Báo cáo thực tập - Tình hình sản xuất cao su ở Việt Nam - Pdf 18

Báo cáo thực tập
- Tình hình sản
xuất cao su ở
Việt Nam
1
MỤC LỤC
Báo cáo thực tập - Tình hình sản xuất cao su ở Việt Nam 1
MỤC LỤC 2
I PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cao su là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính
chống chịu với điều kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ môi trường nên được
nhiều nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thích hợp quan tâm phát
triển trên qui mô diện tích lớn.
Với tỷ trọng 85-90% sản lượng được tiêu thụ tại thị trường quốc tế,
cao su tự nhiên là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam, với kim ngạch xuất khẩu liên tục đạt trên 1 tỷ USD/năm từ năm 2006
đến nay. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu được
516 ngàn tấn với tổng kim ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên đã đạt 1,422 tỷ
USD tăng 6,8 % về lượng và 95,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Hiện nay, Việt Nam đang nằm trong top 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu
2
cao su tự nhiên hàng đầu thế giới cùng với Malaysia, Indonesia, Thái Lan,
Ấn Độ.
Theo chiến lược phát triển cây cao su do Chính phủ đề ra, đến năm
2020 diện tích cao su phải đạt 800.000ha với sản lượng khai thác đạt 1.200
ngàn tấn mủ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, giá cả cao su trên thị
trường thế giới không ngừng biến động gây khó khăn cho ngành cao su xuất
khẩu ở Việt Nam. Không những thế một thực tế đặt ra là giá cao su xuất
khẩu ở Việt Nam luôn thấp hơn giá trung bình trên thị trường thế giới.
Diễn biến giá cả cao su ảnh hưởng lớn tới sản xuất, do đó việc nghiên

suất rất cao. Hiện cao su là cây trồng đứng thứ 2 về tỷ suất lợi nhuận, chỉ sau
cây cà phê. Nhu cầu tiêu thụ cao su của thế giới tăng trong khi nguồn cung ở
nhiều nước đang có chiều hướng giảm. Đây sẽ là cơ hội thúc đẩy sự phát
triển của cao su Việt Nam, do tiềm năng của cao su còn rất lớn.
Diện tích trồng cao su tập trung chủ yếu ở Đông Nam bộ (64%), kế
đến là Tây Nguyên (24,5%) và duyên hải miền Trung (10 %). Diện tích cây
cao su ở vùng Tây Bắc mới đạt khoảng 10.200 ha (chiếm 1,5%).
Bảng 2.1 Số liệu về sản xuất cao su trong nước 2008-2009
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2008 2009 So sánh 09/08 (%)
DT gieo trồng 1000ha 631,4 674,2 106,8
DT cho sản phẩm 1000ha 399,1 421,6 105,6
Năng suất tạ/ha 16,5 17,2 103,8
Sản lượng 1000 tấn 659,6 723,7 109,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Năm 2010 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đặt mục tiêu
tăng diện tích cao su lên trên 40.000ha đưa tổng diện tích cao su cả nước lên
715.000ha.
Theo Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA), sản lượng cao su tự nhiên
trong tháng 1/2010 đạt 47,6 ngàn tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Không giống với hầu hết những nước sản xuất cao su khác, sản xuất cao su
5
của Việt Nam thuộc về những doanh nghiệp lớn chủ yếu là doanh nghiệp
nhà nước. Vì cây cao su ở những đồn điền lớn không cho thu hoạch trong
mùa đông (cuối tháng 1 cho đến giữa tháng 4) nên trong thời gian này, sản
lượng cao su tự nhiên rất ít.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, sản lượng cao su tính
đến tháng 9 ước đạt 761,1 nghìn tấn, tăng 7,0% so với năm 2009. Sản lượng
tăng là do diện tích trồng cao su đã được mở rộng thêm 26 nghìn ha trong
năm nay ở vùng Tây Nguyên theo dự án chuyển đất rừng nghèo kiệt sang
trồng cao su và dự án trồng mới cao su ở một số tỉnh miền núi phía Bắc.

1/2009 chỉ đạt bình quân khoảng 1.280 USD/tấn, sau đó ổn định ở mức
1.420 – 1.485 USD/tấn trong quý I và quý II.
Từ tháng 6 đến tháng 12/2009, giá cao su xuất khẩu tăng liên tục. Đến
tháng 12/2009, cao su xuất khẩu đạt bình quân 2.004 USD/tấn, tăng 57% so
với tháng 1, riêng chủng loại SVR 3L đạt 2.622 USD/tấn. Lượng cao su và
trị giá xuất khẩu đã tăng liên tục trong quý 3 và quý 4, đặc biệt trong 2 tháng
cuối năm, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu đã tăng đáng kể so với cùng kỳ
năm trước.
Giá cao su thiên nhiên không tiếp tục giảm mà giữ ổn định trong 6
tháng đầu năm 2009. Ngoài ra, giá cao su tăng nhanh trong 6 tháng cuối năm
còn do mức tiêu thụ cao su của thị trường Trung Quốc tăng mạnh do sự cải
7
thiện chính sách kích cầu thị trường ô-tô nội địa của thị trường này. Đồng
thời, giá dầu thô tăng vào 2 quý cuối năm 2009 khi nền kinh tế thế giới bắt
đầu phục hồi đã nâng đỡ giá cao su thiên nhiên và lượng tiêu thụ gia tăng.
Thực tế là thị trường xuất khẩu thu hẹp song số lượng DN Việt Nam tham
gia xuất khẩu cao su lại tăng rất mạnh. Nhiều thị trường giảm khối lượng
cao su nhập khẩu song vẫn duy trì các ngành công nghiệp tiêu thụ cao su dù
với số lượng thấp. Cụ thể là năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu cao su sang
71 nước, không sụt giảm nhiều so với 2008 (73 nước) và số lượng doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu cao su tăng gấp đôi so với năm trước (năm 2008
có khoảng 230 DN) nhưng phần lớn quy mô xuất khẩu thấp. Nhờ vậy, lượng
cao su xuất khẩu của Việt Nam đã tăng so với năm 2008, kim ngạch xuất
khẩu tuy giảm so với năm 2008 nhưng vẫn đạt 1,2 tỷ USD, vượt kế hoạch đề
ra hồi đầu năm (1,1 tỷ USD) đây là kết quả rất đáng ghi nhận. Hiện có tới
70% tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào thị trường
Trung Quốc, điều này có thể tiềm ẩn những bất ổn khi thị trường nhập
khẩu xảy ra biến động cũng như việc các nhà nhập khẩu sẽ có lý do để
ép giá bởi có quá nhiều doanh nghiệp cùng tập trung vào một thị
trường.

tấn, giảm khoảng 18% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do phía
Trung Quốc vẫn tiếp tục kiểm soát chặt chẽ và hạn chế việc giao dịch cao su
tự do qua cửa khẩu tiểu ngạch. Một phần do giá tăng nhanh nên nhiều doanh
nghiệp Trung Quốc nhập khẩu cao su hạn chế để chờ giá giảm “nhiệt”. Tuy
nhiên, nhờ giá cao nên kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên trong tháng 9
đạt khoảng 243 triệu USD, chỉ giảm 12% so với tháng trước, nâng tổng giá
trị cao su xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm đạt trên 1,42 tỷ USD.
9
Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt Nam, nước ta đã xuất
khẩu 431 nghìn tấn cao su thiên nhiên (NR) trong 8 tháng đầu năm 2010,
tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất khẩu tăng mạnh đạt
gần 1,18 tỷ USD, tăng 93,8% so với cùng kỳ năm trước.
Bảng 2.2 Các thị trường xuất khẩu cao su chính của Việt Nam
Đơn vị: tấn (lượng) và 1.000 USD (giá trị)
STT
8 tháng/2009 8 tháng/2010 So sánh 2010/2009
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
1 TrungQuốc 284.986 420.391 252.432 674.171 88,58 160,37
2 Malaysia 16.897 23.803 27.059 71.039 160,14 298,44
3 Hàn Quốc 18.132 23.598 21.409 56.554 118,07 239,65
4 Đài Loan 13.508 21.242 18.610 55.679 137,77 262,11
5 Đức 11.081 17.595 15.881 48.715 143,32 276,87
Nguồn: Tổng cục Hải quan
10
2.3 Tình hình biến động giá cao su xuất khẩu trong thời gian qua
2.3.1 Tình hình biến động giá cao su trên thế giới
Sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu đã
khiến cho nhu cầu cao su tự nhiên tăng mạnh vào cuối năm 2009 đầu năm
2010, trong khi nguồn cung không kịp đáp ứng do yếu tố mùa vụ. Điều này
đã khiến cho giá cao su trên thị trường thế giới đầu năm 2010 liên tục tăng.

Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam cũng biến động theo cùng xu thế
giá của thị trường thế giới. Giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.210 USD/tấn
vào đầu tháng 7 và điều chỉnh giảm xuống mức thấp nhất của quý III vào
ngày 21/7, ở mức 2.960 USD/tấn, sau đó giá tăng vững cho đến thời điểm
hiện tại. Ngày 24/9, giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.320 USD/tấn, tăng nhẹ
3,4% so với mức giá hồi đầu quý III và tăng 12,2% so với mức giá thấp nhất
trong quý III. Đây cũng là mức giá cao nhất đạt được trong quý III tính đến
thời điểm này. Trong quý III, giá cao su SVR20 có biến động mạnh hơn so
với giá cao su RSS3, với khoảng dao động giá từ mức thấp nhất là 2.615
USD/tấn (ngày 21/7) và mức cao nhất là 3.100 USD/tấn (ngày 24/9), mức
chênh lệch tới 485 USD/tấn.
Như chúng ta thấy, từ năm 2002 đến cuối tháng 8/2008, giá cao su
thiên nhiên trên thị trường thế giới tăng liên tục trong khi yếu tố cung cầu ổn
định. Liên tục trong các năm từ năm 2006 đến nay xuất khẩu cao su tự nhiên
của Việt Nam luôn đạt giá trị trên 1 tỷ USD và chiếm trung bình khoảng từ
12
2-3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm 2009, do tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên sụt
giảm làm cho giá xuất khẩu cao su xuất khẩu cũng sụt giảm theo. Tuy nhiên,
sự phục hồi của kinh tế thế giới đầu năm 2010 khiến cho nhu cầu cao su tự
nhiên tăng mạnh, giá cao su cũng tăng theo. Chính vì vậy, sản lượng cao su
tự nhiên xuất khẩu năm 2010 tăng khá cao, chỉ riêng 3 quý của năm, giá trị
xuất khẩu cao su đã đạt 1, 42 tỷ USD cao hơn so với toàn bộ năm 2009 khi
chỉ đạt 1,2 tỷ USD cho thấy được thị trường xuất khẩu của ngành đang tăng
trưởng cao.
Bảng 2.3.1 Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam
Năm 2008 2009 8 tháng/2010
Lượng xuất khẩu
(ngàn tấn)
645 731,39 431

trong 3 tháng cuối năm 2008, cao su Việt Nam bước vào thời kỳ tăng sản
lượng nên nguồn cung trên thị trường tăng mạnh cũng tác động đến giá xuất
khẩu.
Khối lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm
2008 đạt 50.000 tấn, trị giá gần 1,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 18,4% về lượng và tăng
hơn 63% về giá trị so với cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên, bắt đầu từ quí 3-
2008, xuất khẩu cao su của Việt Nam đã giảm cả về lượng và trị giá xuất
khẩu. Khối lượng cao su xuất khẩu tháng 9-2008 đạt 75.000 tấn, trị giá 223
triệu đô la, giảm 1,3% so với tháng 8-2008. Tháng 9,10,11-2008, lượng và
giá trị xuất khẩu tiếp tục giảm so với các tháng đầu năm 2008. Đến tháng
12-2008, lượng cao su xuất khẩu đã giảm 11,4% về giá trị so với tháng 11-
2008, đạt 116 triệu đô la.
Giá cao su của Việt Nam biến động theo xu thế của giá trên thị trường
thế giới song giá xuất khẩu của cao su nước ta luôn thấp hơn so với giá quốc
tế bởi chất lượng cao su chưa cao.
15
(Nguồn: Dữ liệu thị trường nông sản AGRODATA, Trung tâm Thông
tin PTNNNT, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, www.agro.gov.vn)
Đồ thị 2.3.2 Diễn biến giá cao su xuất khẩu của Việt Nam và giá cao
su thế giới tháng 1-tháng 12/08
Sang năm 2009, giá cao su xuất khẩu Việt Nam tháng 1/2009 chỉ đạt
bình quân khoảng 1,278 USD/tấn, sau đó ổn định ở mức 1,419 – 1,485
USD/tấn trong quý 1, quý 2. Từ tháng 6 đến tháng 12, giá cao su xuất khẩu
tăng dần đến tháng 12 đạt 2,190 USD/tấn, tăng 71.4% so với tháng 1.
Đồ thị 2.3.3 Giá cao su xuất khẩu Việt Nam năm 2009
16
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), từ nửa cuối tháng 11/2009
tới cuối năm, giá cao su xuất khẩu (các loại) có mức tăng trung bình từ 200-
220 USD/tấn (từ 2.200-2.440 USD/tấn). So với thời điểm tháng 2/2009, giá
cao su đã tăng trên 1.000 USD/tấn. Cùng chung với xu thế tăng giá của thị

nhập khẩu mủ cao su thiên nhiên tại cửa khẩu Móng Cái, Đông Hưng trong
tuần đầu tháng 3 năm nay bắt đầu sôi động trở lại. Tuy nhiên, cũng từ đầu
tháng 3, doanh nghiệp Việt Nam chỉ đáp ứng được khoảng 700 – 800 tấn mủ
mỗi ngày, trong khi nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc từ 1.000 –1.300 tấn.
Giá cao su của Việt Nam đã tăng liên tục từ tháng 1 đến tháng 4, chủ
yếu do nguồn cung hạn chế vào mùa khô và thời thiết bất lợi vào đầu mùa
mưa, trong khi đó nhu cầu cao su thiên nhiên của Trung Quốc, Malaysia và
Ấn Độ tăng trưởng nhanh làm nguồn cung không kịp đáp ứng.
Tháng 5/2010 do Trung Quốc tiếp tục hạn chế và ngừng nhập khẩu
cao su theo đường mậu biên, chính sách này đã tác động làm giá cao su Việt
Nam sụt giảm. Tuy nhiên mức giá vẫn còn cao hơn so với tháng 1 đầu năm
và cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
18
Đồ thị 2.3.4 Giá cao su giao ngay của Việt Nam tháng 5 - 6/2010
(FBO HCM)
Theo xu hướng chung của thị trường thế giới giá cao su Việt Nam
trong quý II đã đạt đỉnh vào tháng 4, giảm mạnh vào tháng 5 và tiếp tục tăng
nhẹ trở lại trong tháng 6.
Trong quý 3/2010, giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.210 USD/tấn vào
đầu tháng 7 và điều chỉnh giảm xuống mức thấp nhất của quý III vào ngày
21/7, ở mức 2.960 USD/tấn, sau đó giá tăng vững cho đến thời điểm hiện tại.
Ngày 24/9, giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.320 USD/tấn, tăng nhẹ 3,4% so
với mức giá hồi đầu quý III và tăng 12,2% so với mức giá thấp nhất trong
quý III. Đây cũng là mức giá cao nhất đạt được trong quý III tính đến thời
điểm này. Trong quý III, giá cao su SVR20 có biến động mạnh hơn so với
giá cao su RSS3, với khoảng dao động giá từ mức thấp nhất là 2.615
USD/tấn (ngày 21/7) và mức cao nhất là 3.100 USD/tấn (ngày 24/9), mức
chênh lệch tới 485 USD/tấn.
19
Như vậy, trong vòng hơn 2 năm qua, giá cao su xuất khẩu diễn biến

tế và theo dõi từng biến động nhỏ của giá cao su xuất khẩu trong thời gian
tới để kịp thời thông báo và ứng phó với những biến động giá cả bất thường
có thể xảy ra để các doanh ngiệp sản xuất cao su kịp thời thay đổi hướng đầu
tư sản xuất cũng như có các kế hoạch dự phòng.

21
4.2.2 Đề xuất
Việt Nam là thị trường tiềm năng với nhiều mặt hàng phong phú, đa
dạng và cây cao su đã mang lại lợi ích rất lớn cho nhu cầu tiêu dùng trong
nước và quốc tế. Vì vậy, việc tìm ra con đường phát triển và chỗ đứng trên
thị trường không chỉ trong nước mà trên thế giới cho cây cao su là vấn đề
mà các cơ quan, các ban ngành đang rất quan tâm nhằm tăng kim nghạch
xuất khẩu cũng như tăng nguồn thu ngoại tệ từ đó góp phần tăng trưởng kinh
tế.
Sau đây, nhóm chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất:
Thứ nhất: đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật phù hợp để tăng lượng sản
phẩm tinh chế góp phần nâng cao giá cả cao su Việt Nam.
Thứ hai: cần tạo cho cao su Việt Nam có tiêu chuẩn về chất lượng
giúp lấy được uy tín trên thị trường.
Thứ ba: tạo thương hiệu cho cây cao su, đồng thời bảo vệ thương
hiệu đó. Có như vậy, cây cao su mới tìm thấy chỗ đứng vững chắc trên thị
trường và không bị lấy cắp thương hiệu - một thực tế đáng buồn mà cây cao
su Việt Nam đang phải gánh chịu khi tham gia thị trường cao su Thế Giới.
Thứ tư: cơ cấu sản phẩm cao su cần được điều chỉnh, phù hợp với
nhu cầu tiên dùng trên thị trường thế giới.
Thứ năm: cần mở cuộc hội thảo, các lớp dạy về tay nghề cho công
nhân trồng và chế biến cao su ở Việt Nam. Vì thực tế, tay nghề của công
nhân chưa cao nên năng suất cao su đạt được còn nhiều hạn chế.
22
III PHẦN KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status