ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
PHỦ DẦY – NAM ĐỊNH
Nội dung đề tài:
Đề cương:
1. Lí do chọn đề tài
Trong dân gian vẫn lưu truyền câu: “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”.
Cha - Đức Thánh Trần; Mẹ - Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Hàng năm cứ đến tháng Ba
(Âm lịch), du khách ở khắp mọi miền đất nước lại về đất Kẻ Dầy xưa - Kim Thái
ngày nay để tham dự lễ hội.
Lễ hội Phủ Dầy nằm trong trục nghi lễ tháng tám giỗ Cha tháng ba giỗ Mẹ
của Đạo Mẫu nói riêng và trục lễ tiết Xuân thu nhị kỳ của lễ hội Việt Nam nói
chung. Gốc rễ của hệ thống lễ hội đó gắn bó chặt chẽ với hệ thống nghi lễ nông
nghiệp: Gieo cấy (mùa xuân) và thu hoạch (mùa thu). Sau này, do tiếp thu các
nhân tố lịch sử, xã hội và tôn giáo khác nhờ đó biến dạng đi nhiều và mang các sắc
thái phong phú, đa dạng như ngày nay. Lễ hội Phủ Dầy cũng như các lễ hội cổ
truyền khác, chứa đứng các giá trị nhân văn sâu sắc: Hướng về cội nguồn, biểu
dương và cố kết sức mạnh cộng đồng, thoả mãn và cân bằng nhu cầu đời sống tâm
linh, đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá. Do đó, tôi chọn đề
tài này nhằm hiểu sâu sắc hơn một quần thể di tích vùng đồng bằng sông Hồng
mang nhiều ý nghĩa lịch sử và được coi là bảo tàng sống của văn hoá Việt Nam
này.
2. Nội dung chính
2.1. Một vài nét về vùng đất địa linh văn hiến
2.1.1. Vị trí địa lý
Nam Định là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng “Dân cư đông đúc
như hình con Long”. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa cho rằng: Đây là
vùng đất văn hiến mà điểm sáng là vùng văn hóa Thiên Bản (Vụ Bản ngày nay) -
quan đến sự tích truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh, nằm trải đều trong một
không gian đẹp với cảnh quan nhiên nhiên phong phú, có núi sông xen kẽ đồng
ruộng màu mỡ.
Với vị trí nằm ở giao điểm của các trục đường lớn, quốc lộ 10, quốc lộ 21,
tỉnh lộ 56, tỉnh lộ 12, cách thành phố Nam Định không xa, chỉ hơn 10km, đường
đến Phủ Dầy bằng đường bộ rất thuận lợi.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Theo văn bia, sắc phong và những tài liệu cổ còn lưu giữ, Phủ Dầy được xây
dựng vào thời Lê Cảnh Trị (1663 - 1671). Ban đầu nơi đây chỉ là một ngôi miếu
nhỏ, sau đó nhân dân địa phương và khách thập phương công đức tiền của, sức lực
xây dựng thành một quần thể kiến trúc để thờ Mẫu và các bậc danh nhân như: Nam
Đế (tức Lý Bí) thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống giặc Lương thế kỷ thứ 6 lập nên
nước Vạn Xuân, Đình Lôi - tướng quân của Lý Bí, Nguyễn Minh Không - Ông Tổ
nghề đúc đồng…
Trải qua thời gian được trùng tu, tôn tạo, bổ sung, mở rộng, nâng cấp đến
nay thành một quần thể điện đài lộng lẫy, hoàn chỉnh, tương xứng với lòng ngưỡng
vọng Mẫu Liễu Hạnh trong tâm linh nhân dân.
Di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy gồm 2 ngôi Phủ lớn là Phủ Tiên Hương, Phủ
Vân Cát và Lăng Mẫu. Ngoài ra bao quanh mỗi Phủ là một hệ thống các đền, miếu.
Ban đầu, phủ Vân Cát là nơi bà Chúa sinh ra nên được coi là phủ chính. Nhưng về
sau, Phủ Tiên Hương được xây dựng với quy mô còn to lớn và cao đẹp hơn Phủ
Vân Cát do tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển đứng ra giúp người thôn Tiên
Hương xây dựng. Sau đó, tri huyện Vụ Bản là Trần Lê Quần quê ở Tiên Hương đã
giành cái tên Phủ chính về cho Tiên Hương. Còn lăng Mẫu được xây là nhờ một vị
vua triều Nguyễn. Vua Bảo Đại lấy vợ lâu không có con, hoàng hậu đến khấn ở
Đền Sòng, Thanh Hóa (1 đền khác thờ Thánh Mẫu) đã được Thánh Mẫu ban cho
hoàng tử Bảo Long. Để trả ơn Mẫu, nhà vua và Nam Phương Hoàng Hậu đã cho
nó là hương sắc của một tín ngưỡng bản địa thuộc Văn Lang - Đại Cồ Việt, Đại
Việt, Đại Nam với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
2.2.2. Huyền tích thánh Mẫu Liễu Hạnh
Quần thể di tích Phủ Dầy gắn liền với sự tích về Mẫu Liễu Hạnh. Phủ Dầy
nơi sinh ra Mẫu Liễu Hạnh và chính những huyền thoại về bà, về công đức của bà
đối với nhân dân đã tạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ đối với khách thập phương về với
Phủ Dầy. Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật văn hóa dân gian, vừa là Thần như sắc
phong, vừa là Thánh như dân phong, vừa là Phật, vừa là Tiên như sự tích, là biểu
tượng bất tử của tâm linh, tâm hồn, tình cảm, ý chí cao cả của người Việt Nam về
khát khao giải phóng phụ nữ, ca ngợi người phụ nữ Việt Nam, người mẹ Việt
Nam, là “Mẫu nghi thiên hạ”.
Căn cứ vào các nguồn tài liệu, sự tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì Bà có ba
lần sinh hóa. Lần thứ nhất vào năm 1434 (đầu thời Lê) là người tiên nữ Phạm Tiên
Nga xinh đẹp, giáng trần làm con gái của một gia đình nghèo. Nàng đầy nhân hậu,
rất hiếu nghĩa, tốt đẹp. Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên
Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Năm bà vừa tròn 40 tuổi, trời nổi cơn
giông, gió cuốn, mây bay. Bà đã hóa thân về trời. Mẫu giáng sinh giai đoạn thứ hai
vào thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557) tại thôn Vân Cát, xã An Thái, Huyện
Thiên Bản (nay là Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định), tạo nên sự tích thiêng liêng về
một tiên nữ vương vấn bụi trần. Sự tích giáng sinh lần thứ 3, sinh tại đất Tây Mỗ Nga Sơn - Thanh Hóa thời Lê Khánh Đức thứ 2 (1650), nàng lấy chồng, sinh con
nhưng về trời năm mới vừa tròn 18 tuổi. Ngoài ra còn nhiều giai thoại nói về người
tiên du ngoạn, khi ở Lạng Sơn, lúc về Hồ Tây vào Phú Đồi, Sòng Sơn, khi giáng
Phúc, lúc giáng họa.
Thực thực hư hư chuyện đời thường của Thánh Mẫu Liễu Hạnh không có sự
đặc sắc như Bà Trưng, Bà Triệu. Song lại hòa hợp với cuộc sống, được người đời
chấp nhận, tôn vinh là mẹ, được Triều đình nhà Nguyễn phong tặng “Mẫu nghi
thiên hạ”, khác chi một tượng đài văn hóa dân tộc.
Tâm thức dân gian tôn vinh Mẫu Liễu Hạnh trong hàng “Tứ bất tử” Việt
hồ và một sân rộng, có 3 toà nhà dàn hàng ngang hai tầng, tách mái đó là phượng
du nơi đón khách tới hành hương. Một hồ bán nguyệt có lan can thấp bao quanh,
có bình phong và hai cầu vượt đều bằng đá chạm khắc hình con rồng với móng
vuốt sinh động tinh xảo. Phủ có 4 lớp thờ (4 cung): đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ.
Các cung đều được tập trung các nghệ thuật chạm khắc tinh vi, thể hiện đủ các
mảng đề tài: rồng, phượng, hổ... Chính cung (cung đệ nhất) có một khám thờ khảm
trai, bề thế và tinh xảo. Đây chính là nơi đặt 5 pho tượng có giá trị mỹ thuật cao
của thế kỷ thứ 19.
Phủ Vân Cát được xây dựng trên khu đất rộng gần 1ha, mặt quay về hướng
tây bắc. Phủ Vân Cát hiện nay có 7 toà với 30 gian lớn nhỏ. Phía trước có hệ thống
cửa ngọ môn với 5 gác lầu; phía ngoài ngọ môn có hồ bán nguyệt, giữa hồ là nhà
thủy lâu, 3 gian, mái cong. Phủ Vân Cát cũng có 4 cung như ở phủ Tiên Hương.
Trung tâm là nơi thờ chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải là đền thờ Lý
Nam Đế.
Lăng Bà Chúa Liễu được xây dựng vào năm 1938. Lăng được xây dựng
bằng đá xanh, chạm trổ đẹp, với diện tích 625m 2, gồm có cửa vào lăng theo hướng
đông tây, nam bắc. Các cửa đều có trụ cổng trên đắp hình bông sen. Giữa lăng là
ngôi mộ khối bát giác, mỗi cạnh chừng 1m. Toàn lăng có 60 búp sen hồng trông xa
như một hồ sen cạn.
Di tích Phủ Dày có giá trị rất cao về trình độ kiến trúc nghệ thuật cuối thế kỷ
19 đến đầu thế kỷ 20. Đến với Phủ Dày vừa để thưởng ngoạn cảnh đẹp, vừa là dịp
Mẫu ban cho điều lành và sự may mắn.
2.3.3. Quần thể di tích Phủ Dầy và các hoạt động lễ hội
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa được xuất hiện lâu đời trong lịch sử trở
thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống mỗi người dân. Cuộc sống
hàng ngày khiến cho con người cảm thấy dồn nén, căng thẳng, họ đến lễ hội để cầu
sức khỏe, bình an, phát tài, phát lộc đơn thuần chỉ để thưởng thức những hình thức
nghệ thuật dân gian được hòa mình vào không khí náo nhiệt của nó. Hội hè là dịp
bằng hàng vạn quả bóng bay đồng màu đỏ, vàng, xanh. Ai đã từng chiêm ngưỡng
ba con rồng từ từ bay lên không trung sẽ cảm thấy lòng mình lâng lâng như được
thăng hoa. Nếu về Phủ Dầy chỉ cần gặp được đoàn rước la du khách cảm thấy như
mình gặp được điều may mắn, được chứng kiến khung cảnh hùng vĩ, hoành tráng
nhất so với bất kỳ đoàn rước nào của Lễ hội truyền thống trên đất nước Việt Nam.
Đó chính là vinh hạnh cho những ai về Lễ hội Phủ Dầy đúng dịp.
Ngoài ra, vào đêm mùng 5, còn có một cuộc rước đuốc khổng lồ của hơn
1000 tay đuốc từ Phủ Tiên Hương lên Tiên Sơn tự, một dòng đốm lửa bập bùng
chập chờn như không bao giờ dứt như có một sức mạnh diệu kỳ cuốn hút lòng
người vào chốn sâu thẳm của những niềm tin và khát vọng vĩnh hằng của con
người. Đó là những điều lành, thiện tâm, bác ái.
- Hội kéo chữ
Nghi thức Hoa trượng - xếp chữ có ở nhiều nơi, tuy nhiên không có ở đâu
mỹ tục này lại quy mô, hoành tráng và mang tính nghệ thuật cao như ở hội Phủ
Dầy. Đặc biệt, nghi thức này lại được gắn với sự tích Vương phi của Chúa Trịnh là
Trịnh Thị Ngọc Đài, người gốc Phủ Dầy, trước khi thi tuyển vào làm phi tần đã
cầu nguyện với Mẫu Liễu Hạnh và được như ý, được Chúa sủng ái phong cho chức
Vương Phi. Sau đó vào thời kỳ lũ lụt liên tiếp, bà đã có công lớn giúp đỡ đám dân
đi phu của làng Thiên Bản được trở về quê hương, cấp phát lương thực và sửa chữa
đê điều cho dân. Dân làng Người dân Thiên Bản mừng rỡ reo hò tạ ơn Vương phi,
Vương phi dặn họ phải vào phủ Dầy tạ ơn mẫu Liễu Hạnh vì nhờ Mẫu phù hộ mà
bà được chúa Trịnh yêu dấu. Về đến quê nhà, đám dân phu vào thẳng luôn phủ
Dầy tạ Mẫu Liễu Hạnh, mang theo luôn cả cuốc, thuổng và những công cụ đào đất.
Nhờ người cầm đầu khéo xếp đặt, những người dân phu đã xếp thành chữ: Thánh
Cung Vạn Tuế rồi cúi lạy trước sân phủ để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu.
Từ đó trở đi, hàng năm đến kỳ lễ hội, người dân lại tổ chức kéo chữ để nhớ
lại một tích truyện xa xưa. Qua thời gian, các nông cụ được cải tiến bằng gậy buộc
hoa, dây trang trí nhưng ý nghĩa văn hóa thì không thay đổi. Đó là đạo lý uống
tính dân gian kết hợp với lời ca tiếng nhạc của cung văn như múa chèo đò, hái hoa,
bắn cung, múa hèo, cưỡi ngựa,...
- Hội chợ Viềng
Đầu xuân về Phủ Dầy, ngoài việc được tham dự các lễ hội, các đám rước
mang nét văn hoá đặc trưng của vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, du khách còn
được tham dự một hội chợ lớn - chợ Phủ Dầy hay còn gọi là chợ Viềng xuân.
Chợ Viềng được tổ chức vào ngày mồng tám tháng giêng hàng năm. Song
cái thời khắc thiêng liêng nhất lại là đêm mồng bảy rạng ngày mồng tám. Đó là
thời khắc giao hoà giữa âm - dương, trời - đất. Theo quan niệm dân gian, lúc đó,
con người và thần linh mới có dịp gần nhau hơn và mọi điều cầu mong được thấu
hiểu hơn, mua bán lúc đó mới thật là may mắn. Chợ đêm mồng bảy còn được gọi
là "Chợ âm phủ". Người đi chợ Viềng xuân Vụ Bản, ngoài vui chơi đầu xuân cầu
may, còn mang theo tâm thức đến với Mẫu, cầu xin Mẫu ban phúc lộc, cầu cho
mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, gia đình an khang thịnh vượng. Họ mua, họ
bán chỉ để cầu mong được sự may mắn trong cả năm.
Chợ Viềng xuân thực sự là hội chợ đặc trưng của miền quê nông nghiệp giàu
sản vật, một loại hội chợ sinh động ngoài trời, trưng bày, giới thiệu, trao đổi những
sản phẩm nông nghiệp do người nông dân làm ra, nhất là những loại cây cảnh, cây
trồng đặc sản, cũng như những sản phẩm thủ công tinh xảo; từ đồ dùng sinh hoạt
đến công cụ lao động bằng đồng, bằng sắt; từ đồ tế tự đến đồ trang sức mỹ nghệ,
đồ chơi trẻ nhỏ,... Đặc biệt hơn cả, ai về chợ Viềng xuân cũng mua cho bằng được
thịt bê thui, coi đó là món quà chợ, lộc hội không thể thiếu được trong tâm thức
cầu may đầu xuân đi hội chợ Viềng.
2.4. Đánh giá sự khai thác quần thể di tích Phủ Dầy và Lễ hội phục vụ
phát triển Du lịch văn hóa
Lễ hội Phủ Dầy là một sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống phong phú,
sâu sắc,đậm đà bản sắc dân tộc và sắc thái văn hóa địa phương. Góp phần không
nhỏ làm phong phú cho nền văn hóa của dân tộc của quê hương. Chính vì vậy,
Sau hơn 10 năm khôi phục lễ hội Phủ Dầy, tuy còn không ít những hạn chế
trong khâu tổ chức, quản lý các di tích và lễ hội như trùng tu, tôn tạo tùy tiện, dâng
hương hoa, đốt vàng mã tràn lan…, nhưng về cơ bản đã khôi phục lại được một
quần thể di tích và lễ hội với quy mô lớn, hoành tráng với nhiều sắc thái văn hoá
độc đáo và lành mạnh, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, như nghị quyết của Đảng và Nhà nước đề ra.
3. Kết luận
Phủ Dầy với một quần thể kiến trúc phong phú đa dạng là một di sản quý giá
trong kho tàng văn hóa của đất nước. Các công trình xây dựng ở đây chủ yếu được
làm dưới triều Nguyễn nhưng có sự kết hợp hài hòa kiến trúc của nhiều địa
phương, trong đó có cả kiến trúc của kinh đô Huế để tạo nên một phong cách riêng
độc đáo. Cùng với đường giao thông hết sức thuận tiện nó đa đang thu hút khách
cả nước về hành hương. Đặc biệt là mùa xuân vào dịp Lễ hội nơi đây còn diễn ra
hoạt động văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc sẽ góp phần làm cho khách thập phương
thấy rõ được một vùng quê giàu truyền thống lịch sử và văn hóa đang trên đà đổi
mới.
Về với lễ hội Phủ Dầy, mỗi du khách còn có dịp phát tâm công đức vào việc
gìn giữ và phát huy những giá trị to lớn, vĩnh hằng trong tâm thức thờ Mẫu của
người dân đất Việt. Đồng thời cũng là cơ hội để du khách tham gia vào không gian
văn hóa mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và sắc thái văn hoá của địa phương. Đó
cũng chính là cách để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc.
"Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ'', mỗi dịp tháng ba về, dù bận đến mấy,
mỗi chúng ta hãy cố gắng về với nơi này để tìm cho mình sự thanh thản trong tâm
hồn, để được chia sẻ với trời đất, với người xưa, với người nay, để được hoà vào
những lễ nghi trang trọng, những hội hè tưng bừng mang đậm bản sắc văn hóa Việt
Nam, để có thêm tình yêu, niềm tin vào cuộc sống, có thêm sức mạnh vượt qua
mọi trở lực của cuộc sống đời thường.
4. Tài liệu tham khảo