Những yếu tố chính ảnh hưởng
đến quá trình tuyển nổi
Tuyển nổi là một quá trình tách chọn lọc các khoáng sản từ hỗn hợp bùn quặng bằng cách
sử dụng các chất hoạt động bề mặt hoặc các chất thấm ướt. Quá trình được sử dụng chủ
yếu để tách các loại quặng sunfit, cacbonat và các ôxit. Quặng phosphat, apatit, và than
cũng được tách bằng công nghệ tuyển nổi.
Sự tiến triển và các kết quả của quá trình tuyển nổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Trong đó
bao gồm thành phần vật chất ,đặc điểm xâm nhiễm và các tính chất khác của khoáng vật
có ích, đặc điểm thành phần độ hạt của pha rắn, mật độ và nhiệt độ của bùn, thành phần
của nước, chế độ tuyển, cấu tạo của máy tuyển nổi giá trị tối ưu của mỗi yếu tố cần
phải xác lập và duy trì thường xuyên. Việc làm mất đi dù chỉ là một trong các giá trị tối
ưu này có thể ảnh hưởng đáng kể đến quá trình tuyển nổi.
1. Đặc điểm của khoáng vật có ích đưa vào tuyển.
Tính nổi của quặng được quyết định bởi thành phần vật chất (tính chất của khoáng vật
riêng và tỷ lệ định lượng của chúng) đặc điểm cộng sinh của khoáng vật, sự có mặt của
chúng trong các tạp chất đồng hình, những thay đổi thứ sinh của các khoáng vật (sự
phong hoá , oxyhoá ) ảnh hưởng lớn đến tính tuyển nổi có đặc điểm thành tạo của các
khoáng vật, sự biến đổi của chúng trong quá trình khai thác vận chuyển và làm giàu, sự
kết hợp của các khoáng vật khác nhau và sự cộng sinh của chúng.
Quặng apatit loại 3 Lào cai là loại quặng phong hoá. Nhìn chung quặng mền , bở rời. Tỷ
lệ các hạt mịn nguyên sinh tương đối lớn nhưng bên cạnh đó còn có những phần thô lỏi
do phong hoá chưa hoàn toàn được gọi là phần “nửa cứng” có hàm lượng cacbonat tương
đối cao. Quặng có chứa khoáng vật apatit Ca
5
F (PO
4
)
3
, thạch anh (SiO
2
), dolomit
2-
có kích thước gần như nhau nên chúng có tính nổi giống nhau . Khi hàm
lượng canxit và dolomit trong quặng đầu tăng thì làm giảm hàm lượng và thực thu P
2
O
5
trong tinh quặng, làm tăng sự mất mát P
2
O
5
vào quặng thải, hiệu quả tuyển kém. Do đó
cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của cacbonat đến hiệu quả tuyển nổi. Trong quặng 3
lượng canxit hầu như không có mà chủ yếu cacbonat ở đây là dolomit. Do đó người ta
chọn hàm lượng MgO để phản ánh lượng cacbonat có mặt trong quặng apatit loại 3 và
trong các sản phẩm tuyển.
Muscovit theo lý thuyết là một trong các khoáng chứa nhôm có tính nổi cao. Vì vậy,
trong nhiều trường hợp nó gây cản trở lớn cho việc tuyển nổi các khoáng vật có ích khác.
Khi muscovit ở dạng vảy, cực mịn có thể làm mất tính chọn riêng của việc tuyển tách
các khoáng vật, làm giảm chất lượng quặng tinh và làm tăng chi phí thuốc tuyển.
Các hydroxit sắt và nhôm trong đới phong hoá bị bở rời, mùn hoá làm tăng hàm lượng
slam, các slam này bám dính lên bề mặt các khoáng vật khác trong bùn quặng, phá huỷ
tính chọn riêng của tuyển nổi và có thể làm giảm tính nổi của apatit dẫn đến làm tăng sự
mất mát apatit vào quặng thải và bẩn quặng tinh.
Như vậy hàm lượng muscovit, các khoáng chứa nhôm, sắt khác được thể hiện qua tổng
hàm lượng Al
2
O
3
+ Fe
sự phân phối vào các điểm cấp thuốc, thứ tự cấp thuốc, thời gian tiếp xúc của các thuốc
với bùn. Chế độ cấp thuốc tuyển được xác định bằng thực nghiệm trong nghiên cứu tính
khả tuyển trong từng trường hợp cụ thể.
Theo các kết quả tuyển tại nhà máy tuyển quặng apatit Lào Cai thì hàm lượng các thành
phần vật chất của quặng 3 đầu vào thường xuyên biến đổi ảnh hưởng đến kết quả tuyển
nổi. Những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (tại Viện Hóa công nghiệp Việt
Nam và tại nhà máy tuyển quặng apatit Lào Cai ) tuyển các mẫu quặng apatit loại 3 có
hàm lượng các thành phần khác nhau và kết quả ứng dụng các kết quả nghiên cứu này
vào sản xuất thực tế của nhà máy tuyển.