Động vật không xương sống ( phần 22 )
Nguồn gốc và tiến hoá của giun đốt
Việc xác định nguồn gốc của giun đốt rất phức tạp, chủ yếu dựa vào dẫn
liệu về phát triển phôi, sự sinh sản hữu tính và giải phẫu so sánh. Căn cứ
vào 2 đặc điểm quan trọng nhất lần đầu tiên có ở động vật giun đốt là thể
xoang và sự phân đốt để tìm nguồn gốc của giun đốt.
1. Về nguồn gốc thể xoang: Có 3 kiểu xoang ở động vật.
Xoang phôi (blastocoelum) là phần ứng với khoảng trống giữa lá phôi
trong và lá phôi ngoài ở giai đoạn phôi vị. Còn gặp ở một số nhóm động
vật đa bào thấp và ở giai đoạn phôi của nhiều động vật khác.
Liệt xoang (Schizocoelum) là khoảng trống giữa các đám tế bào nhu mô
đệm (parenchyme) được hình thành từ lá phôi giữa. Ở sán lông đã có
khoảng trống này, phát triển như giun tròn và nhóm động vật có xoang
giả (pseudocoelum) khác.
Xoang thật hay thể xoang là một cơ quan thực sự, tham gia vào nhiều
chức phận quan trọng như bài tiết, sinh dục, dinh dưỡng…
Khi xét về nguồn gốc thể xoang có nhiều giả thiết khác nhau:
Thuyết xoang thận của Lankester (1874), Faussek (1899), Snodgrass
(1938) cho rằng thể xoang được hình thành từ khoảng trống của nguyên
đơn thận và liên quan đến chức năng bài tiết
Thuyết xoang sinh dục của Hatschek (1877), Mayer (1890, 1901)
cho rằng thể xoang được hình thành từ xoang sinh dục và chức năng ban
đầu và chủ yếu là sinh dục
Thuyết xoang ruột của Hertwig (1882), Metsnikov (1874), Lay
(1881), Beklemisev (1944) và Shavarov (1965)… cho rằng thể
xoang được hình thành từ xoang ruột hay các nhánh phụ của xoang
ruột. Chức phận ban đầu của thể xoang là tiêu hoá.
Thuyết liệt xoang của Goeth (1884), Livanov (1965), Ivanov (1975)…
cho rằng thể xoang được hình thành từ quá trình biểu mô hoá khối tế bào
nhu mô đệm ở giun thấp và chức phận ban đầu là nâng đỡ.
Các giả thuyết trên có thể cho chúng ta nhận xét:
vào cơ thể con cái và di chuyển về tuyến trứng nhờ vào một loại mô phân
hoá ở vùng thụ tinh được gọi là mô định hướng (hình 7.18). Sau khi thụ
tinh vài ngày đến vài tháng, đai sinh dục tuột về phía trước, hình thành
kén chứa trứng đã thụ tinh. Động tác tuột đai sinh dục được thực hiện
bằng cách lùi cơ thể vào trong chỗ hẹp. Hình dạng và số lượng trứng
trong kén thay đổi tùy nhóm hay tùy loài. Ví dụ kén của Ichthyobdellidae
chỉ có một trứng và thường bám trên cơ thể vật chủ, kén của đỉa trâu
giống kén tằm nhưng màu xám và bé hơn có tới hàng chục trứng, kén của
đỉa Dina weberi dẹp bám trên cây thuỷ sinh. Một số loài trong họ Vét
trứng có thể được bảo vệ dưới bụng con cái (hình 7.19).
Trứng phân cắt tương tự như giun ít tơ, phát triển trực tiếp để hình thành
đỉa trưởng thành.
Lớp Đỉa
- Đặc điểm cấu tạo và sinh
lý
Là nhóm động vật chuyên hoá hẹp theo hướng ký sinh ngoài hay ăn thịt.
Cấu tạo cơ thể có thay đổi ít nhiều so với mô hình cấu trúc chung của
giun đốt như các đốt trước và sau cơ thể biến thành giác bám, thể xoang,
chi bên và tơ tiêu giảm… Lưỡng tính, không có ấu trùng sống tự do, có
khoảng 400 loài, sống ở nước ngọt, trên cạn, ít loài sống ở nước mặn.
Cơ thể đỉa có số đốt cố định (33 đốt), 7 đốt đốt cuối hình thành giác sau,
một số đốt phía trước hình thành giác trước. Đỉa có hiện tượng phân đốt
thứ cấp, có nghĩa mỗi đốt lại có thể chia thành một số ngấn trong đốt đó.
Nhìn chung đỉa không có tơ. Cơ thể gồm 5 phần: phần đầu gồm có 4 – 5
đốt, có mắt ở mặt lưng, phần trước đai có từ 3 – 4 đốt, tiếp theo là phần
đai sinh dục có 3 đốt và có lỗ sinh dục ở mặt bụng, biểu mô dày lên thành
đai sinh dục, phần sau đai gồm 15 đốt và phần cuối gồm các đốt hình
thành giác sau.
Thành cơ thể có cấu tạo như giun đốt nói chung. Đáng chú ý là có bao cơ
ống bên). Từ 2 ống bên phát đi nhiều nhánh ngang, nối với nhau ở mặt
bụng. Ống lưng chạy dọc dạ dày, còn ống bụng nằm dưới dạ dày, bao
quanh chuỗi thần kinh bụng. Hệ thống khe xoang của đỉa giữ chức phận
và thay thế cho hệ tuần hoàn là một ví dụ điển hình về sự thay thế chức
phận các cơ quan ở động vật (7.17).
Hệ bài tiết: Gồm hậu đơn thận, có 17 đôi nằm ở hai bên mặt bụng cơ thể
con vật (từ đốt thứ VI - XXIII). Các hậu đơn thận phần đầu nhỏ, phần sau
lớn hơn. Mỗi hậu đơn thận có một ống dài cuộn khúc, đầu thận có phễu
có tiêm mao nằm tự do trong xoang. Từ phễu có ống dẫn vào phần tuyến
thận lớn hơn và uốn khúc. Sau đó ống dẫn tiếp tục đổ vào bọng đái tròn,
phình to, thông ra ngoài qua lỗ bài tiết.
Hệ thần kinh và giác quan: Gồm hạch não, hạch dưới hầu và chuỗi thần
kinh bụng, hạch não và hạch dưới hầu nối với nhau bằng vòng
thần kinh quanh hầu ngắn. Hạch dưới hầu ngắn hơn và do nhiều
hạch chập lại. Chuỗi thần kinh bụng gồm 21 hạch, trong đó có hạch
cuối cùng là hạch hậu môn lớn hơn cả. Từ hạch não có có 3 đôi dây thần
kinh phân nhánh đến các mắt, từ hạch dưới hầu và chuỗi thần kinh bụng
cũng có các dây thần kinh phân nhánh đi đến các phần khác nhau của cơ
thể. Cùng chung đặc điểm với giun đốt, ở đỉa các hạch thần kinh đều do
hạch trái, phải chập lại mà thành.
Ngoài các tế bào cảm giác dưới da, đỉa còn có mắt và nhú cảm giác ở mỗi
đốt. Mắt có cấu tạo đơn giản: dưới lớp cuticun dày là các tế bào
cảm quang với các không bào hình cầu hay hình thùy. Đáy của tế bào
này có các dây đi đến hạch thần kinh mắt. Mắt chỉ phân biệt được sáng và
tối.
Hệ sinh dục: Là động vật lưỡng tính như giun đất. Cơ quan sinh dục đực
có 4 - 10 đôi tuyến tinh nằm từ đốt XII trở về phía đuôi cơ thể. Từ tuyến
tinh có các ống thoát tinh ngắn đổ vào 2 ống dẫn tinh nằm ở mặt