Đội tuyển bóng đá nữ quốc
gia Đức
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức bao gồm các nữ cầu thủ bóng đá do huấn luyện
viên quốc gia lựa chọn. Đội đại diện cho Liên đoàn bóng đá Đức trên bình diện quốc tế
trong các trận thi đấu giao hữu quốc tế cũng như trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu
Âu của UEFA và Giải vô địch bóng đá nữ thế giới do FIFA tổ chức.
Đội bóng đá nữ quốc gia Đức là một trong các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia có nhiều
thành tích nhất trên thế giới. Đội đã 2 lần đoạt Giải vô địch bóng đá nữ thế giới và 6 lần
đoạt Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Đội đã liên tục đoạt giải vô địch bóng đá nữ châu
Âu trong 4 lần tổ chức gần đây nhất. Nước Đức vì thế là quốc gia đầu tiên và cho đến nay
là quốc gia duy nhất đồng thời đoạt giải vô địch bóng đá thế giới và châu Âu ở cả nam
lẫn nữ. Birgit Prinz là nữ cầu thủ giữ kỷ lục thi đấu trong đội tuyển quốc gia và đồng thời
cũng là vua phá lưới của năm 2003 trong Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Nữ huấn
luyện viên trưởng từ năm 2005 là Silvia Neid, kế nhiệm Tina Theune-Mayer là người đã
9 năm liền giữ chức vụ này.
Mục lục
1 Lịch sử
o 1.1 Tiền sử
o 1.2 1982-1987: Những năm đầu khó khăn
o 1.3 1988-1993: Các thành tích đầu tiên
o 1.4 1994-2001: Chiến thắng liên tục tại châu Âu, thất vọng trong Giải vô
địch bóng đá thế giới và Thế vận hội
o 1.5 2002-2005: Vô địch thế giới
o 1.6 2005-đến nay:Xây dựng mới, bảo vệ thành công chức vô địch
2 Đội bóng
o 2.1 Đội hình hiện tại
o 2.2 Các cựu nữ cầu thủ nổi tiếng
3 Các nữ cầu thủ giữ kỷ lục
o 3.1 Tham gia thi đấu nhiều nhất
o 3.2 Ghi bàn thắng nhiều nhất
4 Huấn luyện viên
đầu tiên. Đội tuyển bóng đá nữ Đức bao gồm chủ yếu là các nữ cầu thủ của SSG 09
Bergisch Gladbach. Bàn thắng đầu tiên do Doris Kresimon ghi vào phút thứ 25. Nữ cầu
thủ Silvia Neid, lúc đấy mới 18 tuổi, được thay vào trong hiệp hai và đã ghi thêm 2 bàn
thắng, góp phần mang lại chiến thắng 5:1 cho đội nữ Đức. Neid trở thành huấn luyện viên
đội tuyển từ năm 1996 và từ 2005 là huấn luyện viên trưởng của Đội bóng đá nữ quốc gia
Đức.
Nước Đức không tham dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu đầu tiên. Bisanz mong muốn
rút ngắn khoảng cách so với các đội bóng Bắc Âu và Ý bằng các luyện tập cơ bản và đào
tạo mầm non. Từ năm 1985 ông đã trẻ hóa đội tuyển, việc mà ban đầu đã làm cho đội thất
bại tại vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1987.
Đội tuyển quốc gia đầu tiên:
Marion Isbert (36' Claudia Reichler); Gaby Dlugi-Winterberg (52' Christel Klinzmann);
Petra Landers; Monika Degwitz; Brigitte Klinz; Rike Koekoek (41' Silvia Neid); Anne
Trabant; Bettina Krug (47' Birgit Offermann); Birgit Bormann; Doris Kresimon; Ingrid
Gebauer (47' Petra Bartelmann)
Bàn thắng: Neid (2), Bormann, Gebauer, Kresimon
[1]
1988-1993: Các thành tích đầu tiên
Năm 1989 là năm mang lại các thành quả đầu tiên cho đội tuyển. Đội lần đầu tiên đã vượt
qua được vòng loại vào thi đấu Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Giải năm 1989 được tổ
chức ngay tại Đức. Trận bán kết gặp đội tuyển Ý là trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội
bóng đá nữ quốc gia được truyền hình trực tiếp. Nữ anh hùng của trận này là thủ môn
Marion Isbert, phá được 3 quả luân lưu 11 m và tự sút thành công một quả 11 m. Trận
chung kết Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989 giữa đội bóng nữ Đức và Na Uy diễn ra
vào ngày 2 tháng 7 năm 1989 tại Osnabrück trước 23.000 khán giả, cho đến nay vẫn là kỷ
lục về số lượng khán giả cho một trận thi đấu trên sân nhà của Đội bóng đá nữ quốc gia
Đức. Đội bóng của DFB đã chiến thắng với tỷ số 4:1, đánh dấu bước đột phá cho nền
bóng đá nữ của Đức. Silvia Neid đóng vai trò đạo diễn khu trung tuyến, ngôi sao Doris
Fitschen nổi bật ở hàng hậu vệ và Heidi Mohr thuộc vào trong số những tiền đạo xuất sắc
thế giới và Thế vận hội
Năm 1995 đội lại vào vòng chung kết của Giải bóng đá vô địch châu Âu, thắng trong tất
cả các trận thi đấu ở vòng loại và mãi cho đến trận bán kết gặp đội tuyển Anh đội vẫn
chưa thua một bàn. Trận chung kết diễn ra vào ngày 26 tháng 3 năm 1995 trên Sân vận
động Fritz Walter tại thành phố Kaiserslautern. Đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển
Thụy Điển với kết quả sít sao 3:2.
Đội hình vô địch châu Âu 1995:
Manuela Goller – Ursula Lohn – Anouschka Bernhard - Birgitt Austermühl – Bettina
Wiegmann – Maren Meinert – Silvia Neid – Martina Voss (Pia Wunderlich) – Dagmar
Pohlmann – Heidi Mohr – Patricia Grigoli-Brocker (Birgit Prinz)
Bàn thắng: Meinert, Prinz, Wiegmann
[4]
Giải vô địch thế giới lần thứ hai được tổ chức trong mùa hè 1995 tại Thụy Điển. Tuy vào
được vòng chung kết nhưng ước mơ vô địch thế giới đã không thành, đội tuyển Na Uy đã
thắng trận chung kết với tỉ số 2:0.
Một năm sau đấy, tại Atlanta, bóng đá nữ lần đầu tiên được tổ chức thi đấu trong Thế vận
hội. Bettina Wiegmann đã ghi bàn thắng Thế vận hội đầu tiên trong trận khai mạc gặp
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Nhật. Thế nhưng đội tuyển Đức không qua được vòng
đầu. Gero Bisanz xin từ chức sau giải này. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đội tuyển bóng đá
nữ của Đức đã trở thành một trong những đội nữ mạnh nhất. Tina Theune-Meyer, từ
1983 là phụ tá huấn luyện viên, trở thành người kế nhiệm. Theune-Meyer trẻ hóa đội ngũ,
Silvia Neid chấm dứt sự nghiệp đá bóng, các cầu thủ trẻ như Ariane Hingst, Kerstin
Stegemann hay Sandra Smisek bắt đầu nổi tiếng.
Cuộc thử thách đầu tiên cho đội bóng là Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1977 tại Na
Uy. Nhờ vào chiến thắng 2:0 trong trận gặp đội nữ Đan Mạch, đội đã lọt vào vào bán kết
và tại đây, đội đã thắng dội tuyển bóng đá nữ quốc gia Thụy Điển với tỉ số 1:0. Trong
trận chung kết, đội bóng của huấn luyện viên Theune-Meyer lại gặp đội bóng nữ Ý. Nhờ
vào các bàn thắng của Sandra Minnert và Birgit Prinz, đội tuyển nữ của Đức đã đoạt giải
vô địch châu Âu lần thứ tư.
Bàn thắng: Müller
[6]
2002-2005: Vô địch thế giới
Đội tuyển của Theune Meyer vượt qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế
giới năm 2003 được tổ chức ở Hoa Kỳ mà không để mất một điểm nào. Sau vòng thi đấu
bảng với các chiến thắng rõ rệt, đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển Nga trong trận tứ
kết với tỉ số 7:1. Gặp đội chủ nhà trong trận bán kết, đội tuyển Đức đã chiến thắng với tỉ
số 3:0 nhờ vào các bàn thắng của Maren Meinert và Birgit Prinz trong những phút thi đấu
cuối cùng. Trận này được nhiều chuyên gia cho là trận thi đấu bóng đá nữ hay nhất từ
trước đến nay.
[7]
. Đội tuyển gặp Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Thụy Điển trong trận
chung kết. Thụy Điển mở tỉ số trước ở phút thứ 41 do lỗi của hàng hậu vệ Đức. Ngay sau
khi bắt đầu hiệp 2, Maren Meinert đã gỡ hòa cho đội tuyển Đức. Nia Künzer đội đầu ghi
bàn trong hiệp phụ và Đức đoạt chức vô địch thế giới nhờ vào quy định bàn thắng vàng.
Liên đoàn bóng đá Đức là liên đoàn đầu tiên và cho đến nay (2007) là liên đoàn duy nhất
đã đoạt giải vô địch bóng đá thế giới ở cả nam lẫn nữ. Chiến thắng này là một đột phá
cho nền bóng đá nữ ở Đức. Hằng ngàn người hâm mộ đã nhiệt liệt đón chào khi đội tuyển
vô địch thế giới về đến quê hương.
Đội hình vô địch thế giới 2003:
Silke Rottenberg – Kerstin Stegemann, Ariane Hingst, Sandra Minnert, Stefanie
Gottschlich – Kerstin Garefrekes (phút 76 Martina Müller), Bettina Wiegmann, Renate
Lingor, Pia Wunderlich (phút 88 Nia Künzer) – Maren Meinert, Birgit Prinz
Bàn thắng: Künzer, Meinert
[8]
Trận thi đấu đầu tiên sau giải vô địch thế giới là trận gặp Bồ Đào Nha trong vòng loại
Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Tỉ số 13:0 cho đến nay là chiến thắng cao nhất của đội
tuyển Liên đoàn bóng đá Đức. Trong năm kế tiếp đội đến Athena tham dự Thế vận hội.
địch bóng đá nữ thế giới 2007 được tổ chức tại Trung Quốc. Lần đầu tiên, đội tuyển Đức
đã nhận được một khoản tiền thưởng từ Liên đoàn bóng đá Đức khi qua được vòng loại
của một giải vô địch lớn. Đội tuyển đã nhận được tổng cộng 200.000 Euro.
Một cảnh trong trận thi đấu Đức-Séc tại Gera vào ngày 2 tháng 8 năm 2007
Năm tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới khởi đầu không mấy may mắn cho đội tuyển
Đức. Giải 4 đội quốc gia tại Trung Quốc chỉ mang lại 3 trận hòa Trung Quốc, Anh và
Hoa kỳ. Tại Cúp Algarve vào tháng 3 đội chỉ có một trận thắng duy nhất trong trận gặp
Đan Mạch nhưng lại thua 3 trận khi gặp các đội tuyển của Na Uy, Pháp và Ý, đứng hạng
thứ 8. Đội tuy đã thi đấu áp đảo trong tất cả các trận nhưng lại bỏ lỡ cơ hội ghi bàn thắng
rất nhiều lần. Vì kết quả của cúp này mà vào tháng 3 năm 2007 đội tuyển Đức đã phải
nhường vị trí dẫn đầu trong danh sách xếp hạng của FIFA lại cho Đội tuyển bóng đá nữ
quốc gia Hoa Kỳ sau hơn 3 năm đứng đầu bảng.
Cùng với các trận thi đấu vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009, đội đã có
thể tiếp tục kết nối với các thành tích trước đây: thắng Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hà
Lan với tỉ số 5:1. Trận thi đấu gặp Thụy Sĩ trong vòng loại Giải vô địch châu Âu cũng là
dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập đội bóng nữ, chiến thắng 7:0 trong trận này cũng là
chiến thắng lần thứ 200 trong các trận thi đấu quốc tế.
Trong vòng thi đấu bảng tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2007, đội tuyển gặp các đội
bóng của Argentina, Anh và Nhật. Nhờ chiến thắng đội Argentina (11:0, chiến thắng đậm
nhất từ trước đến nay trong Giải vô địch bóng đá thế giới) và đội Nhật (2:0) cũng như hòa
đội Anh mà đội tuyển Đức lọt vào vòng tứ kết. Đội bóng Đức thắng trận tứ kết gặp Đội
tuyển bóng đá nữ quốc gia Triều Tiên với tỉ số 3:0. Cũng với tỉ số 3:0, đội đã thắng đội
tuyển Na Uy trong trận bán kết. Đánh bại đội tuyển Brasil trong trận chung kết ngày 30
tháng 9 năm 2007 tại Thượng Hải (2:0), đội lại một lần nữa đoạt chức vô địch thế giới.
Nhờ vào nữ thủ môn Nadine Angerer mà đội đạt thêm một kỷ lục mới: không một bàn
thua trong suốt một giải vô địch.
Đội hình vô địch thế giới 2007:
Nadine Angerer – Kerstin Stegemann; Annike Krahn; Ariane Hingst; Linda Bresonik -
Kerstin Garefrekes; Simone Laudehr; Renate Lingor; Melanie Behringer (Martina
SC 07 Bad
Neuenahr
2 -
21
Silke
Rottenberg
25/01/1972
1993 1.FFC Frankfurt 123 -
Hậu vệ
3
Saskia
Bartusiak
29/09/1982
2007 1.FFC Frankfurt 6 -
15 Sonja Fuss 05/11/1978
1996
FCR 2001
Duisburg
51 3
17 Ariane Hingst
25/07/1979
2
Kerstin
Stegemann
29/09/1977
1995
SG Wattenscheid
09
168 7
Tiền vệ
19
Fatmire
Bajramaj
01/04/1988
2005
FCR 2001
Duisburg
11 1
7
Melanie
Behringer
18/11/1985
2005 SC Freiburg 21 8
6
1995 1. FFC Frankfurt 135 33
20
Petra
Wimbersky
09/11/1982
2001 1. FFC Frankfurt 66 15
Tiền đạo
11 Anja Mittag 16/05/1985
2001
1. FFC Turbine
Potsdam
41 5
16
Martina
Müller
18/04/1980
2000 VfL Wolfsburg 61 27
9 Birgit Prinz
25/10/1977
1994 1. FFC Frankfurt 170 114
Katja Bornschein
Petra Damm
Doris Fitschen
Manuela Goller
Stefanie Gottschlich
Marion Isbert
Steffi Jones*
Frauke Kuhlmann
Nia Künzer*
Ursula Lohn
Maren Meinert
Heidi Mohr
Jutta Nardenbach
Silvia Neid
Sissy Raith
Britta Unsleber
Martina Voss
Elke Walther
Bettina Wiegmann
Patricia Brocker Claudia Müller
Chú thích: Nữ cầu thủ có đánh dấu * là vẫn còn thi đấu
Các nữ cầu thủ giữ kỷ lục
Tham gia thi đấu nhiều nhất
Các nữ cầu thủ dưới đây đã tham gia thi đấu quốc tế ít nhất là 100 lần:
[10]
Số lần Tên Thi đấu lần đầu Thi đấu lần cuối
170 Birgit Prinz 27 tháng 7 năm 1994
vẫn còn thi đấu
168
Steffi Jones 3 tháng 7 năm 1993 14 tháng 3 năm 2007
111
Silvia Neid 10 tháng 11 năm 1982 25 tháng 7 năm 1996
104 Heidi Mohr 19 tháng 5 năm 1986 29 tháng 9 năm 1996
102
Pia
Wunderlich
7 tháng 12 năm 1993 1 tháng 3 năm 2006
Ghi bàn thắng nhiều nhất
Các nữ cầu thủ sau đây đã ghi ít nhất 25 bàn thắng trong các trận thi đấu quốc tế
[11]
Số bàn
thắng
Đá ph
ạt
11 m
Tên
Ngày ghi bàn thắng
đầu tiên
Ngày ghi bàn thắng
cuối cùng
114 1 Birgit Prinz 27 tháng 7 năm 1994
vẫn còn thi đấu
83 0 Heidi Mohr 27 tháng 7 năm 1986 29 tháng 9 năm 1996
51 14 Bettina Wiegmann 14 tháng 10 năm 1990
27 tháng 9 năm 2003
48 0 Silvia Neid 10 tháng 11 năm 1982
tiên của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức. Vị huấn luyện viên trưởng này đã dẫn dắt
thành công đội bóng trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989, 1991 và
1995. Năm 1993 đội về hạng 4, cho đến nay là thành tích kém nhất trong Giải vô
địch bóng đá nữ châu Âu. Trong các Giải vô địch bóng đá thế giới Bisanz đã cùng
với đội tuyển đứng hạng 4 năm 1991 và hạng nhì năm 1995. Ông đã cùng Tina
Theune-Meyer định hướng thành công cho việc đào tạo đội cầu thủ trẻ.
Tina Theune-Meyer (1996-2005) sinh ngày 4 tháng 11 năm 1953 tiếp nhận chức
vụ huấn luyện viên trưởng sau Thế vận hội mùa hè 1996. Theune-Meyer là người
phụ nữ đầu tiên có bằng huấn luyện viên bóng đá. Dưới sự lãnh đạo của bà đội
tuyển Đức đã đoạt chức vô địch trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1997,
2001 và 2005. Đội đoạt huy chương đồng trong Thế vận hội 2000 và 2004. Thành
công lớn nhất của bà là các chiến thắng trong Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
2003 tại Hoa Kỳ. Tina Theune-Meyer là nữ huấn luyện viên đội tuyển quốc gia
thành công nhất cho đến nay. Bà đã gặt hái thành quả đào tạo mầm non và đã đưa
nhiều nữ tuyển thủ của đội U-19 vào đội tuyển quốc gia. Bà xin từ chức sau thành
công trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2005.
Silvia Neid (từ 2005) sinh ngày 02 tháng 5 năm 1964, trước đó là phụ tá của Tina
Theune-Meyer và đã là huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia U-19. Bà đã cùng
đội U-19 đoạt chức vô địch thế giới năm 2005. Việc Silvia Neid kế nhiệm chức
vụ huấn luyện viên không phải là đã không gây ra tranh cãi. Sau thất bại trong
Cúp Algarve 2007, bà đã bị nhiều cổ động viên chỉ trích về phương pháp làm việc
cũng như trong việc tuyển lựa nữ cầu thủ cho đội tuyển. Tuy vậy Neid đã bảo vệ
thành công danh hiệu vô địch thế giới tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007.
Hợp đồng huấn luyện viên của bà với Liên đoàn bóng đá Đức được ký kết kéo dài
cho đến năm 2011 ngay trong khi giải vô địch đang được tiến hành. Trợ lý huấn
luyện viên là Ulrike Ballweg.
Trang phục
Thông thường các nữ cầu thủ mang áo trắng, quần đen và tất trắng. Màu trắng đen là màu
truyền thống của nước Phổ. Áo trắng có mang vạch của adidas trên vai. Vào khoảng từ cổ
đến ngang thắt lưng là một đường sọc có chiều ngang rộng thêm ra, bên phải là màu đỏ,
Các trận thi đấu quốc tế
Thi đấu năm 2007
Ngày
tháng
Nơi thi đấu Đối thủ Giải
Kết
quả
Nữ cầu thủ ghi bàn
26
tháng 1
2007
Quảng Châu
(Trung Quốc)
Hoa Kỳ
Giải 4 quốc
gia
0:0
28
tháng 1
2007
Quảng Châu
(Trung Quốc)
Trung
Quốc
Giải 4 quốc
gia
0:0
30
tháng 1
2007
Olhão (Bồ Đào
Nha)
Ý Algarve Cup 0:1
12
tháng 4
2007
Wattenscheid Hà Lan
Giải vô địch
bóng đá nữ
châu Âu 2009
(vòng loại)
5:1
Torny 17); Prinz 31’,
Mittag 34’, Lingor 48’,
69’, Garefrekes 68’
10
tháng 5
2007
Haverfordwest
(Wales)
Wales
Vòng loại
Giải vô địch
châu Âu
6:0
Prinz 8’, 20’, 87’,
Stegemann 45’,
Garefrekes 81’, Müller
85’
Giải vô địch
châu Âu
7:0
Smisek 14’, Behringer 16,
35’, Prinz 33’, Garefrekes
53’, 64’, 90’
30
tháng 8
2007
Mainz Na Uy
Thi đấu hữu
nghị
2:2
Behringer 22’, Prinz 75’;
Larsen Kaurin 1’, R.
Gulbrandsen 28’
10
tháng 9
2007
Thượng Hải
(Trung Quốc)
Argentina
Giải vô địch
bóng đá nữ
thế giới 2007
11:0
Behringer 12’, 24’,
Garefrekes 17’, Prinz 29’,
45, 59’, Lingor 51, 90.’,
Garefrekes 44’, Lingor
67’, Krahn 72’
26
tháng 9
2007
Thiên Tân (Trung
Quốc)
Na Uy
Bán kết Giải
vô địch bóng
đá nữ thế giới
3:0
Rønning 42’, Stegemann
72’, Müller 75’
30
tháng 9
2007
Thượng Hải
(Trung Quốc)
Brasil
Chung kết
Giải vô địch
bóng đá nữ
thế giới
2:0 Prinz 52’, Laudehr 86’
Thống kê các trận thi đấu quốc tế
Sau đây là bản thống kê các trận thi đấu quốc tế của đội (thời điểm tháng 10 năm 2007):
Quốc gia
Số trận thi Số trận Số trận Số trận Bàn