Câu hỏi thảo luận triết học pot - Pdf 18

CÂU HỎI THẢO LUẬN
TRIẾT HỌC
2
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Tìm hiểu vai trò của chủ nghĩa Mác- Lênin với thực tiễn CM Việt Nam? Vì sao trong
công cuộc đổi mới hiện nay chúng ta cần phải kiên trì chủ nghĩa Mác- Lê nin
Đối với Cách mạng Việt Nam, Chủ nghĩa Mác- Lê nin là kim chỉ nam, là nền tảng của tư
tưởng, hành động của Đảng, là ngọn đèn soi sáng cho con đường dẫn đến thắng lợi của dân
tộc ta.
Trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở Việt Nam. những phong trào giải phóng dân
tộc như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các
cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại.
Nhưng kể từ khi HCM đem chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh
giành độc lập của nước
Đầu tiên, sau gần 100 năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp và đế quốc Nhật, năm 1945, dưới
sự lãnh đạo của HCM và Đảng Cộng sản, Việt Nam đã giành được chính quyền từ tay đế
quốc và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp
theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khi Pháp trở lại
Đông Dương năm 1946.
Sau đó, Hoa Kỳ hậu thuẫn chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Cuộc
chiến kéo dài hơn 30 năm, kết cục là Mỹ đã rút khỏi Việt Nam sau khi Hiệp định Hòa bình
Paris được kí kết vào tháng 1 năm 1973 và chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau sự
kiện 30 tháng 4 năm 1975 của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua “ Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kì quá độ” trong đó khẳng định: “ Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là kết luận
rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng và của CM Việt Nam trong
suốt quá trình cách mạng từ khi thành lập Đảng đến nay. Đó là 1 quyết định có tầm lịch sử
quan trọng thể hiện bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng ta.
Như ánh sáng mặt trời xua tan bóng tối, trong “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa”, Lênin đã chỉ cho nhân dân ta thấy rõ: Trong thời đại ngày nay, muốn đánh đổ chủ

phương pháp luận trong học thuyết mácxít, trong hệ thống quan điểm, tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã được các lãnh tụ của Đảng, các nhà khoa học, các nhà lý luận nhận
thức lại và lựa chọn để vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới.
Trong hoàn cảnh hiện tại, đất nước ta đang trên đà hội nhập và phát triển cùng thế giới.
Mặc dù thế giới có nhiều biến đổi, nhưng thời đại hiện nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại không thay đổi,
nhưng chúng đã có nhiều đặc trưng mới. Do vậy, việc Việt Nam lựa chọn mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đúng xu thế của thời đại, nhưng phải chấp nhận những thử
thách chưa từng có. Đặc biệt, khi tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách
mạng đã thay đổi, bắt buộc phải thiết lập các quan hệ phù hợp, tổ chức lại lực lượng trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Chính vì vậy, giữ vững chủ nghĩa Mác Lênin là con đường
đúng đắn để bảo vệ và xây dựng đất nước.
CHƯƠNG1: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
4
Câu 1: Những nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Từ đó
phân tích sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận triết học của thế giới quan khoa học
Mác-Lênin, là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật. Trong đó, Lê- Nin đã
đưa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất: “Vật chất là một
phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm
giác, được cảm giác của chúng ta chép lại phản ánh và được tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”.Còn ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não con người
thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người như:
Tình cảm yêu thương, tâm trạng, cảm súc, ý trí, tập quán, truyền thống, thói quen quan
điểm, tư tưởng, lý luận, đường lối, chính sách, mục đích, kế hoạch, biện pháp, phương
hướng
Vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ
đó, vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, ý thức là cái có sau, phụ thuộc vào vật chất,
do vật chất quyết định. Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức,
quyết định ý thức, thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức của con người,

quá trình phản ánh thế giới khách quan, thế giới khách quan đã được cải biến đi thông qua
cơ quan cảm giác thông qua lăng kính chủ quan của con người.
Với những tri thức mà ý thức mang lại cho con người có thể xác định phương hướng mục
đích trong nhận thức và thực tiễn của mình. Đồng thời biến sức mạnh tinh thần thành sức
mạnh vật chất, cung cấp cho con người động lực vượt qua những khó khăn thử thách để đạt
được mục đích đề ra.
Ý thức tác động trở lại vật chất theo 2 chiều hướng. Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực
khách quan thì sẽ cung cấp cho con người những tri thức đúng đắn, giúp cho con người đạt
được mục đích. Ngược lại, nếu ý thức không phản ánh đầy đủ thế giới khách quan thì tri
thức mang lại là sai lầm, nó sẽ làm cho con người xây dựng những phương hướng, mục
đích sai lầm
Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan,
tôn trọng khách quan. Đồng thời, phải thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, phát
huy vai trò nhân tố con người trong việc hóa tính tích cực sáng tạo của ý thức.
• Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí:
Bệnh chủ quan duy ý chí thực chất là khuynh hướng tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm
quan. Đó là trào lưu tư tưởng không xuất phát từ thực tại khách quan, không tôn trọng thế
giới khách quan, không lấy thực tiễn khách quan làm cơ sở, tiền đề cho việc đề ra chủ
trương, hoạch định đường lối, chính sách. Bệnh chủ quan duy ý chí cho rằng tư tưởng và ý
chí của con người có thể quyết định tất cả.
Bệnh chủ quan duy ý chí là 1 sai lầm kép, trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủ
nghĩa chủ quan, lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện
khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chủ thể trong quan niệm và hành động, phủ nhận
hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật của thế giới vật chất, hiện thực khách
quan.
Thực chất của căn bệnh này là trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, người ta tuyệt đối
hóa nhân tố chủ quan, xa rời hiện thực khách quan, coi thường các quy luật khách quan của
sự vận động và phát triển.
Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cách mạng và
sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu bị sự can

với tinh thần của phép biện chứng duy vật, là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội
chạy theo nguyện vọng chủ quan; biểu hiện trong 1 số chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, xa rời hiện thực khách quan.
Là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức, trình độ lý luận mà còn là sản
phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài, đến lượt nó, bệnh chủ quan duy ý chí trở
thành một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị đình đốn, sa sút. Do vậy, quá
trình khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ
nhận thức, trình độ lý luận, trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật
với việc đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế. Đồng thời trong hoạt động thực tiễn phải
tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Câu 2: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức hãy làm rõ vai trò của tri thức với hoạt động thực tiễn.
Ý thức chính là sự nhận thức về thế giới quan thông qua bộ óc của con người. Trong thực
tiễn, con người có những hoạt nhằm cải tạo thế giới phục vụ cho nhu cầu sống của mình,
đồng thời cũng trong quá trình đó mà con người có ý thức. Ý thức là 1 hiện tượng tâm lý
xã hội có kết cấu phức tạp, bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí. Trong đó tri thức là
quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.
7
Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Sự hình thành và phát triển của
ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên.
Con người càng tích lũy được nhiều tri thức thì ý thức thật càng cao, càng đi sâu vào bản
chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng
lên.
Tri thức chính là cái mở đầu cho hoạt động thực tiễn của con người. Chỉ khi có tri thức,
con người mới xác định được hành động, việc làm của mình một cách đúng đắn. Trong bất
cứ hoàn cảnh, công việc nào, không chỉ trong khoa học mà ngay cả đời sống, con người
cũng cần phải có tri thức. Tri thức ở đây không phải là những gì quá to lớn hay đặc biệt,
mà chính là những hiểu biết, những điều mà chúng ta được học hàng ngày. Đó có thể là
những quy tắc xử xự, những lễ nghĩa mà từ bé chúng ta được dậy bảo. Cũng là những kiến
thức trong sách vở mà chúng ta rèn luyện và học tập. Là những điều mà ta tích lũy được

nhận thức”. Chủ nghĩa Mác coi lý luận và thực tiễn liên hệ với nhau không thể tách rời.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn có vai trò đặc biệt to lớn đối
với nhận thức, nó chính là cơ sở mục đích, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm tra
chân lý, và do đó cũng là của lý luận. Mọi tri thức, lí luận con người có được xét cho cùng
đều xuất phát từ thực tiễn. Ngày nay, khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, mối quan hệ này cũng không thay đổi. Bản thân khoa học chỉ có khả năng đem lại
hình ảnh về thế giới với những đặc trưng, bản chất của nó.Lực lượng sản xuất vẫn tồn tại
với tư cách là đối tượng của khoa học, còn khoa học vẫn là hình thức hoạt động của con
người, là sự phản ánh hiện thực.
Lý luận luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội.
Chỉ khi được đưa vào thực tiễn, ý niệm, tư tưởng, lý luận mới có thể cải tạo thế giới. Nếu
dừng lại trong lĩnh vực ý thức chúng không có khả năng cải biến một cái gì ngoài khả năng
ý thức. Lý luận hoành thành chức năng của xã hội khôgn phải ở ngoài khuôn khổ cảu thực
tiễn, mà là ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội.
“Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn nù quáng. Lý luận mà không
có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Như vậy thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận để soi đướng, dẫn dắt, chỉ
đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm. Còn lý luận phải dựa
trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn, và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ
mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn và lý luận cần đến nhau, nương tựa nhau, hậu
thuẫn và bổ sung cho nhau.
Lý luận có vai trò quan trọng đối với thực tiễn, lý luận như “kim chỉ nam” , chỉ phương
hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì trong công việc người ta
chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố
quyết định thành công trong thực tiễn. “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà
đi” . “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa
hay vấp váp. Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh
lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém
lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó
cũng không thể hiểu được bản chất và cũng thể vận dụng được lý luận để giải quyết những

điều cũng không còn chỗ đúng.
Chính vì vậy, trong bất cứ công việc nào, dù lớn hay bé, cũng cần phải biết áp dụng một
cách linh hoạt và sáng tạo lý luận, kiến thức vào thực tiễn thì mới có thể thành công được.
Câu 2: Tìm hiểu mâu thuẫn cơ bản ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội?
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải tạo cách mạng xã hội tư bản chủ nghĩa
thành xã hội xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền
và kết thúc khi xây dựng xong các cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng kinh tế của thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nhiệm vụ cơ bản của
nhà nước trong thời kì quá độ, một mặt là phát huy đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân lao
động, chuyên chính với mọi hoạt động chống chủ nghĩa xã hội, mặt khác từng bước cải tạo
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Đầu tiên là cải tạo những thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa theo hướng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng bước phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đồng thời tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
10
trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa chiếm địa vị chủ
đạo trong xã hội, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.
Tiếp theo, đối với những nước kém phát triển, còn phải phát triển lực lượng sản xuất, công
nghiệp hoá đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật mà thiếu nó thì không thể có chủ
nghĩa xã hội. Thời kì quá độ dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tình hình lịch sử cụ thể của mỗi
nước, nhất là vào trình độ xuất phát ban đầu. Trong thời kì đó, việc tiến hành cải tạo xã hội
ở từng nước có thể sử dụng những hình thức và phương pháp cụ thể riêng biệt phù hợp với
những điều kiện lịch sử, dân tộc, kinh tế, chính trị và văn hoá của mỗi nước. Ở Việt Nam,
sau 1975, cả nước bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội VII Đảng Cộng
sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ. Cương
lĩnh đã khẳng định tính tất yếu của thời kì quá độ, đề ra những phương hướng cơ bản và
những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại trong
thời kì đó. Cương lĩnh cũng chỉ rõ, thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá
trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời

Đồng thời,phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với xu thế của
thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam: cách mạng dân tộc, dân
chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trước hết
là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, dân chủ đồng thời nó là tiền đề để “ làm cho
nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm
no, và sống một đời hạnh phúc”, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Vì vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục hợp
lôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc, dân chủ được thực
hiện triệt để.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lên chủ nghĩa xã
hội, nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; do điều kiện xuất phát riêng của
mỗi quốc gia quy định. Trước đây, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ với “đặc
điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không
phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Khi cả nước thống nhất cùng tiến lên
chủ nghĩa xã hội, đặc điểm trên vẫn còn tồn tại. Phân tích rõ hơn thực trạng kinh tế, chính
trị của đất nước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất
nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực
dân phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã
hội và nền độc lập của nhân dân.
Hồ Chí Minh chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đó
là từ 1 nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không kinh qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa. Đây là vấn đề mới cần nhận thức và tìm giải pháp đúng đắn để có hình
thức, bước đi phù hợp với Việt Nam. Mâu thuẫn cơ bản trong thời kì quá độ là mâu thuẫn
giữa 1 bên phải tiến lên xây dựng 1 chế độ xã hội mới có “ công, nông nghiệp hiện đại,
khoa học kĩ thuật tiên tiến” với 1 bên là tình trạng lạc hậu phải đối phó với bao thế lực cản
trở, phá hoại mục tiêu của chúng ta”.
Ban đầu dựa theo kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc, Hồ Chí Minh dự đoán chỉ
trong vòng mấy kì ngắn hạn thì sẽ hoàn thành nhưng sau đó kế hoạch được điều chỉnh “

hệ rất chặt chẽ với nhau. Học và hành là hai mặt của một qua trình thống nhất, nó không
thể tách rời mà phải luôn gắn chặt với nhau làm một .Hành vừa là mục đích vừa là phương
pháp học tập. Bác Hồ từng nói “lý luận phải đi chung với thực tiễn nếu không lý luận có
hay đến mấy cũng sẽ trở thành lý luận suông”. Chỉ khi thực hành thì việc học mới có giá
trị, mới phát huy được hết những lợi ích của nó. Có hành thì chúng ta có thể kiểm chứng
lại lý thuyết và chỉnh sửa những điều chưa đúng, và hơn thế nữa đó còn là cơ hội tuyệt vời
cho chúng ta tích lũy những kinh nghiệm sống cho bản thân mà việc học không thể cung
cấp cho ta được.Một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng
vào thực tiễn, thì học chẳng để làm gì cả.Học mà không hành thì vô ích.
Học ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường , không phải chỉ có kiến thức do
thầy cô truyền thụ. Còn có rất nhiều điều hay mới lạ trong cuộc sống mà ta cần phải học.
Sự học rất mênh mông bao la , không có giới hạn cho nên ta phải học tập không ngừng. ở
lứa tuổi nào cũng phải học. Học ở nhà trường, gia đình, xã hội. Học thầy, học bạn, học ở
mọi nơi mọi chốn ,“đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
Trong tình hình đất nước đang trên đà phát triển thì việc lại càng được xem trọng.Người
ta coi trọng kiến thức, bằng cấp.Đó cũng là lí do vì sao mà lối học vẹt, học vì điểm lại ngày
càng phổ biển trong học đường. thiếu thực hành nên kĩ năng sống và các vấn đề cơ bản
cuộc sống mà học sinh lại không biết, và hầu như là lúng túng trước những tình huống bất
ngờ xảy ra.Có những người rất thành công là bởi vì họ biết kết hợp một cách tinh tế giữa
học và hành.Hành động sẽ mang lại thành công cho chúng ta,và việc học là chỗ dựa, là cơ
sở cho hành.Thực tiễn là cơ sở của lý thuyết và chính lý thuyết soi sáng lại cho thực tiễn.
Là học sinh, sinh viên ta cần phải có ý thức đứng đắn trong việc học, phải có thái độ học
tập nghiêm túc, không học qua loa chiếu lệ, vừ học vừa chơi.Không học theo kiều học vẹt,
học lí thuyết suông mà phải kết hợp lí thuyết thực hành. Phải biết vận dụng sáng tạo những
kiến thức thầy cô truyền thụ vào bài tập thực hành . Có như vậy hiệu quả học tập mới được
nâng cao.
13
CHƯƠNG 3: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Câu 1: Từ nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất hãy làm rõ đường lối đổi mới của nước ta hiện nay trên lĩnh vực kinh

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có
bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn biện
chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất.
Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những khác biệt
và đối lập xung đột từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải được giải quyết theo
nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận
động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy luật “từ những sự thay đổi về lượng thành
14
những sự thay đổi về chất và ngược lại”, quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá
trình phát triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự, lại vừa
có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng
cao hơn.
Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, nước ta đi lên CNXH. Kinh
nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kiềm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ
sản xuất lạc hậu, mà ngay khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ và có những yếu
tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực tế lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém lại phát triển không đồng đều, cho nên
cần phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mô
nhỏ đến quy mô lớn. Để xây dựng phương thức sản xuất XHCN, Đảng ta chủ trương xây
dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của
CNXH. Từng bước xã hội hóa XHCN, quá trình đó không phải bằng gò ép, mà được thực
hiện từng bước thông qua sự hỗn hợp các hình thức sở hữu như công ty cổ phần, chủ nghĩa
tư bản nhà nước, các hình thức hợp tác,… để dần dần hình thành các tập đoàn kinh tế lớn,
trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể đóng vai trò là nền tảng. Chúng ta chỉ bỏ qua những
gì của xã hội cũ không còn phù hợp, thực hiện chủ trương chuyển hóa cái cũ thành cái mới
theo định hướng XHCN.
Trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đảng ta đang vận dụng quy
luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản

chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc
sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX
& sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế
độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất lượng lao động của từng
cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành
hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có
quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản
xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng
buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.
Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định
đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực
lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần
kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc
kinh tế tư nhân).
Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng
một cách chủ quan duy ý chí. Sở hữu vừa là kết quả vừa là điều kiện cho sự phát triển của
lực lượng sản xuất, là hình thức xã hội có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản
xuất. Chính vì vậy, mỗi loại hình, hình thức sở hữu chưa thể mất đi khi chúng còn phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và cũng không thể tùy tiện dựng lên, hay thủ
tiêu chúng khi lực lượng sản xuất không đòi hỏi. Do vậy, khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội
phải tính đến sự biến đổi phức tạp từ quan hệ sản xuất, trong đó trực tiếp là chế độ sở hữu.
Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý
luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình thức bóc lột. Chỉ đến khi trình độ xã
hội hóa sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì
khi ấy mới có điều kiện chín muồi thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội không còn

ngày càng hội nhập với thế giới, hướng tới một nền kinh tế hiện đại tiên tiến, hòa nhâp
nhưng không hòa tan.
Câu 2: Đảng ta vận dụng quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng như thế nào trong công cuộc đổi mới hiện nay?
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một
hình thái kinh tế- xã hội nhất định. Dựa vào khái niệm đó, nó đã phản ánh chức năng xã hội
của các quan hệ xã hội của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện
tượng xã hội. Đúng vậy, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có một kết cấu kinh tế đặc trưng
là cơ sở hiện thực của xã hội, hình thành một cách quan trong quá trình sản xuất vật chất xã
hội. Nó bao gồm không chỉ những quan hệ trực tiếp giữa người với người trong sản xuất
vật chất mà nó còn bao gồm cả những quan hệ kinh tế, trao đổi trong quá trình tái sản xuất
ra đời sống vật chất của con người.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm: chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết
học, tôn giáo, nghệ thuật với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội,
các đoàn thể được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Bởi vậy, kiến trúc thượng tầng là những hiện tượng xã hội, biểu hiện tập trung đời sống
tinh thần của xã hội, là bộ mặt tinh thần tư tưởng của hình thái kinh tế -xã hội. Nó đóng vai
trò quan trọng cùng các bộ phận khác trong xã hội hợp thành cơ cấu hoàn chỉnh của hình
thái kinh tế-xã hội.
17
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thuần nhất và
thống nhất. Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng, không bao
hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu bao trùm là sở hữu toàn dân và
tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động,
không còn chế độ bóc lột.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì
vậy mà có sự thống trị về chính trị và tinh thần. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của
dân do dân và vì dân. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ để cải tạo xã hội cũ và xây
dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa học trở thành động lực cho sự phát triển xã hội.
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu

đào tạo, y tế”. Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ: ”Từ nay tới cuối thập kỷ, phải quan
tâm tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn
diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, công nghiệp
18
sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Nội dung cốt
lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con
người khỏi chế độ bóc lột. Bởi vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân
dân ta, việc giáo dục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư
tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội là việc làm thường xuyên, liên tục của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng.
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng
cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của xã hội. Toàn bộ quyền
lực của xã hội thuộc về nhân dân thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảo phát huy mọi
khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của mọi cá nhân. Trong cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ: ”Xây dựng nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”. Như vậy, tất cả các tổ
chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị - xã hội không tồn tại như một mục đích tư nhân
mà vì phục vụ con người, thực hiện cho được lợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao
động.
Câu 3: Vận dụng nguyên lý duy vật biện chứng về xã hội để nhận định những giá trị
tích cực và chỉ ra những hạn chế thuộc đặc điểm tinh thần truyền thống của người Việt
Nam đối với công cuộc xây dựng xã họi mới hiện nay?
Có cơ sở để nói rằng, con người Việt Nam, một mặt, do được sinh ra từ lịch sử đặc thù
của xã hội Việt Nam và được đặt trước những thách thức riêng biệt đối với sự phát triển
của xã hội Việt Nam nên chắc chắn có những nét đặc thù so với người phương Tây, người
Nga, người Trung Hoa hoặc Đông - Nam Á Song mặt khác, người Việt, ngay từ ngàn
xưa đã là sản phẩm của sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Có thể nói, về mặt địa - chính

Câu 4: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử hãy làm rõ tính tất yếu của
cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay?
Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin định nghĩa đấu
tranh giai cấp là “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động,
chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những
người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai
cấp tư sản”.
Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích
giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn
đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc lột.
Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội hoá ngày
càng sâu rộng của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội: Mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp
cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấp thống
trị bóc lột đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu.
Đấu tranh giai cấp - một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp
Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách mạng xã hội, thay thế phương
thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Phương thức sản xuất
mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát triển của sản xuất xã hội. Sản xuất phát triển sẽ
là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội. Dựa vào tiến trình phát triển
của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là
cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội như là đòn bẩy thay đổi các hình thái kinh tế xã hội vì
vậy “đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp góp phần xoá bỏ các thế lực phản động, lạc hậu đồng thời cải tạo cả bản
thân giai cấp cách mạng. Giai cấp nào đại biểu cho phương thức sản xuất mới, giai cấp đó
sẽ lãnh đạo cách mạng. Thành tựu mà loài người dạt được trong tiến trình phát triển của
lực lượng sản xuất, cách mạng khoa học và công nghệ, cải cách về dân chủ và tiến bộ xã
hội không tách rời cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp tiến bộ chống các thế lực thù
địch, phản động.
Đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là cuộc đấu tranh sau cùng trong lịch sử

lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội dân, giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư
bản chủ nghĩa gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống áp bức bất công,
chống bóc lột chống nghèo nàn lạc hậu đấu tranh chống tình trạng đói nghèo, kém phát
triển. Vì vậy, nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống
áp bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực,
sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù
địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh, nhân dân hạnh phúc. Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định: Động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân
21
và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát
huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội .
Câu 5: Phân tích luận điểm của C.Mác: “Bản chất con người không phải là một cái
trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hòa những quan hệ xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toan tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.11)
Tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong quan niệm của Hêghen và các nhà triết học tiền bối
trước Mác về bản chất con người. Dựa vào những nguyên tắc cơ bản thế giới quan của
CNDVBC, Mác khẳng định: “ Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu
của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội”
Con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó,
suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan
hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên
quan đến con người.
Con người là tác phẩm tuyệt diệu nhất của tạo hóa. Trong thế giới này chỉ có con người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status