Bò sát ( phần 2 ) Đặc điểm thích nghi của Bò sát (Reptilia) - Pdf 18

Bò sát ( phần 2 )
Đặc điểm thích nghi của Bò sát (Reptilia)
Trong thiên nhiên bò sát có nhiều kẻ thù, vì vậy chúng phải có những
biện pháp bảo vệ khác nhau. Với nhiều màu sắc, hình dạng và phương
thức ngụy trang khác nhau.
- Nhìn chung bò sát thường chạy trốn và tìm nơi ẩn nấp trước kẻ thù.
Thằn lằn, rắn, đang rình mồi, nghe tiếng động thì bỏ mồi lủi nhanh vào
bụi rậm hoặc các khe hốc thiên nhiên. Rùa đầm, rắn nước khi gặp nguy
hiểm, lội xuống nước dấu kín vào trong bùn.
- Nhiều loài rắn, thằn lằn có màu sắc nguỵ trang giống màu sắc
của môi trường. Những loài sống ở đất bùn thân có màu chì để lẫn vào
màu bùn (rắn liu điu, rắn giun ). Những loài sống trên cây thân có màu
vỏ cây (tắc kè, cắc kè, cắc kè bay ). Những loài sống trong đám lá cây
thì thân có màu xanh (rắn lục). Nhiều loài bò sát có khả năng thay đổi
màu sắc cơ thể cho thích hợp với màu của môi trường, điển hình là tắc kè
hoa và cắc kè. Thân của cắc kè (Calotes versicolor) có màu nâu, lục hoặc
vàng tùy thuộc vào chúng ở trên cây, trong tán lá cây hoặc đang ở mặt
đất. Tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu nhanh chóng và độc đáo. Chỉ
trong giây lát màu sắc thân có thể đổi từ trắng sang vàng, da cam, từ xanh
lá cây sang tím, nâu thẫm, đen.
- Một số loài bò sát còn có thêm hình dạng giống sự vật chung quanh.
Rắn lục dây giống dây leo trên cành cây. Rùa đầm có mai phủ rong rêu
làm kẻ thù không phát hiện được khi bơi dưới nước. Những hoa văn trang
trí trên thân của nhiều loài bò sát giúp chúng ẩn mình khá dễ dàng. Một
số loài bò sát lại có hình dạng nguỵ trang. Rắn trun cườm (Cylindrophis
rufus) và rắn giun (Typhlops) có đầu và đuôi giống nhau khó phân biệt.
Một số rắn lành có hình dạng giống rắn độc làm cho kẻ thù phải sợ thí dụ
rắn hổ trâu (Ptyas mucosus) có thể bạnh cổ, dựng đứng phần trước thân,
phun phì phì như hổ mang.

Loài Haloderma suspertum sống trên cát, có thể cắn người (theo

+ Vũ khí để tấn công: Một số loài rắn (rắn giun) dùng đuôi nhọn và cứng
đâm kẻ thù, hoặc quật đuôi vào kẻ thù (kỳ đà, cá sấu). Thằn lằn, cá sấu,
rắn, ba ba cắn kẻ thù, đặc biệt rắn độc có thể cắn chết kẻ thù. Những
loài thằn lằn có gai ở đầu và cổ, có sừng ở đầu thì dùng gai và sừng để
chiến đấu. Một số loài thằn lằn, rắn như trăn đỏ đuôi đen (Trapidophis) ở
châu Mỹ khi bị bắt và bị đau từ miệng trăn phóng ra một tia máu.
+ Một số loài bò sát có khả năng tiết ra những chất có mùi hôi để xua
đuổi kẻ thù. Những tuyến bài tiết các chất này ở phía sau lỗ huyệt thường
được gọi là tuyến hậu môn. Tuyến hậu môn ở cá thể cái thường to hơn cá
thể đực. Rắn ráo, rắn sọc tiết ra chất bài tiết rất khó chịu, mùi giữ lại hàng
giờ không tan. Một số loài rùa có tuyến hậu môn và tuyến yếm dùng để
xua đuổi kẻ thù. Một số loài rắn nước và rùa khi gặp nguy hiểm thì thải
phân có mùi rất khó chịu làm cho kẻ thù phải xa lánh.
+ Vài loài bò sát khi gặp nguy hiểm phát ra các âm thanh để cảnh cáo kẻ
thù (rắn hổ mang chúa, cá sấu, thằn lằn ) do cơ quan âm thanh phát ra
(thường không phát triển). Một số loài lại dùng các bộ phận khác phát ra
âm thanh. Rắn đuôi kêu phần đuôi có một đoạn hóa sừng chồng lên nhau
khi rắn bò phần đuôi này khi va chạm với các vật thể chung quanh sẽ phát
ra tiếng kêu. Trăn mốc, rắn lục có phần đuôi biến đổi có thể gõ xuống
đất hoặc cành lá khô để phát ra âm thanh.
+ Vài loài rắn độc có thể phun nọc độc ra ngoài. Rắn hổ mang có thể
phun nọc vào mắt kẻ địch cách xa hàng mét và làm hỏng mắt.
- Hành động đứt đuôi hoặc bong da để tháo chạy: Thằn lằn, rắn mối,
tắc kè khi bị kẻ thù tấn công hoặc chộp được đuôi chúng sẽ tự rụng
đuôi. Ðuôi đứt rồi khỏi cơ thể vẫn cử động một lúc làm cho kẻ thù tập
trung vào mẩu đuôi đứt rời, còn con vật đứt đuôi thì trốn thoát. Chỗ đuôi
bị đứt có mọc lại đuôi mới.
Vài loài tắc kè không đứt đuôi mà bong luôn chỗ da bị kẻ thù tóm được,
chỗ bị bong sẽ nhanh chóng hình thành lớp da mới.
Nguồn thức ăn của Bò sát (Reptilia)

- Thành phần thức ăn của bò sát thay đổi tuỳ theo điều kiện sống. Rắn
sống gần ao cá, thức ăn chủ yếu là cá, nhưng cũng loại rắn đó sống ở nơi
ít ao hồ hơn thì tỷ lệ ăn cá cũng rất ít. Ở nhóm thằn lằn, phần lớn thức ăn
vào mùa lúa chín là cào cào và châu chấu, ứng với thời kỳ phát triển của
những loài này trên đồng ruộng. Sau mùa gặt hái, cào cào và châu chấu
hiếm dần, thằn lằn phải đi kiếm những loại côn trùng khác để ăn. Thành
phần thức ăn của bò sát còn thay đổi tuỳ theo sự chọn lựa thức ăn ở
mỗi lứa tuổi. Cá sấu còn non ăn động vật không xương sống. Khi
trưởng thành lại lựa chọn những thức ăn là động vật có xương sống, kể cả
những mồi lớn như trâu, bò. Rắn sọc dưa (Elaphe) lúc mới nở chỉ ăn sâu
bọ. Khi đã lớn lên một chút, loài này ăn thêm ếch, nhái. Khi cơ thể đạt
được kích thước nhất định, rắn sọc dưa chuyển sang ăn chuột, chim và
trứng chim. Một số loài thằn lằn, rùa lúc mới nở chỉ ăn sâu bọ. Khi đã lớn
lại ăn lá cây và quả.
Do khả năng tiêu hóa thức ăn nhanh, bò sát rất phàm ăn. Những loài bò
sát có kích thước nhỏ đòi hỏi thức ăn thường xuyên hơn so với những loài
bò sát có kích thước lớn. Thằn lằn nhỏ có thể săn bắt mồi suốt ngày. Rùa
con ăn liên tục. Số lượng thức ăn của rắn và trăn rất lớn. Trăn mắt võng
dài 6,7m, 1 năm ăn 30 bữa gồm 10 dê - 17 vịt. Rắn nước 1 năm ăn 40 bữa
gồm 200 con cá. Rắn hổ mang, 1 năm 30 bữa gồm 90 chuột.
Khả năng nhịn ăn của bò sát rất đáng kể, nhiều loài bò sát khi ngủ hè thì
nhịn ăn. Nhiều loài bò sát như cá sấu và thằn lằn cỡ lớn có thể nhịn ăn
hàng tháng vẫn bình thường. Rắn sọc dài (Elaphe longissima) nhịn ăn
trong khoảng 660 ngày (22 tháng), rắn nước (Natrix) từ 116 - 811 ngày.
Trăn mắt võng nhịn ăn được hai năm rưỡi và khi chết đói mắt hẳn hai
phần ba trọng lượng cơ thể ban đầu. Khả năng nhịn ăn của rắn gắn liền
với nhu cầu nước uống. Rắn nước (Natrix) vừa nhịn ăn vừa nhịn khát, có
thể sống khoảng 36 ngày và giảm 33% trọng lượng cơ thể ban đầu. Nếu
nó được cung cấp đầy đủ nước uống và không ăn, có thể sống trung bình
khoảng 116 ngày, có trường hợp đến 311 ngày. Khả năng nhịn ăn của rắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status