trình văn hóa đặc sắc, không chỉ của Đình Bảng mà của nhân dân cả nước. Có

bài vị tám vị vua nhà Lý, kiến trúc theo kiểu nhà chuyển bồng đao cong mềm mại thanh
thoát, bao quanh nội thất là tường gạch. Ngoại thất gồm nhà vuông, kiến trúc kiểu chồng
diềm tám mái, đao cong gồm: nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách, đền thờ thân mẫu Lý Công
Uẩn. Từ cửa đi thẳng tới sát bờ hồ bán nguyệt là nhà rối (thủy đình); phía ngoài cùng, bên
hồ bán nguyệt là nhà bia, hai bên là nhà văn chỉ và võ chỉ.
Đến với đền Đô, du khách còn được tận mắt chiêm ngưỡng nhiều cổ vật quý, nhiều tài
liệu lịch sử quan trọng; đặc biệt là văn bia “Cổ Pháp điện tạo bi” của trạng nguyên Phùng
Khắc Khoan được khắc vào năm 1604 nhân việc nhà Lê cho trùng tu đền Đô.
Đền Đô là trung tâm thờ các vua Lý với nhiều nghi thức rất trọng thể trong các dịp lễ
hàng năm, kỷ niệm ngày mất của các vị vua. Đặc biệt lễ hội đền Đô được tổ chức vào các
ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3
năm Canh Tuất 1010). Đây là ngày hội lớn mang tính quốc gia, thu hút hàng vạn khách
hành hương thể hiện lòng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý.
Đó còn là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình
Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân.
Mặc dù bị chiến tranh phá hủy vào năm 1952 nhưng được sự quan tâm của các cấp lãnh
đạo, nhân dân Đình Bảng và sự đóng góp của khách thập phương, đến năm 1989 đền Đô
được khởi công xây dựng lại, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người
Việt Nam.
Với vị thế, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt và in
đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đền Đô đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn
hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa - Thông tin ngày 25/01/1991.
Về đền Đô là về với những cảm xúc thiêng liêng, gắn bó, cảnh trí hữu tình, nơi đây đã
làm vấn vương, lưu luyến biết bao người:
Đền Đô Bắc Ninh với tám triều Vua Lý
Đền Đô nằm trên vùng đất "địa linh nhân kiệt" Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc
Ninh (cách Thủ đô Hà Nội gần 20 km). Từ xưa vùng đất này đã nổi tiếng là vùng văn
hóa, là nơi có phong cảnh đẹp. Đền Đô được xây dựng từ thời Lý Công Uẩn (thế kỷ XI).
Đền Đô nằm trên vùng đất "địa linh nhân kiệt" Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc

kỷ XI (1030) trên khu đất phía Đông Nam Hương Cổ Pháp, Châu Cổ Pháp (làng Đình
Bảng ? Từ Sơn ? Bắc Ninh ngày nay). Khu đất này theo Thiền sư Lý Vạn Hạnh cho rằng
nơi hội tụ của thiên khí, nơi có thế 8 đầu rồng chầu về).Tương truyền, xưa kia phía trước
cửa đền là một khu rừng Báng, có dòng Tiêu Tương uốn khúc chảy qua.
Video giới thiệu Lễ hội Đền Đô,
do Trung Tâm Hợp Tác Báo Chí Quốc Tế - Bộ Thông Tin & Truyền Thông sản xuất
Đền được dựng trên nền đất mà xưa khi vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê
hương vào tháng 2 năm Canh Tuất (1010), tại đây nhà vua đã dừng thuyền rồng để đi
thăm các bậc kỳ lão, yết lăng Thái Hậu và đo vài mươi dặm đất làm "Sơn Lăng cấm địa".
Dân làngĐình Bảng đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua.
Khi vua Lý Công Uẩn băng hà (1028), Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vua cha, ông đã cho
sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn làm nơi thờ tự vua cha và cũng từ đó đền trở thành nơi
thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng hà.
Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê đền Đô đều được quan tâm tu sửa và mở rộng, đặc biệt
Đền được mở rộng nhất vào thế kỷ XVII (1602) với quy mô của 21 hạng mục công trình
được sắp xếp theo kiểu "Nội công ngoại quốc", xung quanh có tường thành vây bọc. Kiến
trúc của đền có sự kế thừa phong cách cung đình và phong cách dân gian, tổng thể kiến
trúc được kết hợp hài hoà, chạm khắc tinh xảo, thể hiện một công trình kiến trúc bề thế
vững chắc nhưng không cứng nhắc trong khung cảnh thiên nhiên.
Năm 1952, Đền Đô bị giặc Pháp chiếm và phá huỷ hoàn toàn. Từ năm 1989 trở lại đây,
được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của nhân dân Đình Bảng và tấm
lòng công đức của nhân dân thập phương, Đền Đô đã từng bước được khôi phục, tìm lại
dáng vẻ xưa của đợt trùng tu, mở rộng đền năm 1602 với các hạng mục công trình như:
Nhà Hậu cung (80m2), nhà chuyền Bồng (80m2), nhà Kiệu (130m2), nhà để Ngựa
(130m2), Thuỷ đình, Phương đình Căn cứ vào các dấu tích, các nguồn tài liệu và các
hạng mục công trình đã được dựng lại cho phép chúng ta hình dung tổng thể kiến trúc di
tích Đền Đô như sau:
Đền Đô có diện tích 31.250m2, gồm 21 hạng mục công trình lớn nhỏ. Trung tâm là Điện
thờ, nơi đặt bài vị và tượng của Tám vị vua nhà Lý, xung quanh có nhà chuyền Bồng, nhà
Tiền tế, nhà Phương Đình, nhà Để kiệu, nhà để ngựa, nhà Thuỷ Đình Kiến trúc Đền đô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status