Quần thể di tích lịch sử văn hóa phố hiến thị xã hưng yên (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
----------***___▼▲▼___***---------

TRẦN THỊ MINH AN

QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
PHỐ HIẾN - THỊ XÃ HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60 31 60

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. NGUYỄN QUANG NGỌC

HÀ NỘI - 2009


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như dòng chảy quanh co bên bồi bên lở của sông Hồng, thương cảng Phố Hiến
xưa - thị xã Hưng Yên ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm thịnh suy. Một
thương cảng sầm uất bậc nhất của Đàng Ngoài thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII
với cảnh đông vui trên bến dưới thuyền, với những khu phố tấp nập kẻ bán người mua
đã bị vùi sâu dưới lớp lớp phù sa. Một Hưng Thành được xây dựng kiên cố với tư cách
lị sở hành chính thế kỷ XIX cũng đã biến mất chỉ còn để lại những phế tích và địa
danh cổ. Năm tháng đã phủ bụi mờ lên nhiều trang sử của miền đất này. Nhưng vẫn
còn đó một quần thể di tích (QTDT) đa dạng về loại hình, đặc sắc về kiến trúc với vẻ
đẹp độc đáo của tập quán tín ngưỡng và lễ hội dân gian tồn tại trên các phố phường.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, thị xã Hưng Yên hiện còn trên 130 di tích phân

tranh và đặc biệt là bàn tay con người, QTDT Phố Hiến – Hưng Yên - nguồn sử liệu
trực tiếp để nghiên cứu về tiến trình lịch sử văn hóa của vùng đất này đang đứng trước
nhiều nguy cơ. Nhiều di tích đã bị phá huỷ hoàn toàn không còn dấu vết, nền móng
cũng bị vùi lấp trong cát. Những di tích còn lại chủ yếu là các công trình công cộng,
trong đó nhiều di tích đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Cổ vật bị hư hại,
thất lạc và trộm cắp. Một số công trình đang bị sụp đổ từng bộ phận. Một số đã được
trùng tu nhưng không đúng cách dẫn đến kiến trúc cổ bị biến dạng, không gian di tích
bị trần tục hoá. Tính thiêng cũng như những giá trị tâm linh khác của di tích cũng theo
đó mà bị biến đổi, mất đi bản sắc ban đầu. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn tư liệu vô
giá đối với việc nghiên cứu tiến trình lịch sử của vùng đất này đang bị mai một, thậm
chí có nguy cơ biến mất hoàn toàn. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần khẩn trương nghiên
cứu chuyên sâu về lịch sử, văn hóa Phố Hiến – Hưng Yên một cách toàn diện và khoa
học ngay từ hôm nay.
Mặt khác, nghiên cứu về lịch sử vùng đất Phố Hiến – Hưng Yên còn cung cấp
những hiểu biết căn bản và tổng thể giúp ích cho chính sự nghiệp bảo tồn, tôn tạo và
phát huy giá trị của QTDT lịch sử - văn hóa tại đây. Trong tình hình thị xã Hưng Yên
đang đô thị hóa mạnh mẽ để chuyển mình thành thành phố, vấn đề này càng có ý nghĩa
quan trọng. UBND thị xã Hưng Yên đã và đang tiến hành xây dựng một đề án tổng thể
nhằm nâng cấp thị xã thành thành phố tương lai với những quy hoạch đồng bộ về cơ
sở hạ tầng. Diện mạo đô thị đang có những thay đổi nhanh chóng. Một đô thị Hưng
Yên hiện đại đang dần hình thành và phát triển mạnh mẽ bên cạnh một Phố Hiến cổ
kính với QTDT lịch sử văn hóa đặc sắc. Vấn đề mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển
đang đặt ra bức thiết. Quy hoạch mặt bằng tổng thể phát triển thị xã trong tương lai
phải giải quyết được bài toán đô thị hoá, phải tạo ra được sự đối thoại uyển chuyển,
hài hoà giữa di sản kiến trúc truyền thống và các công trình hiện đại, cao tầng. Thực tế
đó càng đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho công cuộc nghiên cứu QTDT. Cần phải nhanh
chóng tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể dựa trên những khảo cứu nghiêm túc,
toàn diện và tỉ mỉ, đảm bảo cung cấp những căn cứ khoa học để xây dựng quy hoạch
đô thị mới vừa hiện đại, vừa bảo tồn được QTDT lịch sử văn hóa truyền thống.


chép này rất sơ lược, chủ yếu chỉ phản ánh chính sách của chính quyền chúa Trịnh đối
với thương thuyền nước ngoài, ghi chú về việc chúa Trịnh cho phép các thương nhân
Hoa kiều, Nhật Bản và phương Tây lưu trú và lập hội quán, thương điếm tại Phố Hiến.
Dưới triều Nguyễn, Phố Hiến được ghi chép chi tiết hơn trong nhiều bộ địa chí lớn.
Phan Huy Chú trong phần Dư địa chí của bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương
loại chí có mô tả về địa thế của Phố Hiến trong phần ghi chú về phủ Khoái Châu, trấn


Sơn Nam. Mặc dù còn rất sơ lược song Phan Huy Chú đã cho biết một chi tiết quan
trọng là vùng Phố Hiến – bãi Xích Đằng là địa bàn then khóa, kho lưu trữ của các đời
và ghi chú về các sở đánh thuế tuần ty trên sông Xích Đằng (đoạn sông Hồng chảy qua
Phố Hiến).
Đại Nam nhất thống chí phần viết về tỉnh Hưng Yên cũng có ghi chép Phố Hiến là
nơi đặt trị sở cũ của trấn Sơn Nam. Các bến đò ngang, đò dọc trên đoạn sông Hồng
chảy qua Phố Hiến cũng được liệt kê tỉ mỉ cùng với hệ thống chợ tại Phố Hiến và các
khu vực xung quanh. Những chi tiết trên sẽ góp phần giúp người nghiên cứu hình dung
về một Phố Hiến xưa với hoạt động của các sở thu thuế, hệ thống chợ buôn bán và
phương thức vận chuyển hàng hóa. Đồng thời, thông tin ghi chép trong bộ địa chí này
cũng là sử liệu trực tiếp để nghiên cứu và lịch sử vùng đất Hưng Yên thế kỷ XIX – giai
đoạn hậu Phố Hiến.
Thành tỉnh Hưng Yên – Hưng Thành xây dựng đời Minh Mạng cũng được mô tả
trong Đại Nam nhất thống chí cùng với bản liệt kê chợ, phố, cầu, bến, đường đê, một
số di tích tiêu biểu và địa điểm đặt lỵ sở các huyện Kim Động, Tiên Lữ. Đây là sử liệu
quan trọng để hình dung về diện mạo của đô thị hậu Phố Hiến, từ đó nhận định về sự
suy tàn của thương cảng Phố Hiến, so sánh để thấy sự chuyển biến của Phố Hiến từ
một đô thị thương cảng sang một đô thị hành chính vào thế kỷ XIX.
Cuối XIX, đầu XX, nhiều bộ địa chí chuyên khảo về Hưng Yên đã ra đời. Đáng kể
tới là các bộ địa chí Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược, phần Hưng Yên tỉnh (Quốc
sử quán triều Nguyễn); Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, Tỉnh Hưng Yên – La Pronvince
de Hungyen (Tiếng Pháp, khuyết danh); Hưng Yên địa chí (Trịnh Như Tấu). Các bộ

nhiều hơn. Phố Hiến đã được nhắc đến và đánh giá trong những công trình nghiên cứu
về ngoại thương Việt Nam như Ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, đầu XIX
(Thành Thế Vỹ, Hà Nội, 1961), Tình hình công thương nghiệp Việt Nam trong thời Lê
Mạt (Vương Hoàng Tuyên, Hà Nội, 1959) cũng như các công trình nghiên cứu về đô
thị Việt Nam như Đô thị cổ Việt Nam (Viện sử học, Hà Nội, 1989).
Bên cạnh những nghiên cứu về Phố Hiến thông qua khảo cứu nguồn thư tịch và
văn bia, nhằm tiến tới hiểu biết toàn diện và sâu sắc hơn nữa về Phố Hiến, công tác
điều tra và khai quật khảo cổ học cũng đã bước đầu được tiến hành. Năm 1968, trường
Đại học Sư phạm I đã hai lần đào thám sát khu thương điếm ngoại quốc ở Hiến Hạ.
Tiếp theo, năm 1989, khai quật khảo cổ học tại khu Văn Miếu Xích Đằng đã phát hiện
phế tích lò gốm và chồng bát kết dính có niên đại thế kỷ XVII, cho thấy khu vực này
là nơi sản xuất gốm thủ công của thương cảng Phố Hiến khi xưa.
Năm 1992, trước thềm Hội thảo khoa học về Phố Hiến, Sở Văn hóa Thông tin Hải
Hưng đã đào thám sát và tiến hành khai quật một số hố. Kết quả đã phát hiện được một
số dấu tích lò gốm, nền kiến trúc cổ, gạch ngói, gốm sứ Việt Nam và nước ngoài có
khung niên đại thế kỷ XVII-XVIII. Đặc biệt, kết quả khai quật còn thu được những di
vật có niên đại sớm hơn như mảnh gốm Trần (thế kỷ XIII-XIV), chân đèn Mạc (thế kỷ
XVI)…Những di vật này cho phép hình dung phần nào về lịch sử của vùng đất này
giai đoạn tiền Phố Hiến. Ngoài ra, cũng trong năm này, Bảo tàng tỉnh Hải Hưng kết
hợp với một số nhà khoa học đã tiến hành đợt điều tra tổng thể di sản văn hoá vật thể


khu vực Thị xã Hưng Yên lần đầu tiên. Kết quả là đã thống kê được 60 di tích trên địa
bàn thị xã, trong đó có 24 đền miếu, 1 hội quán, 17 chùa, 1 nhà thờ thiên chúa giáo, 10
đình, 1 nhà dòng, 2 nhà thờ họ, 1 nghĩa địa người nước ngoài, 1 văn miếu, 1 võ miếu,
1 chợ [69, 89].
Năm 1990, hội thảo khoa học về đô thị cổ Hội An được tổ chức với sự tham gia
của đông đảo học giả, các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Bên cạnh những
nghiên cứu chuyên sâu về Hội An, Phố Hiến cũng được đề cập đến trong các tham
luận nghiên cứu về quan hệ thông thương giữa Hội An với các địa phương trong nước

phường xã, thương điếm trong cơ cấu đô thị của thương cảng Phố Hiến.
Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật cũng đăng tải một số chuyên khảo về Phố Hiến. Đáng
chú ý là hai bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng (2001) với “Sông Nhị Hồng với
Hưng Yên - một tiếp cận địa văn hoá” và tác giả Nguyễn Quang Ngọc (2001) với
“Sông Đàng Ngoài với vị thế Phố Hiến xưa”. Trong khi giáo sư Trần Quốc Vượng
làm sáng tỏ phần nào vị thế của vùng đất Phố Hiến – Hưng Yên dựa trên những nghiên
cứu tiếp cận từ khía cạnh địa văn hoá thì giáo sư Nguyễn Quang Ngọc lại đặt Phố Hiến
trong mối tương quan với tuyến sông Đàng Ngoài. Đây cũng là chuyên khảo đầu tiên
chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa Phố Hiến với hai cảng thị cũng nằm trên tuyến sông
này là Thăng Long và Domea (thuộc Hải Phòng ngày nay).
Với việc tiếp cận được một số bản đồ cổ được vẽ bởi các nhà du hành phương Tây
đã từng đến Đàng Ngoài trong thế kỷ XVI, XVII và nguồn tư liệu lưu trữ của công ty
Đông Ấn VOC tại Hà Lan, nghiên cứu về thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII đã đạt
được những thành tựu mới. Liên tục trong ba năm 2005 – 2008, hàng loạt bài viết của
nhóm tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Văn Kim, Đỗ Thuỳ Lan, Hoàng Anh Tuấn
liên tục xuất hiện trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Với những chuyên khảo “Vùng cửa
sông Đàng Ngoài thế kỷ XVI-XVII” (Đỗ Thùy Lan, 2005); “Công ty Đông Ấn Hà Lan
ở Đàng Ngoài” (2005), “Kế hoạch Đông Á và sự thất bại của Công ty Đông Ấn Anh ở
Đàng Ngoài thế kỷ XVII qua tư liệu phương Tây” (2005), “Mậu dịch tơ lụa của công
ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài 1637-1670” (2006), “Hải cảng miền Đông Bắc
và hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII qua các nguồn tư liệu phương Tây”
(2007) của tác giả Hoàng Anh Tuấn và các bài viết “Vị trí của Phố Hiến và Domea
trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVI-XVIII” (Nguyễn Văn Kim, 2007),
“Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII, XVIII” (Nguyễn Quang
Ngọc, 2007), bức tranh toàn cảnh về thương mại Đàng Ngoài được phục dựng khá rõ
nét. Hệ thống tuyến giao thương và vị trí của từng thương cảng cũng như mối quan hệ
buôn bán giữa Đàng Ngoài với Anh, đặc biệt là với Hà Lan được các tác giả khảo cứu
tỉ mỉ. Trong đó, vị thế của Phố Hiến được làm sáng tỏ hơn trên từng chức năng tuần ty
thu thuế, kiểm soát cũng như chức năng thương mại của nó. Tuy nhiên, từ những
nguồn tư liệu phương Tây, các tác giả nhận định về vai trò của Phố Hiến với nhiều

di tích. Qua đó, phác dựng diện mạo đô thị Phố Hiến theo từng thời kỳ lịch sử, làm rõ
nét hơn tiến trình lịch sử của vùng đất này không chỉ trong giai đoạn hưng thịnh của
thương cảng Phố Hiến thế kỷ XVII – XVIII mà còn phác dựng lịch sử giai đoạn tiền
Phố Hiến và hậu Phố Hiến.
Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn dựa trên những kết quả nghiên cứu về bức
tranh toàn cảnh của QTDT trong tương quan các điều kiện tự nhiên, xã hội sẽ cung cấp
thêm hiểu biết để các nhà quy hoạch, quản lý văn hoá đề ra các biện pháp bảo tồn, giữ
gìn hệ thống di tích này một cách hiệu quả trong quy hoạch thành phố tương lai.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn


Qua nghiên cứu QTDT lịch sử - văn hóa, góp phần phác dựng lại diện mạo đô thị
Phố Hiến cũng như tiến trình phát triển của Phố Hiến - Hưng Yên trong lịch sử.
Luận văn tiến hành theo phương pháp liên ngành, nghiên cứu QTDT lịch sử - văn
hóa trong mối quan hệ tổng thể với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nghiên cứu
di tích không tách rời khỏi các đặc trưng văn hóa dân gian của vùng. Từ đó, chúng tôi
Hưng Yên vọng đưa ra những giả thiết tổng hợp dựa trên những luận cứ khoa học về
các giai đoạn phát triển của Hưng Yên – Phố Hiến, đồng thời góp phần đề ra, kiến
nghị về phương pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích trong bối cảnh thị xã Hưng Yên
chuyển mình thành thành phố tương lai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của các ngành khoa học lịch
sử, văn hoá, bảo tồn, bảo tàng: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp
phỏng vấn, khảo sát thực địa, phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, thống kê, tổng
hợp…
Ngoài những phương pháp truyền thống và cơ bản trên, cần thiết phải sử dụng
phương pháp liên ngành, khu vực học trong nghiên cứu đề tài này bởi:
Di tích lịch sử văn hoá không tồn tại một cách tự thân, tự phát mà nó ra đời, phát triển
và được bảo tồn trên cơ sở tổng hoà các điều kiện tự nhiên, lịch sử, tín ngưỡng, văn
hoá trong một thời kỳ nhất định hoặc trong cả một chuỗi các giai đoạn phát triển

7.

Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2002), Tìm trong di sản
văn hoá Việt Nam: Thăng Long - Hà Nội, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.

8.

Phòng Quản lý Đô thị Thị xã Hưng Yên (2004), Bản đồ hành chính Thị xã Hưng Yên.

9.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đình – đền – chùa Đào Đặng.

10.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích chùa Chuông.

11.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Mẫu.

12.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Trần.

13.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đình An Vũ.

14.


22.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Đông Đô Quảng Hội.

23.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Chùa Phố.

24.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Võ Miếu.

25.

Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Thiên Hậu.


26.

Đỗ Bang (1991), “Dấu tích cảng thị Nước Mặn (Bình Định)”, Những phát hiện mới về
khảo cổ học, tr.193.

27.

Đỗ Bang (1992), “Phố cảng Thanh Hà và dấu tích phố cổ”, Những phát hiện mới về
khảo cổ học, tr.172 – 173.

28.


34.

Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1971), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn
Huệ, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.

35.

Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

36.

Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, NXB Văn
hoá Dân tộc, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội.

37.

Bộ Văn hoá Thông tin (2003), Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

38.

Laurent Burel (1996), “Hoạt động truyền giáo của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (18561883)”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 1, tr.21-31.

39.

Trần Bá Chí (1994), “Quá trình thông thương giữa Xích Đằng-Phố Hiến với Càn HảiPhù Thạch”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.210-214, Sở Văn hóa Thông tin-Thể
thao Hải Hưng.

40.



47.

Phan Đại Doãn, Trương Hữu Quýnh (1994), “Về sự suy tàn của PH”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Phố Hiến, tr.215-219, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.

48.

Nguyễn Đăng Duy (1993) , Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội.

49.

Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá, Bộ Văn
hoá - Thông tin, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội.

50.

Phạm Đức Dương (1998), Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt Hoa
trong lịch sử, NXB Thế giới, Hà Nội.

51.

Hoàng Kim Đáng (1999), “Phố Hiến qua một tấm bản đồ cổ”, T/c Xưa và Nay, số 63,
tr.21-22.

52.

Nguyễn Đình Đầu (1991), “Quá trình hình thành và phát triển phố cổ Hội An”, Kỷ yếu
Đô thị cổ Hội An, tr.161-166, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.


59.

Vũ Minh Giang (1994), “Góp phần nhận diện Phố Hiến qua hai tấm bia”, Kỷ yếu hội
thảo khoa học Phố Hiến, tr.115-122,Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.


60.

Pierre Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

61.

Châu Hải (1994), “Người Hoa ở Phố Hiến trong mối quan hệ với người Hoa ở các đô thị
Việt Nam cùng thời kỳ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.202-209, Sở Văn hóa
Thông tin-Thể thao Hải Hưng.

62.

Nguyễn Duy Hinh (1994), “Thần điện Phố Hiến”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến,
tr.232-238, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.

63.

Diệp Đình Hoa (2000), Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội.

64.


70.

Hội Văn học Nghệ thuật Hưng Yên (2005), Văn hóa văn nghệ dân gian HƯNG YÊN –
đôi nét phác thảo, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

71.

Đỗ Đức Hùng (1997), Vấn đề trị thủy ở đồng bằng Bắc Bộ dưới thời Nguyễn (thế kỷ
XIX), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

72.

Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Vai trò của di sản văn hóa trong sự nghiệp phát triển ở
nước ta hiện nay”, T/c Di sản văn hóa, số 2, tr.13-19.

73.

Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, Ngô Đức Thọ dịch, tài liệu lưu tại Thư viện tỉnh Hưng
Yên.

74.

Nguyễn Thừa Hỷ, Phan Hải Linh (1999), “Quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và Việt
Nam thế kỷ XVI-XVII”, Hội thảo Quốc tế Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản thế kỷ XV-XVII
qua giao lưu gốm sứ, Hà Nội.


75.

Nguyễn Thừa Hỷ (1994), “Phố Hiến qua các nguồn tư liệu nước ngoài”, Kỷ yếu hội thảo

81.

Vũ Ngọc Khánh (1994), “Phố Hiến giữa vùng Folklore Sơn Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa
học Phố Hiến, tr.123-128, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.

82.

Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, NXB Xây dựng, Hà Nội.

83.

Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII
đến thế kỷ XIX, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội.

84.

Nguyễn Văn Kiệm (1995), “Họ Trịnh đối với các giáo sĩ phương Tây”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử, tr.229-240, Ban Nghiên cứu và biên soạn
lịch sử Thanh Hóa.

85.

Nguyễn Hồng Kiên (1991), “Bộ vì nóc của kết cấu nhà khung gỗ cổ truyền Việt Nam”,
T/c Văn hóa Nghệ thuật, số 97.

86.

Nguyễn Hồng Kiên (1996), “Kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam”, T/c Kiến trúc, số 3.

87.

cứu Lịch sử, số…, tr.45-52.

93.

Nguyễn Văn Kim (2007), “Vị trí Phố Hiến và Domea trong hệ thống thương mại Đàng
Ngoài thế kỷ XVI-XVIII”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr. …

94.

Hoàng Đạo Kính, Vũ Hữu Minh (1991), “Phân tích và đánh giá hiện trạng di tích kiến
trúc cổ Hội An”, Kỷ yếu Đô thị cổ Hội An, tr.341-360, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

95.

Hoàng Đạo Kính, Hoàng Minh Ngọc, Vũ Hữu Minh, Nguyễn Hồng Kiên (1991), “Một
số khuyến nghị về bảo tồn và sử dụng các di tích ở Hội An”, Kỷ yếu Đô thị cổ Hội An,
tr.361-374, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

96.

Hoàng Đạo Kính (2002), Di sản văn hoá bảo tồn và trùng tu, NXB Văn hoá - Thông tin,
Hà Nội.

97.

Sakurai Kiyohiko (1999), “Giao lưu văn hoá Đông Tây qua con đường tơ lụa trên biển”,
Hội thảo Quốc tế Quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XV-XVII qua giao lưu gốm sứ, Hà Nội.

98.


113. Charles Maybon (2006), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nguyễn Thừa Hỷ dịch,
NXB Thế giới, Hà Nội.
114. Phạm Quang Nghị, Lê Doãn Hợp, Đặng Văn Bài (2006), Một con đường tiếp cận di sản
văn hóa, NXB Thế giới, Hà Nội.
115. Nguyễn Đình Nhã (1994), “Cư dân và phong tục tập quán PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa
học Phố Hiến, tr.108-114, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
116. Nguyễn Đức Nghinh (1994), “Phố Hiến thế kỷ XVII-XVIII: Một số vấn đề kinh tế xã
hội”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.101-107, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao
Hải Hưng.
117. Nguyễn Quang Ngọc (1994), “Đôi nét về công ty Đông Ấn Hà Lan và thương điếm
PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.129-137, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao
Hải Hưng.
118. Nguyễn Quang Ngọc (2005), “Lê Hoàn và chiến thắng Bạch Đằng năm 981”, T/c
Nghiên cứu lịch sử, Số 6, tr.3-11.
119. Nguyễn Quang Ngọc (2007), “Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ
XVII – XVIII”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 10.
120. Lê Nguyễn (2004), Xã hội Đại Việt qua bút ký của người nước ngoài, NXB Văn Nghệ
Tp Hồ Chí Minh.
121. Nguyễn Danh Phiệt (1995), “Suy nghĩ về sự xuất hiện và vai trò của chúa Trịnh trong
lịch sử từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Trịnh vị
trí và vai trò lịch sử, tr 79-88, Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa.
122. Nguyễn Danh Phiệt (1990), Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
123. Phòng nông nghiệp và thủy văn huyện Tiên Lữ, Bản đồ HƯNG YÊN năm 1947.
124. Phòng Văn hoá - Thông tin Thị xã Hưng Yên (2004), Bản kiểm kê QTDT Phố Hiến - Thị
xã Hưng Yên, Hưng Yên.
125. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Duy Tiên (2005), Bản thống kê các cơ sở tôn giáo tín
ngưỡng huyện Duy Tiên, Hà Nam.



học phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chương trình KX.09, tr.156-163,
NXB Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.


143. Vũ Thanh Sơn (2001), Các vị thánh thần sông Hồng, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội.
144. Vũ Thanh Sơn (1994), Thiên sinh Thánh mẫu họ Đào, T/c Văn hóa Thể thao Hải Hưng,
Sở Văn hóa Thông tin Hải Hưng.
145. Sở Văn hoá Thông tin, Hội Văn học Nghệ thuật HƯNG YÊN (1998), Phố Hiến lịch sử văn hoá, HY.
146. Nguyễn Đức Tâm (1981), “Lịch sử hình thành các vùng đồng bằng ven biển Việt Nam”,
T/c Khảo cổ học, số 4, tr.1-9.
147. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1993), Chùa Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
148. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
149. Hà Văn Tấn (1998), “Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”, T/c Xưa&Nay, số 53, tr.5-7.
150. Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm (2003), Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông
thế kỷ XIII, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
151. Trịnh Như Tấu (1937), HƯNG YÊN địa chí, In tại nhà in Ngô Tử Hà, Hà Nội.
152. Lê Bá Thảo (2002), Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
153. Lê Bá Thảo (1994), “Những khía cạnh địa lý của vấn đề PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Phố Hiến, tr.30-35, Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao Hải Hưng.
154. Nguyễn Đức Thiềm (1983), “Tìm hiểu về cấu trúc gian vì kèo trong nhà ở truyền thống
của người Việt”, T/c Dân tộc học, số 2.
155. Nguyễn Thịnh (1994), “Văn bia chùa Chuông và bóng dáng Phố Hiến xưa”, Kỷ yếu hội
thảo khoa học Phố Hiến, tr.138-140, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
156. Ngô Đức Thọ (1994), “Đi tìm tư liệu bi ký về PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến,,
tr.55-59Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
157. Đặng Thu (1994), Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Trung tâm Nghiên
cứu dân số và phát triển, Hà Nội.
158. Cao Huy Thuần (2003), Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam
(1857-1914), NXB Tôn giáo, Hà Nội.
159. Chu Thuấn Thủy (1999), Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Hội

sử trên phương diện khảo cổ học”, T/c Khảo cổ học, số 4, tr.66-69.
177. Trịnh Cao Tưởng (1996), “Buớc đầu tìm hiểu về đồ gốm nước ngoài phát hiện ở các
thương cảng cổ Việt Nam”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 5, tr.56-61.
178. Trịnh Cao Tưởng (1991), “Tiếp xúc văn hoá ở Hội An nhìn từ góc độ kiến trúc”, Kỷ yếu
Đô thị cổ Hội An, tr.19-323, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
179. Trịnh Cao Tưởng (2007), Một chặng đường tìm về quá khứ, NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội.


180. A. de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Bản dịch Hồng Nhuệ, Uỷ Ban
đoàn kết Công Giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
181. UBND Thị xã Hưng Yên (2007), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội năm 2006, Phương hướng nhiệm vụ năm 2007, HY.
182. UBND Thị xã Hưng Yên (2008), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội năm 2007, Phương hướng nhiệm vụ năm 2008.
183. UBND Tỉnh Hưng Yên (2005), Hưng Yên 175 năm, Hưng Yên.
184. UBND Tỉnh Hưng Yên (2008), Đề án thành lập thành phố Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng
Yên, Hưng Yên.
185. Tạ Thị Hoàng Vân (2006), Di tích kiến trúc Hội An trong tiến trình lịch sử, Luận án tiến
sỹ lịch sử Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội.
186. Tạ Thị Hoàng Vân (2005), “Vật liệu trong kiến trúc cổ Việt Nam”, T/c Văn hoá Nghệ
thuật, số 5, tr.91-96.
187. Thành Thế Vỹ (1961), Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII-XVIII đầu thế kỷ XIX,
NXB Sử học, Hà Nội.
188. Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1990), Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
189. Viện Nghiên cứu Kiến trúc (1997), Kiến trúc và khí hậu nhiệt đới Việt Nam, NXB Xây
dựng, Hà Nội.
190. Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Tokyo (2006), Kỷ yếu hội
thảo khoa học Khu vực học - Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu, Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status