MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2
4. Phương pháp nghiên cứu
3
5. Bố cục tiểu luận
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, KHÁI QUÁT
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ Ở PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG,
THỊ XÃ TỪ SƠN, TÌNH BẮC NINH............................................................4
1.1. Một số khái niệm cơ bản
4
1.2. Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa
3.1. Những căn cứ để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch
sử văn hóa đền Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
30
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa đền
Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
32
KẾT LUẬN....................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................39
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, một trong những địa
phương có bề dày văn hiến, có truyền thống lịch sử. Bắc Ninh ngày nay là
một phần của vùng Kinh Bắc xưa, là địa bàn cư trú của người Việt cổ từ hàng
nghìn năm trước. Trải thời gian, Bắc Ninh là vùng đất phát tích của vương
triều Lý - triều đại đầu tiên của nhà nước quân chủ phong kiến độc lập đã mở
ra nền văn minh Đại Việt. Với hơn 200 năm phát triển rực rỡ, triều Lý đã để
lại cho các thế hệ sau nhiều DSVH quý giá…
Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị
vua của nhà Lý. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá
trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà
Lý. Hệ thống di tích này hàm chứa những giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học
và thẩm mỹ, là những chứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động lịch
sử lâu đời và truyền thống văn hiến có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống
văn hóa cộng đồng.
tích lịch sử văn hóa nói riêng.
- Nghiên cứu đặc điểm, các giá trị tiêu biểu của di tích lịch sử văn hóa
cấp quốc gia đền Đô.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đền
Đô để tìm ra những thành công cũng như những hạn chế trong công tác quản
lý di tích, xác định nguyên nhân của các hạn chế ấy.
- Từ đặc điểm của các di tích lịch sử văn hóa và thực trạng quản lý di
tích tiểu luận đề xuất một số giải pháp nhằm đạt hiệu quả cao hơn nữa trong
công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền
Đô trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm của đối tượng quản lý đó là loại hình di tích lịch
sử văn hóa ở Bắc Ninh. Cụ thể ở đây là di tích lịch sử văn hóa- di tích đã
được Nhà nước công nhận xếp hạng.
2
- Nghiên cứu các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về bảo
tồn di tích và chính sách đối với cộng đồng tham gia bảo tồn di tích.
- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy và các hoạt động trong lĩnh vực
quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Tiểu luận chủ yếu tập trung vào hoạt
động quản lý di tích lịch sử văn hóa theo tinh thần nội dung của Luật Di sản
văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Phạm vi không gian: Tiểu luận sẽ tập trung đi sâu tìm hiểu công tác
quản lý tại di tích lịch sử văn hóa đền Đô.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 khi Luật Di sản văn hóa được ban
hành cho đến nay.
và vẫn còn có tầm quan trọng lịch sử.
Ở nước ta, năm 2001 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X, kỳ
họp thứ 9 thông qua, thuật ngữ “di sản văn hóa” chính thức được ghi trong
văn bản pháp quy cao nhất và được sử dụng phổ biến. Năm 2009 Luật Di sản
văn hóa được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản, theo đó DSVH bao gồm
DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” [42, tr.33].
1.1.2. Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa
Trong hiến chương Venice - hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng
tu di tích và di chỉ (năm 1964), tại Điều 1 có định nghĩa: Di tích lịch sử không
chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong
đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan
trọng hay một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những
4
công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụ
được các ý nghĩa văn hóa của quá khứ.
Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu
là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá
trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [112, tr.414].
Theo Luật Di sản văn hóa: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây
dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa
điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [42, tr.33]. Ở đây, có thể hiểu
rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm,
quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các
địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng…
1.1.3 Khái niệm Quản lý
phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng.
1.2. Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn
hóa
Từ sau năm 1945, hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếp
cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới. Từ đây, các văn bản pháp lý
từng bước được xây dựng để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc
biệt là công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa.
- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 quy
định nhiệm vụ của Đông Phương bác cổ học viện và đề cập tới việc cấm phá
huỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện,
thành quách cùng lăng mộ phải được bảo tồn.
- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ kí ngày 29/10/1957,
quy định Thể lệ bảo tồn cổ tích. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có
giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng
nói chung.
- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử,
văn hóa và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành
ngày 4/4/1984. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời
kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất, là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo
6
tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng
các điều luật cụ thể.
- Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các
hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, mở rộng phạm vi điều chỉnh cả
DSVH phi vật thể là một vấn đề mà đã được nhiều quốc gia đề cập tới. Luật
được đưa vào danh mục di sản thế giới.
+ Công ước Bảo vệ DSVH phi vật thể do UNESCO thông qua năm
2003 là công ước tôn vinh giá trị DSVH phi vật thể cũng như tính đa dạng
văn hóa toàn nhân loại, đề cao vai trò của cộng đồng cư dân địa phương với
tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa - chủ sở hữu, người thụ hưởng giá trị người trực tiếp bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội. Công
ước đặt ra danh mục hai loại hình DSVH phi vật thể là DSVH phi vật thể đại
diện của nhân loại và DSVH phi vật thể trong tình trạng khẩn cấp nhằm nâng
cao nhận thức và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, vai trò của cộng
đồng cư dân địa phương.
+ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa
được UNESCO thông qua năm 2005. Công ước có mục đích bảo vệ và phát
huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được thể hiện và truyền tải cụ thể
trong các hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa - các phương tiện
của nền văn hóa đương đại. Đồng thời, đặt ra một khung pháp lý thuận lợi cho
tất cả các quốc gia thành viên trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, truyền bá,
tiếp cận và hưởng thụ các biểu đạt văn hóa từ nhiều nguồn gốc khác nhau.
1.3. Khái quát di tích lịch sử văn hóa cấp quốc
gia đền Đô phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh
Đền Đô – còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế, đền được xây
dựng vào thế kỷ 11 (1030), trên khu đất phía đông nam Hương Cổ Pháp, Châu
Cổ Pháp (làng Đình Bảng).
8
Đền Đô thuộc làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh. Đền là nơi thờ 8 vị vua nhà Lý: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009 –
1028); Lý Thái Tông (1028 – 1054); Lý Thánh Tông (1054 – 1072); Lý Nhân
Tông (1072 – 1128); Lý Thần Tông (1128 – 1138); Lý Anh Tông (1138 –
Bước qua Ngũ Long Môn (cổng tam quan với năm hình rồng chạm đá
tinh xảo) là một sân rộng, nơi đặt lư hương hướng vào nhà phương đình bày
hương án với đôi voi đá cỡ lớn chầu trung tâm.
Tiếp giáp với phương đình là nhà tiền tế – nơi diễn ra các đại lễ long
trọng đồng thời cũng là nơi trưng bày chiêng trống, đồ tế khí, nghi trượng …
Với một cảnh quan rộng lớn, được chia thành các biệt khu, đền Đô
mang lại cho khách hành hương nhiều cảm giác khác nhau: đại điện hoành
tráng, hậu cung trang nghiêm, thủy đình thư thái, văn bia tịch mịch. Xen lẫn
trong gió là mùi hương trầm ấm áp, hương ngọc lan thoang thoảng, đưa ta vào
cõi suy tưởng về một triều đại anh hùng với những võ công văn trị kiệt xuất
với tư tưởng Phật giáo từ bi.
Ngoài những giá trị văn hóa, lịch sử, đền Đô là một công trình kiến trúc
đặc sắc với nghệ thuật điêu khắc đá (rồng, voi, ngựa, lân), điêu khắc gỗ (lân,
chạm lộng hình rồng, họa tiết trang trí), tạc tượng thờ và xây dựng (hệ thống
cột trụ, mái đao) đều đạt ở mức tinh xảo.
Nhà tiền tế rộng 7 gian (220m2) có điện thờ vua Lý Thái Tổ. Phía bên
trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với
214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải có treo
tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt.
Cổ Pháp điện gồm 7 gian, rộng 180m2 là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng
của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gian
bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gian
bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông.
Ngoại thất gồm nhà vuông, kiến trúc kiểu chồng diêm tám mái, 8 đầu
đao cong vút mềm mại. Khu vực này có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và
đền vua bà (thờ các hoàng thái hậu triều Lý).
Thủy đình dựng trên hồ bán nguyệt, rộng 5 gian, có kiến trúc chồng
diêm 8 mái, 8 đao cong. Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu
10
tỉnh xuống đến các cấp huyện/thị xã, xã/phường, thôn/khu dân cư. Về phương
diện chuyên biệt tổ chức tương ứng sẽ là BQL di tích cấp tỉnh, phòng Văn hóa
- Thông tin huyện/thị xã, BQL di tích cấp xã/phường, BQL di tích ở di tích cụ
thể. Trong những năm qua, Bắc Ninh đã thu được những hiệu quả tích cực
trong cơ chế phối hợp thống nhất, tiêu biểu là đền Đô - đây là đơn vị đạt hiệu
quả cao từ việc phối hợp hợp lý, phát huy được vai trò của các BQL các cấp.
2.1.2 Về mô hình quản lý
Mô hình mang tính chất cộng đồng tự quản: Ở các BQL trực tiếp tại các
di tích về nguyên tắc, chính quyền và người dân cùng tham gia thực hiện việc
quản lý đối với các di tích được Nhà nước công nhận xếp hạng. Thành phần
tham gia BQL di tích địa phương có đại diện chính quyền xã, thôn chủ yếu
giữ vai trò giám sát, còn việc quản lý di tích là do cộng đồng với thành phần
12
gồm hội người cao tuổi của các thôn, xóm, hội phụ nữ, đoàn thanh niên...đảm
nhiệm. Vai trò tự quản được thể hiện ở tất cả các khâu từ chăm nom, bảo vệ di
tích, giữ gìn cảnh quan môi trường, tiến hành những tu sửa nhỏ, đến các công
việc như lên kế hoạch, lập nội dung và tổ chức lễ hội, cúng tế các ngày tuần
sóc vọng, quản lý các nguồn thu - chi, giữ gìn an ninh trật tự, trông giữ xe
máy, xe đạp, ô tô cho du khách…
BQL di tích đền Đô: Đây là mô hình tiêu biểu về quản lý di tích có hiệu
quả. BQL di tích đền Đô trực thuộc BQL di tích phường Đình Bảng, hoạt
động theo nhiệm kỳ 3 năm. Việc lựa chọn nhân sự cho BQL được tiến hành
theo quy chế dân chủ. Từ mỗi khu phố, thông qua hội nghị toàn thể của hội
người cao tuổi sẽ tiến cử từ 5 - 6 hội viên tham gia BQL di tích. Tiêu chuẩn để
lựa chọn những người này là những người có sức khỏe, có tài đức, tâm huyết,
là các gia đình nề nếp, không có con cháu vướng vào tệ nạn xã hội. Lựa chọn
được tổng số nhân sự khoảng 80 người, sẽ tổ chức Hội nghị toàn thể cho các
Trong quản lý di tích lịch sử văn hóa, nguồn nhân lực tham gia quản lý
các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn được phân công. Hiện nay theo sự
phân cấp, nhân lực quản lý di tích ở Bắc Ninh bao gồm: đội ngũ cán bộ của
BQL di tích tỉnh, các BQL trực tiếp tại di tích, cán bộ phòng Văn hóa Thông
tin ở các huyện, thị xã và một số bộ phận khác có liên quan.
Đội ngũ cán bộ BQL di tích tại địa phương: Thành phần tham gia gồm
đại diện chính quyền địa phương cấp xã, thôn và đại diện cộng đồng. Qua
khảo sát thực tế cho thấy về trình độ của đội ngũ này là không thống nhất,
không đồng đều: Ở nhiều di tích, thành phần BQL gồm nhiều cán bộ nhà
nước nghỉ hưu, nhiều người có học hàm, học vị thuộc các chuyên ngành khác
nhau. Trường hợp như ở BQL di tích đền Đô: Ban thường vụ là các cụ có
trình độ học vấn cao, khi tham gia công tác xã hội có địa vị nhất định;
Ngoài ra, một thành phần rất quan trọng góp phần vào thành công trong
quản lý di tích đó là cộng đồng, những người gắn bó chặt chẽ với các di tích.
Trang bị những kiến thức về di sản cho cộng đồng cũng chính là việc đầu tư
cho "nguồn vốn" con người tại chỗ trực tiếp bảo vệ di tích Đối với các đối
tượng này, hình thức chủ yếu là tuyên truyền, vận động và trang bị cho họ
14
những hiểu biết về DSVH của quê hương, từ đó hình thành ý thức và thu hút
họ tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ di tích.
2.3. Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn
hóa đền Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh
Trong những năm qua, hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở di
tích lịch sử văn hóa đền Đô đã được thực hiện theo các nội dung cụ thể quy
định tại Điều 54 của Luật Di sản văn hóa. Trong quá trình nghiên cứu về hoạt
động quản lý di tích ở đây, tiểu luận đi sâu nghiên cứu tập trung những nội
dung nổi bật nhất thể hiện được vai trò, chức năng của các cơ quan quản lý,
lòng sông, hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước mưa, hệ thống
thoát nước thải, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống điện, công viên cây xanh,
cảnh quan và hệ thống thu gom rác thải.
Việc xây dựng năm cầu qua sông Tiêu Tương, trong đó có một cầu loại
số 1 và bốn cầu loại số 2; xây dựng hệ thống thoát nước, hệ thống nước thải
của các hộ dân được xử lý cơ học... cũng là các hạng mục của dự án.
Ngày 28/3/2016, hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Hợp đồng BT) Dự
án đầu tư xây dựng tôn tạo khu di tích Đền Đô và Sông Tiêu Tương đã được
ký kết tại tỉnh Bắc Ninh, giữa hai đơn vị là Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh và
Liên danh HAB. Dự án đầu tư xây dựng Tôn tạo khu di tích Đền Đô và Sông
Tiêu Tương rộng 40ha. Dự án Tôn tạo khu di tích Đền Đô và Sông Tiêu
Tương nhằm hình thành khu du lịch tâm linh sinh thái ở phường Đình Bảng,
khai thác di tích sẵn có tạo thành mạng lưới du lịch từ Đền Đô – Khu sơn
Lăng cấm địa – Khu du lịch Đền Đầm, thu hút khách du lịch, góp phần thực
hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh.
16
2.3.1.2. Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích
Việc trùng tu, tôn tạo nhằm bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa hiện nay
được thực hiện bằng các kế hoạch cụ thể theo kế hoạch ngắn hạn hàng năm và
các kế hoạch trung, dài hạn.
Năm 2007, kế hoạch Quản lý, bảo tồn và phát huy di tích lịch sử cách
mạng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2010 được phê duyệt. Mục
tiêu của đề án là tăng cường sự quản lý, đầu tư tu bổ, tôn tạo, bảo tồn để phát
huy giá trị di tích góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc Bắc Ninh - Kinh Bắc. Trong đề án nêu rõ nhiệm vụ:
1/Về quản lý di tích: tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đầu tư thỏa đáng
cho việc quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng,
3/Vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ DSVH. 4/Luật Di sản
văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. 5/Các văn bản dưới luật
như các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị…có liên quan đến DSVH; 6/Các văn
bản do UBND tỉnh, Sở VHTTDL ban hành về di tích lịch sử văn hóa như Quy
chế quản lý và sử dụng di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh, Quy định về
quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh…Cán bộ giảng dạy
tại các lớp tập huấn thường là lãnh đạo của Sở VHTTDL, Phòng Di sản văn
hóa, lãnh đạo BQL di tích tỉnh. Ngoài ra, BQL di tích còn mời các chuyên gia
của Cục Di sản văn hóa, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực di sản… tham gia
nói chuyện, cập nhật các thông tin về DSVH. Tại các lớp tập huấn, các gương
tiêu biểu trong công tác quản lý di tích được mời để làm báo cáo điển hình
như trường hợp BQL di tích đền Đô.
Thời gian tổ chức các lớp tập huấn thường từ 2 - 3 ngày, trong đó có 1
ngày phổ biến, hướng dẫn các nội dung theo văn bản của nhà nước liên quan
đến DSVH, 1 ngày dành cho các đại biểu tham quan thực tế tại một điểm di
tích cụ thể.
Ngoài ra, tại di tích lịch sử văn hóa đền Đô còn tổ chức được các buổi
nói chuyện, sinh hoạt tập thể, mở các cuộc vận động tuyên truyền, quán triệt
pháp luật về bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giới thiệu về lịch sử, giá trị của di
18
tích ở địa phương. Từ đó hình thành được ý thức trách nhiệm của mỗi người
dân đối với việc bảo vệ, giữ gìn các di tích nơi mình đang sinh sống, khơi dậy
được lòng trân trọng của cộng đồng đối với các DSVH của địa phương.
2.3.3. Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn
và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
2.3.3.1. Hoạt động bảo tồn di tích
Nội dung quan trọng của hoạt động quản lý là phải tiến hành các hoạt
động cần thiết để duy trì, bảo vệ các DSVH này. Trên thực tế cho thấy, hiệu
quan chuyên môn, nhiều vi phạm chưa được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp
thời. Có trường hợp, do không nhận thức được giá trị cũng như thiếu căn cứ
khoa học trong công tác bảo tồn nên đã xảy ra việc sửa chữa, tôn tạo di tích
một cách tùy tiện, sai lệch, phá vỡ cảnh quan, làm biến dạng di tích, thậm chí
còn phá hỏng yếu tố gốc của di tích. Nhiều di tích bị “thay hình đổi dạng”
việc thay đổi vật liệu xây dựng từ gỗ chuyển sang hoàn toàn bằng bê tông, để
mái bê tông, tượng cổ bị thay thế bằng tượng mới hoặc sơn thếp lòe loẹt…
2.3.3.3. Hoạt động phát huy giá trị di tích
Di tích lịch sử, văn hóa đền Đô đã tổ chức xây dựng đội ngũ thuyết
minh riêng phục vụ cho khách tham quan. Di tích có đội ngũ thuyết minh
phục vụ du khách có hiệu quả, tổ hiện có 05 người, tổ trưởng là Anh hùng lao
động, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đức Thìn. Tổ thuyết minh đảm nhận việc
giới thiệu về khu di tích cho tất cả các đoàn khách nếu có nhu cầu đăng ký
hướng dẫn. Vào thời điểm của mùa lễ hội (từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch),
đền Đô thu hút lượng du khách rất lớn, tổ thuyết minh đảm nhận từ 20 - 30
đoàn khách mỗi ngày. Nội dung thuyết minh được BQL kiểm duyệt, bổ sung
thường xuyên, hàng năm có kiểm tra, bồi dưỡng, tập huấn về các kiến thức
DSVH, nội dung giá trị của khu di tích cho đội ngũ thuyết minh này. Theo
nhận xét, đánh giá của bà Đỗ Thị Thủy - Phó giám đốc BQL di tích Bắc Ninh:
“Tổ thuyết minh hoạt động có chất lượng, nhiều năm liền là gương tiêu biểu
cho các đơn vị khác học hỏi kinh nghiệm. Nhiều đoàn khách của tỉnh, các sở
20
ban ngành sau khi tham quan xong đều có phản hồi tích cực về đội ngũ thuyết
minh này”.
BQL di tích tỉnh cũng phối hợp với BQL di tích đền Đô tổ chức lễ dâng
hương đêm giao thừa tại di tích; lễ xin lửa truyền thống tại đền Đô cho khai
mạc Festival văn hóa Bắc Ninh; tổ chức các lễ dâng hương, báo công học tập
tới học tập, thăm quan, tìm hiểu về các di tích ở địa phương
Học sinh Lâm Thu Thủy, lớp 4G, trường Tiểu học Cát Linh đã viết ra
những cảm nghĩ của mình sau buổi tham quan, học tập ngoại khóa tại đền Đô:
“Nghe cô thuyết minh kể chuyện, chúng em như sống lại thời kỳ oanh liệt của
các vị vua trước đây. Công lao của các nhà vua thật to lớn đã đóng góp vào
công cuộc dựng nước và giữ nước. Chúng em càng thêm thấm thía truyền
thống anh hùng dân tộc của cha ông ta xưa kia. Em thật tự hào là người Việt
Nam - đất nước có truyền thống anh hùng bất khuất. Em hứa sẽ cố gắng học
tập thật tốt để xứng đáng là con cháu của các vị vua anh hùng.” [Nguồn:
website www.catlinhschool.edu.vn].
Việc giới thiệu, quảng bá về di tích cũng được chính quyền địa
phương, BQL di tích tiến hành in ấn, xuất bản các cuốn sách, các tờ gấp…
giới thiệu về di tích, lễ hội tại di tích tiêu biểu như cuốn Di tích đền Đô,
Lễ hội đền Đô,…
2.3.5. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học về di tích
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý trước hết phải hiểu về di tích, điều
đó cũng có nghĩa muốn quản lý tốt đối tượng ta phải hiểu đối tượng mà mình
cần quản lý, muốn làm được như vậy thì việc nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng
ấy phải được thực hiện một cách thật thấu đáo, kỹ càng trên tất cả các mặt,
các khía cạnh. Việc nghiên cứu để nhận biết, phân loại giá trị các di tích, nhận
thức những mặt tiêu biểu và những nét tiềm ẩn, đề ra hướng bảo vệ, phát huy
tác dụng di tích một cách tích cực nhất. Việc tổ chức các hoạt động nghiên
cứu khoa học phục vụ cho quản lý, bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa
được tiến hành dưới một số hình thức sau:
22
- Phối hợp tổ chức các hội thảo chuyên ngành về di tích lịch sử văn
thể giới thiệu quảng bá hình ảnh về di tích. BQL di tích đền Đô cũng đã tiến
hành tìm hiểu, thu thập tư liệu và xuất bản một số ấn phẩm về di tích như Di
tích lịch sử văn hóa đền Đô (Nguyễn Đức Thìn).
2.3.6. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực
để bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Việc huy động các nguồn lực ở đây chủ yếu đề cập đến vấn đề kinh phí,
vật lực được đầu tư cho hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích. Hiện nay việc tu bổ,
tôn tạo di tích được thực hiện chủ yếu bằng hai nguồn: Thứ nhất, thông qua
sự hỗ trợ của nhà nước, kinh phí theo chương trình mục tiêu quốc gia, chống
xuống cấp di tích; Thứ hai, huy động các nguồn lực từ cộng đồng (khoản tài
trợ, công đức và các khoản thu khác) - đây là hình thức xã hội hóa hoạt động
bảo tồn di tích.
Vai trò của cộng đồng trong việc tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di
tích được thể hiện rõ nét, điển hình nhất là trường hợp khôi phục, tôn tạo khu
di tích các vua nhà Lý ở Đình Bảng, Từ Sơn gồm đền Đô, chùa Ứng Tâm,
chùa Kim Đài, chùa Quang Đổ… Những di tích này bị thời gian, chiến tranh
làm xuống cấp thậm chí bị phá hủy hoàn toàn. Đền Đô - nơi thờ tám vị vua
Lý, trước khi được nhà nước ra quyết định xếp hạng chỉ còn là bãi đất trống
và một tấm bia “Cổ Pháp điện tạo bi”, niên đại 1604 do Hoàng giáp Phùng
Khắc Khoan soạn ghi lại việc nhà Lê cho xây dựng lại đền Đô. Được sự quan
tâm, ủng hộ của chính quyền địa phương, người dân Đình Bảng cùng khách
thập phương đã đồng lòng nhất trí ủng hộ tiền bạc, công sức để xây dựng lại
đền Đô. Theo thống kê vào thời điểm những năm 1989 thì trong khoảng
thời gian 5 năm, nhân dân Đình Bảng và khách thập phương đã công đức
bằng tiền mặt và hiện vật, công sức lao động để tu bổ, tôn tạo những di
tích lịch sử văn hóa trên quê hương của các vị vua nhà Lý trị giá gần 6 tỷ
đồng... Qua nhiều lần tu bổ, kinh phí xây dựng đền Đô là rất lớn, đến nay
đã lên tới hàng trăm tỷ đồng, trong đó kinh phí hỗ trợ của nhà nước (gồm
kinh phí hỗ trợ của Bộ VHTTDL, UBND tỉnh Bắc Ninh, của các bộ, ban,