ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
----------***___▼▲▼___***---------
TRẦN THỊ MINH AN
QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
PHỐ HIẾN - THỊ XÃ HƢNG YÊN
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60 31 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. NGUYỄN QUANG NGỌC
HÀ NỘI - 2009
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các kết quả trong luận văn
là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình nào. Luận văn kế thừa
những công trình nghiên cứu cùng đề tài
trước đây.
2
7. Các nguồn tƣ liệu
10
8. Cấu trúc luận văn
11
CHƢƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÙNG PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN
13
1.1. Diên cách, vị trí địa lý vùng Phố Hiến – Hƣng Yên
13
1.1.1. Diên cách
13
1.1.2. Vị trí địa lý
1.2. Đặc điểm tự nhiên vùng Phố Hiến – Hƣng Yên
15
18
1.2.1. Đặc điểm phát triển địa hình
18
41
1.4.3. Khách thương phương Tây
1.5. Đặc điểm phát triển kinh tế
46
48
1.6. Tiểu kết
51
CHƢƠNG 2: QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
53
PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG
3
2.1. Quá trình hình thành quần thể di tích
53
2.2. Phân loại di tích
64
2.2.1. Đền
2.3.1. Về mật độ và quy mô
78
78
2.3.2. Đặc điểm quần thể di tích
81
2.4. Tiểu kết
89
CHƢƠNG 3: LỊCH SỬ PHỐ HIẾN – HƢNG YÊN QUA HỆ THỐNG
91
CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
3.1. Giai đoạn tiền Phố Hiến - Vùng đất có vị trí chiến lƣợc về quân sự
91
3.1.1. Thời kỳ Hai Bà Trưng
91
3.1.2. Thế kỷ X
96
KẾT LUẬN
139
TÀI LIỆU THAM KHẢO
142
PHỤ LỤC
4
MỞ ĐẦU
9. Lý do chọn đề tài
Như dòng chảy quanh co bên bồi bên lở của sông Hồng, thương cảng Phố Hiến
xưa - thị xã Hưng Yên ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm thịnh suy. Một
thương cảng sầm uất bậc nhất của Đàng Ngoài thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII
với cảnh đông vui trên bến dưới thuyền, với những khu phố tấp nập kẻ bán người mua
đã bị vùi sâu dưới lớp lớp phù sa. Một Hưng Thành được xây dựng kiên cố với tư cách
lị sở hành chính thế kỷ XIX cũng đã biến mất chỉ còn để lại những phế tích và địa
danh cổ. Năm tháng đã phủ bụi mờ lên nhiều trang sử của miền đất này. Nhưng vẫn
còn đó một quần thể di tích (QTDT) đa dạng về loại hình, đặc sắc về kiến trúc với vẻ
đẹp độc đáo của tập quán tín ngưỡng và lễ hội dân gian tồn tại trên các phố phường.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, thị xã Hưng Yên hiện còn trên 130 di tích phân
bố trên địa bàn 12 phường, xã bao gồm các loại hình đình, đền, chùa, miếu, phủ, hội
quán, nhà cổ, nghĩa trang người nước ngoài, văn miếu, võ miếu, nhà thờ Thiên Chúa
giáo, nhà thờ họ, bia đá…Số liệu này cho thấy mật độ đậm đặc và tính đa dạng của di
tích lịch sử văn hóa trong khu vực.
Mỗi di tích đều tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với điều kiện địa – văn hoá,
cũng bị vùi lấp trong cát. Những di tích còn lại chủ yếu là các công trình công cộng,
trong đó nhiều di tích đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Cổ vật bị hư hại,
thất lạc và trộm cắp. Một số công trình đang bị sụp đổ từng bộ phận. Một số đã được
trùng tu nhưng không đúng cách dẫn đến kiến trúc cổ bị biến dạng, không gian di tích
bị trần tục hoá. Tính thiêng cũng như những giá trị tâm linh khác của di tích cũng theo
đó mà bị biến đổi, mất đi bản sắc ban đầu. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn tư liệu vô
giá đối với việc nghiên cứu tiến trình lịch sử của vùng đất này đang bị mai một, thậm
chí có nguy cơ biến mất hoàn toàn. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần khẩn trương nghiên
cứu chuyên sâu về lịch sử, văn hóa Phố Hiến – Hưng Yên một cách toàn diện và khoa
học ngay từ hôm nay.
Mặt khác, nghiên cứu về lịch sử vùng đất Phố Hiến – Hưng Yên còn cung cấp
những hiểu biết căn bản và tổng thể giúp ích cho chính sự nghiệp bảo tồn, tôn tạo và
phát huy giá trị của QTDT lịch sử - văn hóa tại đây. Trong tình hình thị xã Hưng Yên
đang đô thị hóa mạnh mẽ để chuyển mình thành thành phố, vấn đề này càng có ý
nghĩa quan trọng. UBND thị xã Hưng Yên đã và đang tiến hành xây dựng một đề án
tổng thể nhằm nâng cấp thị xã thành thành phố tương lai với những quy hoạch đồng
bộ về cơ sở hạ tầng. Diện mạo đô thị đang có những thay đổi nhanh chóng. Một đô thị
Hưng Yên hiện đại đang dần hình thành và phát triển mạnh mẽ bên cạnh một Phố
Hiến cổ kính với QTDT lịch sử văn hóa đặc sắc. Vấn đề mâu thuẫn giữa bảo tồn và
phát triển đang đặt ra bức thiết. Quy hoạch mặt bằng tổng thể phát triển thị xã trong
tương lai phải giải quyết được bài toán đô thị hoá, phải tạo ra được sự đối thoại uyển
chuyển, hài hoà giữa di sản kiến trúc truyền thống và các công trình hiện đại, cao tầng.
Thực tế đó càng đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho công cuộc nghiên cứu QTDT. Cần phải
6
nhanh chóng tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể dựa trên những khảo cứu nghiêm
túc, toàn diện và tỉ mỉ, đảm bảo cung cấp những căn cứ khoa học để xây dựng quy
hoạch đô thị mới vừa hiện đại, vừa bảo tồn được QTDT lịch sử văn hóa truyền thống.
7
với thương thuyền nước ngoài, ghi chú về việc chúa Trịnh cho phép các thương nhân
Hoa kiều, Nhật Bản và phương Tây lưu trú và lập hội quán, thương điếm tại Phố Hiến.
Dưới triều Nguyễn, Phố Hiến được ghi chép chi tiết hơn trong nhiều bộ địa chí lớn.
Phan Huy Chú trong phần Dư địa chí của bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương
loại chí có mô tả về địa thế của Phố Hiến trong phần ghi chú về phủ Khoái Châu, trấn
Sơn Nam. Mặc dù còn rất sơ lược song Phan Huy Chú đã cho biết một chi tiết quan
trọng là vùng Phố Hiến – bãi Xích Đằng là địa bàn then khóa, kho lưu trữ của các đời
và ghi chú về các sở đánh thuế tuần ty trên sông Xích Đằng (đoạn sông Hồng chảy
qua Phố Hiến).
Đại Nam nhất thống chí phần viết về tỉnh Hưng Yên cũng có ghi chép Phố Hiến là
nơi đặt trị sở cũ của trấn Sơn Nam. Các bến đò ngang, đò dọc trên đoạn sông Hồng
chảy qua Phố Hiến cũng được liệt kê tỉ mỉ cùng với hệ thống chợ tại Phố Hiến và các
khu vực xung quanh. Những chi tiết trên sẽ góp phần giúp người nghiên cứu hình
dung về một Phố Hiến xưa với hoạt động của các sở thu thuế, hệ thống chợ buôn bán
và phương thức vận chuyển hàng hóa. Đồng thời, thông tin ghi chép trong bộ địa chí
này cũng là sử liệu trực tiếp để nghiên cứu và lịch sử vùng đất Hưng Yên thế kỷ XIX
– giai đoạn hậu Phố Hiến.
Thành tỉnh Hưng Yên – Hưng Thành xây dựng đời Minh Mạng cũng được mô tả
trong Đại Nam nhất thống chí cùng với bản liệt kê chợ, phố, cầu, bến, đường đê, một
số di tích tiêu biểu và địa điểm đặt lỵ sở các huyện Kim Động, Tiên Lữ. Đây là sử liệu
quan trọng để hình dung về diện mạo của đô thị hậu Phố Hiến, từ đó nhận định về sự
suy tàn của thương cảng Phố Hiến, so sánh để thấy sự chuyển biến của Phố Hiến từ
một đô thị thương cảng sang một đô thị hành chính vào thế kỷ XIX.
Cuối XIX, đầu XX, nhiều bộ địa chí chuyên khảo về Hưng Yên đã ra đời. Đáng kể
tới là các bộ địa chí Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược, phần Hưng Yên tỉnh (Quốc
sử quán triều Nguyễn); Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, Tỉnh Hưng Yên – La Pronvince
các tên gọi khác nhau như Hean, Heen, Hiên Nội, Hiến Nam hay Vạn Lai Triều. Vị trí,
diện mạo của đô thị này cũng được phác dựng.
Những thập kỷ cuối thế kỷ XX, Phố Hiến được các học giả quan tâm nghiên cứu
nhiều hơn. Phố Hiến đã được nhắc đến và đánh giá trong những công trình nghiên cứu
về ngoại thương Việt Nam như Ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, đầu XIX
(Thành Thế Vỹ, Hà Nội, 1961), Tình hình công thương nghiệp Việt Nam trong thời Lê
Mạt (Vương Hoàng Tuyên, Hà Nội, 1959) cũng như các công trình nghiên cứu về đô
thị Việt Nam như Đô thị cổ Việt Nam (Viện sử học, Hà Nội, 1989).
Bên cạnh những nghiên cứu về Phố Hiến thông qua khảo cứu nguồn thư tịch và
văn bia, nhằm tiến tới hiểu biết toàn diện và sâu sắc hơn nữa về Phố Hiến, công tác
điều tra và khai quật khảo cổ học cũng đã bước đầu được tiến hành. Năm 1968, trường
Đại học Sư phạm I đã hai lần đào thám sát khu thương điếm ngoại quốc ở Hiến Hạ.
Tiếp theo, năm 1989, khai quật khảo cổ học tại khu Văn Miếu Xích Đằng đã phát hiện
9
phế tích lò gốm và chồng bát kết dính có niên đại thế kỷ XVII, cho thấy khu vực này
là nơi sản xuất gốm thủ công của thương cảng Phố Hiến khi xưa.
Năm 1992, trước thềm Hội thảo khoa học về Phố Hiến, Sở Văn hóa Thông tin Hải
Hưng đã đào thám sát và tiến hành khai quật một số hố. Kết quả đã phát hiện được
một số dấu tích lò gốm, nền kiến trúc cổ, gạch ngói, gốm sứ Việt Nam và nước ngoài
có khung niên đại thế kỷ XVII-XVIII. Đặc biệt, kết quả khai quật còn thu được những
di vật có niên đại sớm hơn như mảnh gốm Trần (thế kỷ XIII-XIV), chân đèn Mạc (thế
kỷ XVI)…Những di vật này cho phép hình dung phần nào về lịch sử của vùng đất này
giai đoạn tiền Phố Hiến. Ngoài ra, cũng trong năm này, Bảo tàng tỉnh Hải Hưng kết
hợp với một số nhà khoa học đã tiến hành đợt điều tra tổng thể di sản văn hoá vật thể
khu vực Thị xã Hưng Yên lần đầu tiên. Kết quả là đã thống kê được 60 di tích trên địa
bàn thị xã, trong đó có 24 đền miếu, 1 hội quán, 17 chùa, 1 nhà thờ thiên chúa giáo, 10
đình, 1 nhà dòng, 2 nhà thờ họ, 1 nghĩa địa người nước ngoài, 1 văn miếu, 1 võ miếu,
tạp chí chuyên ngành lịch sử văn hoá. Năm 1968, đề tài Phố Hiến lần đầu tiên được đề
cập đến trên tạp chí đầu ngành của sử học Việt Nam – Nghiên cứu lịch sử - với bài
viết “Bước đầu tìm hiểu về Phố Hiến” của hai tác giả Trương Hữu Quýnh và Đặng
Huyền Chi. Còn trên tạp chí Xưa và Nay, đáng chú ý là ba bài viết của các tác giả Tôn
Nữ Quỳnh Trân (1996) – “Người Pháp tại PH”, Hoàng Kim Đáng (1999) – “Phố
Hiến qua một tấm bản đồ cổ”, Nguyễn Văn Chiến (2005) – “Thương điếm Hà Lan ở
Phố Hiến”. Các bài viết trên đã phần nào làm rõ nét hơn về cơ cấu dân cư, vị trí các
phường xã, thương điếm trong cơ cấu đô thị của thương cảng Phố Hiến.
Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật cũng đăng tải một số chuyên khảo về Phố Hiến. Đáng
chú ý là hai bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng (2001) với “Sông Nhị Hồng với
Hưng Yên - một tiếp cận địa văn hoá” và tác giả Nguyễn Quang Ngọc (2001) với
“Sông Đàng Ngoài với vị thế Phố Hiến xưa”. Trong khi giáo sư Trần Quốc Vượng
làm sáng tỏ phần nào vị thế của vùng đất Phố Hiến – Hưng Yên dựa trên những
nghiên cứu tiếp cận từ khía cạnh địa văn hoá thì giáo sư Nguyễn Quang Ngọc lại đặt
Phố Hiến trong mối tương quan với tuyến sông Đàng Ngoài. Đây cũng là chuyên khảo
đầu tiên chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa Phố Hiến với hai cảng thị cũng nằm trên
tuyến sông này là Thăng Long và Domea (thuộc Hải Phòng ngày nay).
Với việc tiếp cận được một số bản đồ cổ được vẽ bởi các nhà du hành phương Tây
đã từng đến Đàng Ngoài trong thế kỷ XVI, XVII và nguồn tư liệu lưu trữ của công ty
Đông Ấn VOC tại Hà Lan, nghiên cứu về thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII đã đạt
được những thành tựu mới. Liên tục trong ba năm 2005 – 2008, hàng loạt bài viết của
nhóm tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Văn Kim, Đỗ Thuỳ Lan, Hoàng Anh
Tuấn liên tục xuất hiện trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Với những chuyên khảo
“Vùng cửa sông Đàng Ngoài thế kỷ XVI-XVII” (Đỗ Thùy Lan, 2005); “Công ty Đông
Ấn Hà Lan ở Đàng Ngoài” (2005), “Kế hoạch Đông Á và sự thất bại của Công ty
Đông Ấn Anh ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII qua tư liệu phương Tây” (2005), “Mậu dịch
tơ lụa của công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài 1637 -1670” (2006), “Hải cảng
11
Luận văn được tiến hành dựa trên kết quả tổng kiểm kê di tích và hệ thống hồ sơ
di tích của Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, Phòng Văn hoá Thông tin thị xã Hưng Yên kết
hợp với việc kế thừa thành quả nghiên cứu trực tiếp của Hội thảo khoa học năm 1992.
Đặc biệt, nguồn tư liệu đóng vai trò chủ yếu để hình thành nên các luận điểm khoa học
12
trong luận văn là tư liệu dân gian dựa trên kết quả tập hợp, thống kê, điều tra điền dã
của tác giả qua các đợt khảo sát thực địa trong năm 2008.
Luận văn mong muốn đem đến cái nhìn toàn diện về QTDT lịch sử văn hóa Phố
Hiến với các loại hình di tích đa dạng, phong cách kiến trúc độc đáo. Trên cơ sở thống
kê, phân loại, luận văn tập trung tìm hiểu và phân tích đặc điểm, mối quan hệ giữa các
di tích. Qua đó, phác dựng diện mạo đô thị Phố Hiến theo từng thời kỳ lịch sử, làm rõ
nét hơn tiến trình lịch sử của vùng đất này không chỉ trong giai đoạn hưng thịnh của
thương cảng Phố Hiến thế kỷ XVII – XVIII mà còn phác dựng lịch sử giai đoạn tiền
Phố Hiến và hậu Phố Hiến.
Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn dựa trên những kết quả nghiên cứu về bức
tranh toàn cảnh của QTDT trong tương quan các điều kiện tự nhiên, xã hội sẽ cung
cấp thêm hiểu biết để các nhà quy hoạch, quản lý văn hoá đề ra các biện pháp bảo tồn,
giữ gìn hệ thống di tích này một cách hiệu quả trong quy hoạch thành phố tương lai.
12. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Qua nghiên cứu QTDT lịch sử - văn hóa, góp phần phác dựng lại diện mạo đô thị
Phố Hiến cũng như tiến trình phát triển của Phố Hiến - Hưng Yên trong lịch sử.
Luận văn tiến hành theo phương pháp liên ngành, nghiên cứu QTDT lịch sử - văn
hóa trong mối quan hệ tổng thể với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nghiên cứu
di tích không tách rời khỏi các đặc trưng văn hóa dân gian của vùng. Từ đó, chúng tôi
Hưng Yên vọng đưa ra những giả thiết tổng hợp dựa trên những luận cứ khoa học về
các giai đoạn phát triển của Hưng Yên – Phố Hiến, đồng thời góp phần đề ra, kiến
nghị về phương pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích trong bối cảnh thị xã Hưng Yên
để phân tích các vấn đề được đặt ra trong luận văn.
14. Đóng góp của luận văn
-
Tập hợp, hệ thống, loại hình hóa di tích khu vực Phố Hiến – Hưng Yên.
-
Bổ sung, làm đầy đặn hơn hệ thống tư liệu về di tích lịch sử văn hóa Phố Hiến Hưng Yên.
-
Làm rõ sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội tác động tới QTDT.
-
Tiếp cận nghiên cứu QTDT nhằm khôi phục lại phần nào quá trình hình thành,
thay đổi, phát triển của vùng đất Phố Hiến - Hưng Yên qua các thời kỳ lịch sử.
-
Luận văn góp phần tăng thêm cứ liệu cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích trong
giai đoạn thị xã Hưng Yên chuẩn bị trở thành thành phố trực thuộc tỉnh trong
tương lai.
15. Các nguồn tƣ liệu
Nguồn tư liệu ghi chép, khảo sát về Phố Hiến - Hưng Yên không nhiều. Do vậy, để
giải quyết những yêu cầu đặt ra trong luận văn, chúng tôi cố gắng khai thác tối đa các
nguồn sử liệu gốc như thư tịch cổ, ghi chép của các tác giả trong và ngoài nước, đồng
thời sử dụng những tư liệu thống kê, khảo sát, đo vẽ, bản ảnh di tích đã được các cơ
này không chỉ giúp nhận định chính xác hơn về giá trị của từng di tích, cụm di tích mà
còn làm sáng tỏ diện mạo đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cộng đồng cư dân khu
vực này. Hơn nữa, việc loại hình hóa di tích sẽ là cơ sở quan trọng để tác giả luận văn
đánh giá tính hệ thống, mối quan hệ giữa các di tích cũng như rút ra những nhận xét
quan trọng về đặc điểm của QTDT tại đây. Từ những phân tích trên, một kết luận quan
trọng được rút ra đó là 134 di tích tồn tại trên khu vực Phố Hiến - Hưng Yên không
phải là những di tích rời rạc, riêng lẻ mà chúng thực sự tạo thành một hệ thống, một
quần thể với mối quan hệ, gắn bó mật thiết. Do đó, giá trị chung của toàn bộ QTDT
15
được nâng cao hơn, là một nhân tố quan trọng để các nhà quy hoạch du lịch căn cứ
vào đó vạch ra những chiến lược phát huy giá trị di tích một cách hợp lý, hiệu quả.
Chƣơng 3: Lịch sử Phố Hiến - Hƣng Yên qua hệ thống di tích lịch sử văn hoá
(47 trang)
Luận văn phác dựng lại phần nào về diễn tiến lịch sử miền đất Phố Hiến - Hưng
Yên trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu khai thác tại di tích và xung quanh di tích.
Lấy thời kỳ Phố Hiến – giai đoạn phát triển vàng son nhất của vùng đất này làm mốc
phân chia, lịch sử Phố Hiến - Hưng Yên được tác giả chia làm 3 thời kỳ: tiền Phố
Hiến, Phố Hiến, hậu Phố Hiến.
Trong giai đoạn tiền Phố Hiến, vị trí trọng yếu của vùng đất này về quân sự được
thể hiện rõ qua những sự kiện lịch sử quan trọng đã diễn ra tại đây trong các thời kỳ:
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, loạn 12 sứ quân và kháng chiến chống quân Tống xâm lược
năm 981, kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2.
Giai đoạn phát triển của thương cảng Phố Hiến, vùng đất này nổi bật với vị thế
quan trọng trong hệ thống giao thương của Đàng Ngoài. Những điều kiện thuận lợi
trong và ngoài nước đã đưa Phố Hiến trở thành một thương cảng sầm uất nhất của
Đàng Ngoài trong các thế kỷ XVI – XVII. Trong thời kỳ này, Phố Hiến còn là địa bàn
quan trọng trên hành trình truyền bá đạo Thiên Chúa vào Đàng Ngoài. Tại đây đã diễn
Đặng Văn Bài (2008), “Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt
Nam”, T/c Di sản Văn hóa, số 2, tr.7-12.
6.
Ban nghiên cứu chính trị tỉnh Hưng Yên (1965), Lịch sử đất đai và thổ nhưỡng HY, Bản
viết tay lưu tại Thư viện tỉnh Hưng Yên.
7.
Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2002), Tìm trong di sản
văn hoá Việt Nam: Thăng Long - Hà Nội, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
8.
Phòng Quản lý Đô thị Thị xã Hưng Yên (2004), Bản đồ hành chính Thị xã Hưng Yên.
9.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đình – đền – chùa Đào Đặng.
10.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích chùa Chuông.
11.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Mẫu.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích chùa Nễ Châu.
20.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Bảo Châu.
21.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Văn miếu Xích Đằng.
22.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Đông Đô Quảng Hội.
23.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Chùa Phố.
24.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích Võ Miếu.
17
25.
Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2003), Hồ sơ di tích đền Thiên Hậu.
26.
32.
Nguyễn Chí Bền (2008), “Văn hóa ven sông Hồng ở Việt Nam, vấn đề và sự tiếp cận”,
T/c Di sản văn hóa, số 2, tr.20-27.
33.
Nguyễn Bích (1994), “Cái đình và điêu khắc đình làng”, Kỷ yếu Bảo tàng Mỹ thuật
tháng 8-1993, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
34.
Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1971), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn
Huệ, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
35.
Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
36.
Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, NXB Văn
hoá Dân tộc, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội.
37.
Bộ Văn hoá Thông tin (2003), Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44.
Cục Di sản Văn hóa (2005), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Hà Nội.
45.
William Dampier (2007), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, NXB Thế
giới, Hà Nội.
46.
Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (1985), “Hoạt động thương nghiệp nông thôn
đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 5, tr.26-34.
47.
Phan Đại Doãn, Trương Hữu Quýnh (1994), “Về sự suy tàn của PH”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Phố Hiến, tr.215-219, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
48.
Nguyễn Đăng Duy (1993) , Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội.
49.
Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá, Bộ Văn
hoá - Thông tin, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội.
Anthoyny Farrington (1994), “Những tài liệu của công ty Đông Ấn Anh liên quan đến
Phố Hiến và Đàng Ngoài”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.143-159, Sở Văn hóa
Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
19
57.
Riichiro Fujawara, (1994) “Quy chế người Hoa dưới chế độ họ Trịnh và Phố Hiến”, Kỷ
yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.96-100, Sở Văn hóa Thông tin -Thể thao Hải Hưng.
58.
Vũ Minh Giang (1991), “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An”, Kỷ yếu
Đô thị cổ Hội An, tr.205-215, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
59.
Vũ Minh Giang (1994), “Góp phần nhận diện Phố Hiến qua hai tấm bia”, Kỷ yếu hội
thảo khoa học Phố Hiến, tr.115-122,Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
60.
Pierre Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
61.
67.
Tăng Bá Hoành (1994), “Phố Hiến qua nghiên cứu khảo cổ học”, Kỷ yếu hội thảo khoa
học Phố Hiến, tr.89-95, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
68.
Hội đồng Bộ trưởng, Nghị định quy định về việc thi hành “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng
di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh”, Hà Nội.
69.
Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1984), Pháp lệnh và
bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh thông qua ngày
31/03/1984.
70.
Hội Văn học Nghệ thuật Hưng Yên (2005), Văn hóa văn nghệ dân gian HƯNG YÊN –
đôi nét phác thảo, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
71.
Đỗ Đức Hùng (1997), Vấn đề trị thủy ở đồng bằng Bắc Bộ dưới thời Nguyễn (thế kỷ
XIX), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
20
72.
78.
Katooiichi (1991), “Mậu dịch với Đông Dương với các thương điếm thuộc công ty
Đông Ấn Hà Lan tại Nhật Bản”, Kỷ yếu Đô thị cổ Hội An, tr.217-229, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
79.
La province de Hung Yen (Tỉnh HY), khuyết danh, nguyên văn tiếng Pháp, Ngô Đức
Thọ dịch, tài liệu hiện lưu tại Phòng Địa chí, Thư viện tỉnh Hưng Yên.
80.
Trần Khánh (2004), “Tiếp xúc, hội nhập kinh tế Đông Á - Đông Nam Á ven biển trong
tiến trình lịch sử”, Đông Á - Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, tr.91-102,
NXB Thế giới, Hà Nội.
81.
Vũ Ngọc Khánh (1994), “Phố Hiến giữa vùng Folklore Sơn Nam”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Phố Hiến, tr.123-128, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
82.
Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, NXB Xây dựng, Hà Nội.
83.
Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII
89.
Nguyễn Hồng Kiên (2003), Đình làng Việt Nam thế kỷ XVI, Luận án tiến sĩ, Viện Khảo
cổ học, Hà Nội.
90.
Nguyễn Văn Kim (1999), “Vị trí của một số thương cảng Việt Nam trong hệ thống buôn
bán ở biển Đông thế kỷ XV-XVII”, Hội thảo Quốc tế Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản thế
kỷ XV-XVII qua giao lưu gốm sứ, Hà Nội.
91.
Nguyễn Văn Kim (2003), Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV-XVII, Giáo
trình chuyên đề, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
92.
Nguyễn Văn Kim (2002), “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI-XVII và vị trí
của một số thương cảng Việt Nam (Một cái nhìn từ điều kiện địa-nhân văn)”, T/c
Nghiên cứu Lịch sử, số…, tr.45-52.
93.
Nguyễn Văn Kim (2007), “Vị trí Phố Hiến và Domea trong hệ thống thương mại Đàng
Ngoài thế kỷ XVI-XVIII”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr. …
94.
Hoàng Đạo Kính, Vũ Hữu Minh (1991), “Phân tích và đánh giá hiện trạng di tích kiến
hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.185-187, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
102. Vũ Tam Lang (1999), Kiến trúc cổ Việt Nam, NXB Xây dựng, Hà Nội.
22
103. Trần Lâm, Hồng Kiên (1987), “Diễn biến của các loại hình kiến trúc cổ Việt Nam”, T/c
Kiến trúc, số 2&3.
104. Vũ Tự Lập (1991), Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Hồng, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
105. Phan Huy Lê (1962), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
106. Phan Huy Lê, Vũ Hoàng Tuyên, Chu Thiên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến
Việt Nam, tập 3, NXB Giáo dục, Hà Nội.
107. Phan Huy Lê (1994), “Phố Hiến những vấn đề khoa học đang đặt ra”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Phố Hiến, tr.18-28, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
108. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội.
109. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội.
110. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, NXB Giáo dục, Hà Nội.
111. Ngô Vi Liễn (1999), Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, NXB Văn hóa Thông tin,
Hà Nội.
112. Tạ Ngọc Liễn (1995), Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
113. Charles Maybon (2006), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nguyễn Thừa Hỷ dịch,
NXB Thế giới, Hà Nội.
114. Phạm Quang Nghị, Lê Doãn Hợp, Đặng Văn Bài (2006), Một con đường tiếp cận di sản
văn hóa, NXB Thế giới, Hà Nội.
115. Nguyễn Đình Nhã (1994), “Cư dân và phong tục tập quán PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa
học Phố Hiến, tr.108-114, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
116. Nguyễn Đức Nghinh (1994), “Phố Hiến thế kỷ XVII-XVIII: Một số vấn đề kinh tế xã
thế kỷ XVII-XVIII”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử,
tr.241-251, Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa.
129. Vũ Thị Phụng (1995), “Một vài nhìn nhận về những di sản pháp luật dưới thời Lê Trịnh thế kỷ XVII-XVIII”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch
sử, tr.125-135, Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa.
130. Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1991), Mỹ thuật ở làng, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.
131. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Đại Nam nhất thống chí, Tập 3, NXB Thuận Hóa.
132. Quốc sử quán triều Nguyễn (2003), Đồng Khánh địa dư chí, NXB Thế giới, Hà Nội.
133. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
134. Ngô Huy Quỳnh (2000), Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam, NXB Xây dựng, Hà Nội.
135. Trương Hữu Quýnh (1994), “Sự ra đời và phát triển của PH”, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Phố Hiến, tr.36-44, Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng.
136. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1998), Đại cương lịch sử
Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
24
137. Momoki Shiro (2004), “Đại Việt và thương mại ở Biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ
XV”, Đông Á - Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, tr.309-330, NXB Thế
giới, Hà Nội.
138. Momoki Shiro (1994), “Nhật Bản và Việt Nam trong hệ thống buôn bán châu Á vào thế
kỷ XVII-XVIII”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, tr.45-54, Sở Văn hóa Thông tinThể thao Hải Hưng.
139. Kikuchi Seiichi (2004), “Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Hội An qua sự
phân bố các di tích”, Tham luận Hội thảo Việt Nam học lần 2, Tp Hồ Chí Minh.
140. Kikuchi Seiichi (2001), “Sự hình thành và phát triển khu phố cổ Hội An (Qua tư liệu
văn bia, thư tịch và KCH)”, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 6, tr.50-56.
141. Kikuchi Seiichi (2004), “Gốm sứ Hizen ở Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam”, Đông Á Đông Nam Á, những vấn đề lịch sử và hiện tại, tr.331-348, NXB Thế giới, Hà Nội.
142. Bùi Hoài Sơn (2008), “Các quan điểm lý thuyết về quản lý di sản”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chương trình KX.09, tr.156163, NXB Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.