Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Phố Hiến - thị xã Hưng Yên - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
***___▼▲▼___***

TRẦN THỊ MINH AN
QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
PHỐ HIẾN - THỊ XÃ HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60 31 60 LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. NGUYỄN QUANG NGỌC

HÀ NỘI - 2009


13
Vị trí địa lý
15
Đặc điểm tự nhiên vùng Phố Hiến – Hƣng Yên
Đặc điểm phát triển địa hình
18
18
Vùng đất được hình thành do sự bồi đắp của sông Hồng và tác động của hệ
thống đê sông.
18

Vùng đất chịu tác động mạnh mẽ do sự vận động đổi dòng của sông Hồng
21
Đặc điểm khí hậu
28
Đặc điểm thuỷ văn
30
Lịch sử phát triển vùng Phố Hiến – Hƣng Yên
34
Đặc điểm cƣ dân – văn hoá
37
Cộng đồng người Việt
37
Hoa Kiều và Nhật kiều
41
Khách thương phương Tây
46
Đặc điểm phát triển kinh tế
48
Tiểu kết

2.3.2. Đặc điểm quần thể di tích
81
2.4. Tiểu kết
89

CHƢƠNG 3: LỊCH SỬ PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN QUA HỆ THỐNG
CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

91
3.1. Giai đoạn tiền Phố Hiến - Vùng đất có vị trí chiến lƣợc về quân sự
91
3.1.1. Thời kỳ Hai Bà Trưng
91
3.1.2. Thế kỷ X
96
3.1.3. Thời Lý - Trần
106
3.2. Giai đoạn Phố Hiến - Vùng đất có vị trí trọng yếu trong hệ thống giao thƣơng
và truyền giáo
112
3.2.1. Vùng đất có vị trí trọng yếu trong hệ thống giao thương trong nước và quốc tế
112
3.2.2. Vùng đất quan trọng trong hành trình truyền giáo
122
3.3. Giai đoạn hậu Phố Hiến – Đô thị trung tâm hành chính thời Nguyễn
127
3.3.1. Sự suy tàn của thương cảng kinh tế
127
3.3.2. Sự hình thành đô thị trung tâm hành chính thời Nguyễn
133

nhà thờ Thiên Chúa giáo, nhà thờ họ, bia đá…Số liệu này cho thấy mật độ đậm
đặc và tính đa dạng của di tích lịch sử văn hóa trong khu vực.
Mỗi di tích đều tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với điều kiện địa – văn
hoá, địa – lịch sử của vùng đất nơi nó sinh ra. Nói cách khác, di tích không chỉ
đơn thuần là dấu vết của quá khứ mà nó còn là hệ quả, là chứng tích phản ánh
những biến thiên thăng trầm ở mỗi khu vực, mỗi địa phương. Quần thể di tích
lịch sử văn hóa Phố Hiến – Hưng Yên cũng không nằm ngoài quy luật chung
đó.
Sự vận động của các yếu tố tự nhiên, sự biến thiên của lịch sử văn hoá vùng
Phố Hiến – Hưng Yên đã tạo tiền đề cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của
hệ thống di tích tại đây. Ngược lại, chính hệ thống di tích lịch sử văn hóa lại là
nguồn sử liệu trực tiếp cung cấp cho ta những thông tin quan trọng để tìm về
quá khứ, làm sáng rõ và gắng kết các mảng vỡ lịch sử văn hóa, giúp ta hình
dung rõ nét hơn diện mạo và tiến trình phát triển của vùng đất này không chỉ
trong giai đoạn thịnh đạt của thương cảng Phố Hiến thế kỷ XVI-XVII.
2

Số lượng, sự phân bố, nét độc đáo trong kiến trúc, mối quan hệ giữa các di
tích và đặc biệt là sự phù hợp, thống nhất giữa truyền thuyết dân gian với điển
tích các nhân vật được thờ tự, địa danh cổ và tập quán, lễ hội dân gian xoay
quanh hệ thống di tích đã hé lộ nhiều điều về lịch sử phát triển của Phố Hiến –
Hưng Yên. Không chỉ nổi danh với tư cách là đô thị “thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì
Phố Hiến”, Hưng Yên còn là miền đất cổ có vị trí chiến lược với những đóng
góp lớn trong tiến trình phát triển chung của lịch sử đất nước qua nhiều thời kỳ.
Tuy nhiên, cho đến hiện nay, trọng tâm nghiên cứu về vùng đất này vẫn tập
trung vào giai đoạn thế kỷ XVI - nửa đầu XVIII với sự hình thành, hưng thịnh
và suy tàn của thương cảng Phố Hiến. Ngược lại, sự phát triển của vùng đất này

thành và phát triển mạnh mẽ bên cạnh một Phố Hiến cổ kính với QTDT lịch sử
văn hóa đặc sắc. Vấn đề mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển đang đặt ra bức
thiết. Quy hoạch mặt bằng tổng thể phát triển thị xã trong tương lai phải giải
quyết được bài toán đô thị hoá, phải tạo ra được sự đối thoại uyển chuyển, hài
hoà giữa di sản kiến trúc truyền thống và các công trình hiện đại, cao tầng. Thực
tế đó càng đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho công cuộc nghiên cứu QTDT. Cần phải
nhanh chóng tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể dựa trên những khảo cứu
nghiêm túc, toàn diện và tỉ mỉ, đảm bảo cung cấp những căn cứ khoa học để xây
dựng quy hoạch đô thị mới vừa hiện đại, vừa bảo tồn được QTDT lịch sử văn
hóa truyền thống.
Nghiên cứu về QTDT còn phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế địa
phương. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa với nhiều giá trị độc đáo là tiềm năng
lớn để thị xã Hưng Yên phát triển thương mại du lịch, tạo ra sự chuyển đổi
trong cơ cấu kinh tế. Di tích được bảo tồn, du lịch phát triển sẽ đem lại nguồn
lợi lớn cho ngân sách, người dân cũng được hưởng lợi nhiều hơn qua việc tham
gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch, các làng nghề truyền thống quanh khu
vực thị xã sẽ có cơ hội phục hồi. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế bền vững của thị xã – thành phố tương lai.
Tuy nhiên, để khơi dậy được tiềm năng đó, để thực sự biến di tích thành
nguồn lợi vật chất, phải bảo tồn được nét cổ, vốn cổ của mỗi di tích, phải hiểu
và trả lại cho di tích những giá trị đích thực của nó. Điều đó đòi hỏi những nỗ
lực nghiên cứu QTDT lịch sử - văn hoá thật sự nghiêm túc, công phu từ phía các
nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên và với tấm lòng tri ân của một người con
quê hương, chúng tôi đã chọn “Quần thể di tích lịch sử văn hóa Phố Hiến –
Hƣng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ Việt Nam học.
4

thuế, hệ thống chợ buôn bán và phương thức vận chuyển hàng hóa. Đồng thời,
5

thông tin ghi chép trong bộ địa chí này cũng là sử liệu trực tiếp để nghiên cứu và
lịch sử vùng đất Hưng Yên thế kỷ XIX – giai đoạn hậu Phố Hiến.
Thành tỉnh Hưng Yên – Hưng Thành xây dựng đời Minh Mạng cũng được
mô tả trong Đại Nam nhất thống chí cùng với bản liệt kê chợ, phố, cầu, bến,
đường đê, một số di tích tiêu biểu và địa điểm đặt lỵ sở các huyện Kim Động,
Tiên Lữ. Đây là sử liệu quan trọng để hình dung về diện mạo của đô thị hậu Phố
Hiến, từ đó nhận định về sự suy tàn của thương cảng Phố Hiến, so sánh để thấy
sự chuyển biến của Phố Hiến từ một đô thị thương cảng sang một đô thị hành
chính vào thế kỷ XIX.
Cuối XIX, đầu XX, nhiều bộ địa chí chuyên khảo về Hưng Yên đã ra đời.
Đáng kể tới là các bộ địa chí Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược, phần Hưng
Yên tỉnh (Quốc sử quán triều Nguyễn); Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, Tỉnh
Hưng Yên – La Pronvince de Hungyen (Tiếng Pháp, khuyết danh); Hưng Yên
địa chí (Trịnh Như Tấu). Các bộ địa chí này ngoài thông tin về một số di tích
tiêu biểu của Phố Hiến còn ghi chép một số cổ tích dân gian có liên quan đến
lịch sử vùng đất này giai đoạn Phố Hiến và giai đoạn hậu Phố Hiến. Thành tỉnh
Hưng Yên và các phố, phường hành chính của đô thị Hưng Yên nửa cuối XIX,
đầu XX cũng được liệt kê cùng với hệ thống chợ và bến đò ngang, đò dọc sông
Hồng.
Tất cả những công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc ghi chép về Phố Hiến
trên một số mặt với tư cách là những sử liệu quan trọng chứ chưa phải là những
công trình nghiên cứu về Phố Hiến.
Công trình mang tính chất nghiên cứu đầu tiên về Phố Hiến phải kể đến Les
comptoirs hollandais de Pho Hien ou Pho Khach, pres Hung Yen au XVII

Hà Nội, 1989).
Bên cạnh những nghiên cứu về Phố Hiến thông qua khảo cứu nguồn thư tịch
và văn bia, nhằm tiến tới hiểu biết toàn diện và sâu sắc hơn nữa về Phố Hiến,
công tác điều tra và khai quật khảo cổ học cũng đã bước đầu được tiến hành.
Năm 1968, trường Đại học Sư phạm I đã hai lần đào thám sát khu thương điếm
ngoại quốc ở Hiến Hạ. Tiếp theo, năm 1989, khai quật khảo cổ học tại khu Văn
Miếu Xích Đằng đã phát hiện phế tích lò gốm và chồng bát kết dính có niên đại
thế kỷ XVII, cho thấy khu vực này là nơi sản xuất gốm thủ công của thương
cảng Phố Hiến khi xưa.
Năm 1992, trước thềm Hội thảo khoa học về Phố Hiến, Sở Văn hóa Thông
tin Hải Hưng đã đào thám sát và tiến hành khai quật một số hố. Kết quả đã phát
hiện được một số dấu tích lò gốm, nền kiến trúc cổ, gạch ngói, gốm sứ Việt
Nam và nước ngoài có khung niên đại thế kỷ XVII-XVIII. Đặc biệt, kết quả
7

khai quật còn thu được những di vật có niên đại sớm hơn như mảnh gốm Trần
(thế kỷ XIII-XIV), chân đèn Mạc (thế kỷ XVI)…Những di vật này cho phép
hình dung phần nào về lịch sử của vùng đất này giai đoạn tiền Phố Hiến. Ngoài
ra, cũng trong năm này, Bảo tàng tỉnh Hải Hưng kết hợp với một số nhà khoa
học đã tiến hành đợt điều tra tổng thể di sản văn hoá vật thể khu vực Thị xã
Hưng Yên lần đầu tiên. Kết quả là đã thống kê được 60 di tích trên địa bàn thị
xã, trong đó có 24 đền miếu, 1 hội quán, 17 chùa, 1 nhà thờ thiên chúa giáo, 10
đình, 1 nhà dòng, 2 nhà thờ họ, 1 nghĩa địa người nước ngoài, 1 văn miếu, 1 võ
miếu, 1 chợ [69, 89].
Năm 1990, hội thảo khoa học về đô thị cổ Hội An được tổ chức với sự tham
gia của đông đảo học giả, các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Bên cạnh
những nghiên cứu chuyên sâu về Hội An, Phố Hiến cũng được đề cập đến trong

đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành lịch sử văn hoá. Năm 1968, đề tài Phố
Hiến lần đầu tiên được đề cập đến trên tạp chí đầu ngành của sử học Việt Nam –
Nghiên cứu lịch sử - với bài viết “Bước đầu tìm hiểu về Phố Hiến” của hai tác
giả Trương Hữu Quýnh và Đặng Huyền Chi. Còn trên tạp chí Xưa và Nay, đáng
chú ý là ba bài viết của các tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (1996) – “Người Pháp
tại PH”, Hoàng Kim Đáng (1999) – “Phố Hiến qua một tấm bản đồ cổ”,
Nguyễn Văn Chiến (2005) – “Thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến”. Các bài viết
trên đã phần nào làm rõ nét hơn về cơ cấu dân cư, vị trí các phường xã, thương
điếm trong cơ cấu đô thị của thương cảng Phố Hiến.
Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật cũng đăng tải một số chuyên khảo về Phố Hiến.
Đáng chú ý là hai bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng (2001) với “Sông Nhị
Hồng với Hưng Yên - một tiếp cận địa văn hoá” và tác giả Nguyễn Quang Ngọc
(2001) với “Sông Đàng Ngoài với vị thế Phố Hiến xưa”. Trong khi giáo sư
Trần Quốc Vượng làm sáng tỏ phần nào vị thế của vùng đất Phố Hiến – Hưng
Yên dựa trên những nghiên cứu tiếp cận từ khía cạnh địa văn hoá thì giáo sư
Nguyễn Quang Ngọc lại đặt Phố Hiến trong mối tương quan với tuyến sông
Đàng Ngoài. Đây cũng là chuyên khảo đầu tiên chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa
Phố Hiến với hai cảng thị cũng nằm trên tuyến sông này là Thăng Long và
Domea (thuộc Hải Phòng ngày nay).
Với việc tiếp cận được một số bản đồ cổ được vẽ bởi các nhà du hành
phương Tây đã từng đến Đàng Ngoài trong thế kỷ XVI, XVII và nguồn tư liệu
lưu trữ của công ty Đông Ấn VOC tại Hà Lan, nghiên cứu về thương mại Đàng
Ngoài thế kỷ XVII đã đạt được những thành tựu mới. Liên tục trong ba năm
2005 – 2008, hàng loạt bài viết của nhóm tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn
Văn Kim, Đỗ Thuỳ Lan, Hoàng Anh Tuấn liên tục xuất hiện trên tạp chí Nghiên
9


3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
10

Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thị xã Hưng Yên bao gồm 12
phường xã, đồng thời mở rộng phạm vi khảo sát thực địa sang bờ hữu ngạn sông
Hồng đối diện với Phố Hiến thuộc đất Duy Tiên (Hà Nam) và vùng ngã ba cửa
Luộc thuộc Lý Nhân (Hà Nam) và Hưng Nhân (Thái Bình). Nhằm tìm mối liên
hệ và làm sáng tỏ vị trí của các bến đò và hệ thống di tích dọc sông Hồng, sông
Luộc, địa bàn khảo sát thực địa cũng được mở rộng sang các huyện Kim Động
và Tiên Lữ của tỉnh Hưng Yên.
Luận văn được tiến hành dựa trên kết quả tổng kiểm kê di tích và hệ thống
hồ sơ di tích của Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, Phòng Văn hoá Thông tin thị xã
Hưng Yên kết hợp với việc kế thừa thành quả nghiên cứu trực tiếp của Hội thảo
khoa học năm 1992. Đặc biệt, nguồn tư liệu đóng vai trò chủ yếu để hình thành
nên các luận điểm khoa học trong luận văn là tư liệu dân gian dựa trên kết quả
tập hợp, thống kê, điều tra điền dã của tác giả qua các đợt khảo sát thực địa
trong năm 2008.
Luận văn mong muốn đem đến cái nhìn toàn diện về QTDT lịch sử văn hóa
Phố Hiến với các loại hình di tích đa dạng, phong cách kiến trúc độc đáo. Trên
cơ sở thống kê, phân loại, luận văn tập trung tìm hiểu và phân tích đặc điểm,
mối quan hệ giữa các di tích. Qua đó, phác dựng diện mạo đô thị Phố Hiến theo
từng thời kỳ lịch sử, làm rõ nét hơn tiến trình lịch sử của vùng đất này không chỉ
trong giai đoạn hưng thịnh của thương cảng Phố Hiến thế kỷ XVII – XVIII mà
còn phác dựng lịch sử giai đoạn tiền Phố Hiến và hậu Phố Hiến.
Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn dựa trên những kết quả nghiên cứu
về bức tranh toàn cảnh của QTDT trong tương quan các điều kiện tự nhiên, xã
hội sẽ cung cấp thêm hiểu biết để các nhà quy hoạch, quản lý văn hoá đề ra các

tổng thể, tránh tách biệt di tích với tổng thể những điều kiện mà trên đó di tích
đã được hình thành và phát triển.
Nghiên cứu về cả một QTDT lịch sử, càng cần thiết phải tiếp cận theo hướng
tổng thể bởi đây là phương thức tốt nhất và hiệu quả nhất giúp nhà nghiên cứu
có được cái nhìn toàn cảnh, hệ thống để trên cơ sở đó, phân loại và đánh giá
được chính xác giá trị của từng di tích và cụm di tích.
Phương án bảo tồn và phát huy đầy đủ giá trị của di tích lịch sử văn hoá chỉ
khả thi khi nó được đề ra trên cơ sở nghiên cứu tổng thể các điều kiện, định
hướng kinh tế xã hội hiện nay của địa bàn – nơi di tích tồn tại, đảm bảo sự
tương quan hài hoà giữa cái cũ và cái mới, giữa vấn đề bảo tồn vốn cổ và định
hướng phát triển. Để bảo tồn di tích, cần thiết phải có sự phối kết hợp chặt chẽ
giữa các nhà nghiên cứu văn hoá, lịch sử, bảo tàng với các nhà kinh tế học, xã
12

hội học, địa lý học…và các cấp chính quyền quản lý và hoạch định chiến lược
phát triển của từng địa phương. Do vậy, trong quá trình làm luận văn, chúng tôi
đã hệ thống hóa tư liệu theo phương thức tổng hợp liên ngành để phân tích các
vấn đề được đặt ra trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Tập hợp, hệ thống, loại hình hóa di tích khu vực Phố Hiến – Hưng Yên.
- Bổ sung, làm đầy đặn hơn hệ thống tư liệu về di tích lịch sử văn hóa Phố
Hiến - Hưng Yên.
- Làm rõ sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội tác động tới
QTDT.
- Tiếp cận nghiên cứu QTDT nhằm khôi phục lại phần nào quá trình hình
thành, thay đổi, phát triển của vùng đất Phố Hiến - Hưng Yên qua các thời
kỳ lịch sử.

định rõ nét một vùng Phố Hiến - Hưng Yên với nhiều nét riêng biệt – một khu
vực mang tính “đặc thù”. Trên tổng quan của những yếu tố đó, di tích tại khu
vực này cũng mang nhiều nét riêng biệt.
Chƣơng 2: QTDT lịch sử văn hóa Phố Hiến - Hƣng Yên: Lịch sử và thực
trạng (40 trang)
Trong chương 2, luận văn tập trung tái hiện về quá trình hình thành QTDT
qua các thời kỳ lịch sử. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ đặc điểm phát triển di tích
từng thời kỳ, phân tích mối quan hệ giữa diễn tiến lịch sử vùng đất và quá trình
hình thành di tích.
Một nội dung quan trọng trong chương này là tác giả đã cố gắng loại hình
hóa hệ thống di tích Phố Hiến - Hưng Yên. Khu vực này hiện còn tới 134 di tích
bao gồm nhiều loại hình đa dạng. Do đó, việc phân loại di tích là vô cùng cần
thiết. Công việc này không chỉ giúp nhận định chính xác hơn về giá trị của từng
di tích, cụm di tích mà còn làm sáng tỏ diện mạo đời sống văn hóa – tín ngưỡng
của cộng đồng cư dân khu vực này. Hơn nữa, việc loại hình hóa di tích sẽ là cơ
sở quan trọng để tác giả luận văn đánh giá tính hệ thống, mối quan hệ giữa các
di tích cũng như rút ra những nhận xét quan trọng về đặc điểm của QTDT tại
đây. Từ những phân tích trên, một kết luận quan trọng được rút ra đó là 134 di
tích tồn tại trên khu vực Phố Hiến - Hưng Yên không phải là những di tích rời
rạc, riêng lẻ mà chúng thực sự tạo thành một hệ thống, một quần thể với mối
quan hệ, gắn bó mật thiết. Do đó, giá trị chung của toàn bộ QTDT được nâng
cao hơn, là một nhân tố quan trọng để các nhà quy hoạch du lịch căn cứ vào đó
vạch ra những chiến lược phát huy giá trị di tích một cách hợp lý, hiệu quả.
14

Chƣơng 3: Lịch sử Phố Hiến - Hƣng Yên qua hệ thống di tích lịch sử
văn hoá (47 trang)
15 CHƢƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÙNG PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN
*** ***
DIÊN CÁCH, VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÙNG PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN
Diên cách
Phố Hiến xưa - Thị xã Hưng Yên ngày nay là tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Yên,
nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 60 km theo hướng Đông Bắc, ở vào vị trí gần
trung tâm điểm châu thổ Bắc Bộ.
Cũng như mọi vùng miền khác trên châu thổ Bắc Bộ, vùng Phố Hiến -
Hưng Yên “là miền đất được giành giật từ biển do sức lao động bồi đắp cần cù
và nhẫn nại của sông Hồng qua hàng triệu năm” [148,111]. Theo kết quả nghiên
cứu mới nhất của các nhà địa chất thì châu thổ Bắc Bộ thực sự hình thành cách
đây khoảng 30.000 năm, “đó là kết quả của các quá trình địa chất cửa sông xảy
ra theo các chu kỳ cơ bản trong một chu kỳ kiến tạo thống nhất từ Pleistoxen
sớm đến Holoxen muộn (cách đây khoảng 3000 năm) [72,43]. Trên diễn trình
thời gian đó, một châu thổ thống nhất có dạng tam giác cân rộng lớn đã được
kiến lập với các thế hệ đồng bằng và châu thổ chồng gối lên nhau: “đồng bằng
Vĩnh Phúc (Pleistoxen muộn) bị đồng bằng – vũng vịnh Hải Hưng tuổi Holoxen
sớm - giữa (cách đây 6000 – 4000 năm) phủ lên hơn một nửa diện tích phía
đông của đồng bằng. Ranh giới phía Tây có hình cánh cung chạy từ Hà Đông
qua Bắc Ninh rồi vòng về Quảng Ninh, cả hai đồng bằng này lại bị phủ bởi
đồng bằng Thái Bình bắt đầu từ Holoxen muộn”[73,43]. Như vậy, đồng bằng
Bắc Bộ như một tam giác cân tiến dần ra phía biển, đỉnh thành tạo thứ nhất của
nó chính là Việt Trì (Phú Thọ), ngã ba sông Hồng – sông Đuống (Dâu Canh) là
đỉnh thứ hai và vùng Phố Hiến - Hưng Yên chính là đỉnh thứ ba [190,480]

thành 24 lộ, miền Hưng Yên ngày nay thuộc vào lộ Khoái. Song bên cạnh đó,
tên gọi châu Đằng vẫn được nhắc đến với tư cách là khu vực hành chính nhỏ
ngang với địa vị các huyện và vẫn lệ thuộc vào các châu lộ [1,121]. Như vậy,
đời Lý, miền Phố Hiến - Hưng Yên chính là đất châu Đằng thuộc lộ Khoái.
Sang thời Trần, năm 1249, cả nước được chia thành 12 lộ, miền đất này lại
thuộc về huyện Vĩnh Động, lộ Khoái Châu (hay Khoái Lộ). Đầu thế kỷ XV, nhà
Minh xâm lược và đô hộ nước ta. Về địa lý hành chính, nước ta bị đổi đặt làm
quận Giao Chỉ và đặt các châu huyện lệ thuộc vào 15 phủ và 5 châu lớn. Lộ
Khoái Châu và phủ lộ Long Hưng đời Trần gộp lại thành phủ Trấn Man. Theo
đó, Phố Hiến - Hưng Yên lệ thuộc vào phủ Trấn Man, quận Giao Chỉ. Sau khi
17

Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược và khôi phục nền độc lập dân tộc, cả
nước được chia làm 5 đạo. Hưng Yên thuộc về Nam Đạo. Đến năm 1466, Lê
Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, Hưng Yên thuộc thừa tuyên
Thiên Trường. Năm 1469 đổi gọi là Sơn Nam. Phố Hiến - Hưng Yên đổi thuộc
vào huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, thừa tuyên Sơn Nam, sau thuộc vào
Sơn Nam Thượng từ năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741). Đến năm 1802, Gia Long
lấy hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ lệ vào Bắc Thành.
Năm 1831, Minh Mệnh chia lại địa giới các trấn, phủ, đặt thành 18 tỉnh.
Tỉnh Hưng Yên được thành lập thống trị 2 phủ với 8 huyện. Vùng Phố Hiến -
Hưng Yên vẫn thuộc về đất huyện Kim Động, phủ Khoái Châu.
Tháng 8 năm 1946, thị xã Hưng Yên được thành lập. Vùng đất này chính
thức tách khỏi huyện Kim Động về mặt địa giới hành chính. Khi đó, thị xã được
chia thành hai khu phố Đẩu Lĩnh và Đằng Giang. Sau một thời gian sát nhập với
tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng, năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập, thị
xã Hưng Yên trở thành tỉnh lỵ và là một trong 6 đơn vị hành chính cấp huyện,

Phường Hiến Nam
351,56
5338
1518
4
Phường Lê Lợi
94,20
6440
6837
5
Phường Quang
Trung
44,58
8141
18262
6
Phường Minh Khai
223,19
5411
2424
7
Phường Hồng Châu
216,61
3252
1501
8
Xã Bảo Khê
397,82
5892
1431


Vị trí địa lý
Hưng Yên là tỉnh nằm giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ (điểm trung tâm
của châu thổ Bắc Bộ nằm tại thôn Dung, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ trên vĩ
tuyến 20
0
43’ và kinh độ 106
0
06’) với cảnh quan sinh thái điển hình là ruộng
đồng bằng phẳng được bao bọc bởi hệ thống đê sông dày đặc và những bãi sông
màu mỡ chạy dọc sông Hồng và sông Luộc. Về hình dáng, Hưng Yên giống như
một lá cờ bay trước gió với những nếp nhăn là hệ thống sông ngòi ngang dọc.
Hay có thể nói Hưng Yên giống như một hình chữ nhật với các góc gần vuông.
Vùng Phố Hiến xưa - Hưng Yên nay nằm chính trên một góc gần vuông đó và ở
về phía tây nam của tỉnh.
Về ranh giới hành chính, vùng đất này nằm sát sông Hồng về phía Tây, đối
ngạn với huyện Duy Tiên (Hà Nam) bên hữu ngạn. Phía tây bắc và bắc, giáp các
xã Hùng Cường, Hiệp Cường, huyện Kim Động. Phía đông và đông nam giáp
các xã Nhật Tân, An Viên, Thủ Sỹ, Phương Chiểu, Tân Hưng và Hoàng Hanh
của huyện Tiên Lữ. Tính từ trung tâm thị xã đến ngã ba cửa Luộc – nơi sông
Hồng và sông Luộc giao nước - ước chừng khoảng 4 km theo đường chim bay.
Vùng đất này đã trải qua nhiều thay đổi về diên cách, song về cơ bản đây
vẫn là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với hệ thống giao thông đường
thuỷ của châu thổ Bắc Bộ. Là đỉnh của “hạ châu thổ”, Phố Hiến - Hưng Yên
nằm sát sông Hồng và được giới hạn bởi sông Luộc ở phía đông bắc và sông
Châu Giang (hiện nay đã bị lấp) ở phía tây nam. Thuận đường sông Hồng xuôi
xuống phía đông nam có thể tiến ra Vị Hoàng (Nam Định ngày nay) và đến các
địa phương khác thuộc Sơn Nam Hạ xưa theo đường sông Châu Giang. Theo
tuyến sông Luộc, từ Phố Hiến - Hưng Yên có thể tới Hải Dương, An Quảng.
Như vậy, theo các tuyến đường sông chính, Phố Hiến - Hưng Yên có khả năng

Theo các sử liệu này, thương nhân phương Tây đến buôn bán ở Đàng
Ngoài đều từ vịnh Bắc Bộ đi vào theo lối cửa sông Thái Bình đến buông neo tại
Domea (Tiên Lãng, Hải Phòng) và dùng thuyền nhỏ theo đường sông Luộc đến
Phố Hiến rồi vào sông Hồng trước khi lên Thăng Long. Vị trí của Phố Hiến theo
William Dampier mô tả thì “ở cách nơi chúng tôi để tàu (tức Domea) độ 60 dặm
(96 km) và cách biển chừng 80 dặm (128 km)” [45,35]. Do vậy, đây là vị trí lý
tưởng để thiết lập các trạm tuần tra thu thuế. Có lẽ đây chính là lý do quan trọng
nhất quyết định đến việc chính quyền chúa Trịnh đã đặt Hiến ty của toàn vùng
20

Sơn Nam ở Phố Hiến để kiểm soát và thu thuế của các thương thuyền ngoại
quốc.
Trong tập du ký của William Dampier, nhà hàng hải người Anh cũng ghi
chép rõ điều này: “Quan tổng trấn hoặc viên phó quan cấp giấy thông hành cho
tất cả mọi thuyền bè đi ngược xuôi trên sông. Người ta không cho phép một
thuyền nào đi mà không có giấy thông hành” [45,37]. Vào thế kỷ XIX, Nguyễn
Siêu cũng khẳng định rõ chức năng tuần ty, thu thuế của Phố Hiến trong tác
phẩm Phương Đình địa dư chí: “Trấn Sơn Nam thời Lê Trung Hưng còn có Đại
An hải khẩu (thuộc tỉnh Nam Định), thuyền buôn nước ngoài đến đây có quan
khám xét nhưng kém hơn Cửa Hiến ở huyện Kim Động”. PGS Nguyễn Văn
Kim trong công trình nghiên cứu Quan hệ của Nhật Bản và Đông Nam Á thế kỷ
XV – XVI cũng nhận định rõ: “Đối với Đại Việt, thuyền của các thương nhân
ngoại quốc đến buôn bán với Đàng Ngoài phải đi theo hệ thống sông Hồng và
thường dừng lại ở khu vực cửa sông hay Phố Hiến để kiếm tra hàng hoá và định
mức thuế” [94,171]. Như vậy có thể thấy, không chỉ là đô thị kinh tế, Phố Hiến
trong thế kỷ XVI-XVII còn là đô thị hành chính, trung tâm chính trị của toàn
vùng Sơn Nam rộng lớn. “Nhìn dưới góc độ an ninh, Phố Hiến còn như một

xây dựng trên chính nền đại bản doanh của các đội quân từng đóng quân tại
đây hoặc xây dựng để tưởng niệm những chiến công lớn đã xảy ra trên địa
bàn này.
3> Phố Hiến - Hưng Yên là địa bàn có ý nghĩa chiến lược về kinh tế. Sự phát
triển thương mại hàng hoá của vùng đất này, đặc biệt trong giai đoạn thế kỷ
XVI – XVII đã kéo theo hệ quả tất yếu là sự giao lưu về văn hoá. Sự đa dạng
về tín ngưỡng, tôn giáo, sự đa dạng về phong cách kiến trúc của QTDT lịch
sử cho thấy dấu ấn đậm nét của quá trình giao lưu văn hoá trên địa bàn này
trong lịch sử.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN
Đặc điểm phát triển địa hình
Miền đất được hình thành do sự bồi đắp của sông Hồng và tác
động của hệ thống đê sông.
Phố Hiến - Hưng Yên là đỉnh thành tạo thứ ba của tam giác châu thổ Bắc
Bộ. Miền đất này được bồi đắp hoàn toàn do lượng phù sa lớn của sông Hồng
đổ về từ thượng lưu qua hàng ngàn năm. Khi chưa có hệ thống đê lớn và hoàn
chỉnh chạy dọc sông, nước lũ hàng năm của sông Hồng tràn qua bờ sông chính
và các sông nhánh. Một phần vật liệu đọng lại ngay ven sông tạo thành các gờ
sông. Cũng như trên toàn bộ đồng bằng châu thổ, gờ sông Hồng tại Phố Hiến -
Hưng Yên cũng tạo ra “một địa thế tương đối cao so với các vùng bao quanh (từ
22

3-4 m) trong khi các khu vực đất thấp lân cận chỉ vào khoảng 1-2 m” [149,30].
Trên bình độ vùng Phố Hiến - Hưng Yên hiện nay, vẫn thấy độ cao nổi trội của
dải đất gờ sông này kéo dài từ địa phận Nhân Dục xuống đến Nam Hoà, Mậu
Dương. Ngược với dải gờ sông, các khu đất từ gờ sông trở vào phía trong có độ
cao thấp dần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status