Giới thiệu chung về công nghệ thực vật
PHYTOREMEDIATION kimlong
14-03-2009, 05:13 PM
Phytoremediation công nghệ thực vật xử lý môi
trường
Phytoremediation được hình thành từ phyto trong
tiếng la tinh có nghĩa là thực vật còn remediation
nghĩa là phục hồi. Phytoremediation ra đời vào năm
1991 và ngay sau đó nó được sử dụng rộng rãi để chỉ
công nghệ sử dụng thực vật loại bỏ các chất ô nhiễm
hữu cơ (thuốc bảo vệ thực vật, các hợp chất cao phân
tử, ) và vô cơ (Cu, Pb, Zn, Cd, thậm chí cả các
nguyên tố phóng xạ) ra khỏi môi trường bị ô nhiễm
(đất, nước ngầm,nước thải, bùn thải) [1]. Jeanna R.
Henry thì cho rằng cụm từ này đã được sử dụng vào
năm 1983 và việc sử dụng thực vật để xử lý nước thải
đã được thực hiện từ 300 năm trước[2], luận điểm
này dựa trên các thí nghiệm của Joseph Priestley,
Antoine Lavoissier, Karl Scheele và Jan
Ingenhousz[3]. Tuy nhiên có một điều mà không cần
tranh cãi đó là công nghệ này đang dược nghiên cứu
và tiến hành sử dụng thành công ở rất nhiều nước
trên thế giới.
Phytoremediation là công nghệ được sử dụng rộng rãi
ở những vùng ô nhiễm có nồng độ thấp, thời gian xử
lý không bắt buộc (có thể kéo dài), thường được áp
dụng trên diện rộng và kèm theo đó là có các biện
Rhizodegradation: Là quá trình phân huỷ chất ô
nhiễm hữu cơ trong đất thông qua quá trình hoạt
động của vinh sinh vật. Ở những vùng rễ của các loài
cây ứng dụng biện pháp này thường có số lượng vi
sinh vật rất lớn. Nguyên nhân là do những loài cây
này có thể tiết ra những hợp chất hữu cơ như đường,
amino acids, acid hữu cơ, acid béo, sterols, nhân tố
sinh trường, nucleotides, flavanone, enzyme và các
hợp chất khác [24] những hợp chất hữu cơ này sẽ trở
thành nguồn dinh dưỡng cung cấp cho các vi sinh vật
trong vùng rễ phát triển. Ngoài ra trong quá trình phát
triển, bộ rễ của cây không ngừng mở rộng tạo làm
thay đổi tính chất của đất, giúp cho oxy đi vào vùng
rễ, điều này cũng góp phần gián tiếp giúp cho các vi
sinh vật phát triển. Có thể hiểu biện pháp này chính
là việc sử dụng khéo léo mối quan hệ cộng sinh của
vi sinh vật trong đất với cây. Chính vì lẽ đó mà biện
pháp này chủ yếu sử dụng để xử lý các chất ô nhiễm
hữu cơ như PCB, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
Rhizofiltration: Là quá trình hấp phụ các chất ô
nhiễm lên trên bề mặt rễ hoặc là quá trình hấp thụ các
chất ô nhiễm trong vùng rễ vào trong rễ. Những quá
trình này xảy ra nhờ quá trình hoá học hoặc quá trình
sinh học. Biện pháp này phụ thuộc vào nồng độ chất
ô nhiễm, tính chất hoá học và lý học của chất ô
nhiễm, loài thực vật … Nó đạt hiệu quả cao khi chất
cần xử lý có khả năng tan tốt trong nước.
năng chịu mặn.
Việc lựa chọn từng công nghệ nhỏ này phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như: dạng chất ô nhiễm, dạng tồn tại
chủ yếu của chất ô nhiễm ở trong môi trường cần xử
lý, nồng độ của chất ô nhiễm, đặc tính của môi
trường,
Tài liệu tham khảo:
[1] Phytotechnology Technical and Regulatory
Guidance Document
[2] phytoremediation decision tree
[3] phytoremediation of heavy metal contaminated
soils: approaches and perspectives, Võ Văn Minh, Võ
Châu Tuấn.
[4] introduction to phytoremediation.