ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
______________________________________
GS.TS. TỪ QUANG HIỀN (Chủ biên)
TS. VŨ TÙNG HOA-ThS. NGUYỄN KHẮC SƠN-ThS. TẠ THỊ THANH PHƯƠNG
GIÁO TRÌNH
XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
(sử dụng cho hệ cao học) NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2007
dựng và quản lý dự án.
Chương IV: Xây dựng dự án
Chương này trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng xây dựng thột dự án
nông lâm nghiệp. Sau khi học xong chương IV, người học có thể xây dựng được một
dự án. Chương V: Quản lý và thực hiện d
ự án
Sau khi dự án được phê duyệt thì tiến hành triển khai thực hiện dự án. Chương V
trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá dự
án.
3
Chương I
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN VÀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ DỰ ÁN
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN
1.1. Khái niệm về dự án
• Theo quan điểm tổ chức
Dự án là tập hợp những hoạt động được điều phối chặt chẽ, tập trung để sử dụng
những nguồn lực giới hạn nhằm đạt đến những m
ục tiêu mong đợi trong tương lai.
• Theo góc độ đầu tư
Dự án là công cụ biểu hiện hợp lý hoá và cải thiện đầu tư. Đó là một chuỗi các
dữ liệu được phân tích và sắp xếp logic, các ưu tiên đầu tư được thiết lập nhằm thực
hiện các mục tiêu đã được xác định rõ về thời gian, chi phí hoạt động và lợi ích.
• Theo quan điểm phát triển
D
ự án là các dạng can thiệp khác nhau được thiết kế để đạt được các mục tiêu cụ
thể nào đó trong phạm vi ngân sách và tổ chức nhất định.
Dù định nghĩa theo góc độ nào chăng nữa thì dự án luôn gồm:
- Mục đích
thì đầu tư phải được tiến hành một cách có hệ thống, có phương pháp đó là phương
pháp đầu tư theo dự án. Vì thế, dự án đượ
c hiểu như một luận chứng đầy đủ về mọi
phương diện của một cơ hội đầu tư, giúp cho đầu tư có đủ độ tin cậy cần thiết. Dự án
chỉ là công cụ của đầu tư
1.3. Vai trò của dự án trong nền kinh tế xã hội
1 3.1. Vai trò của dự án
Dự án là bộ phận cấu thành trong chiến lược hoạt động, phát triển kinh tế
xã hội.
Ví dụ: Dự án thuỷ điện Sơn La nằm trong chiến lược phát triển điện năng và phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
1 3.2. Mối quan hệ giữa kế hoạch, chương trình và dự án
• Kế hoạch dài hạn
Kế hoạch dài hạn là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có độ dài thời gian 10 - 20
năm, nhằm đưa ra chiến l
ược phát triển của đất nước, của ngành hoặc liên ngành, là cơ
sở để xây dựng các chương trình phát triển, các kế hoạch ngắn hạn (l-5 năm) cũng như
các dự án.
Một số nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khi được chính phủ cụ
thể hoá thành các chủ trương thì có thể coi đó là những kế hoạch dài hạn.
• Chương trình phát triển
Chương trình phát triển là th
ể hiện sự ưu tiên của Chính phủ, các ngành hoặc các
ý tưởng chiến lược quốc gia, là cơ sở để định hướng mọi hoạt động ưu tiên các dự án
phù hợp với chính sách và kế hoạch của quốc gia, ngành.
Ví dụ: Chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, chương trình 135: chương trình
nước sạch nông thôn, chương trình kiên cố hoá kênh mương...
• Dự án
Dự án là một bộ phận cấu thành các m
ục tiêu chiến lược phát triển, các chương
1 4.3. Phân loại dự án theo quy mô
Phân biệt dự án theo quy mô là căn cứ vào cấp quản lý để xem xét khía cạnh sử
dụng nguồn lực và lợi ích mà dự án đem lại, từ đó phân biệt quy mô dự án. Phân loại
theo cách này dự án được chia thành:
- Dự án quốc gia: Là dự án có quy mô lớn, do Chính phủ quản lý và điều hành.
- Dự án cấp ngành, địa phương hoặc vùng, miền: Là những dự án do ngành hoặc
địa phương (tỉnh) quản lý.
- Dự án cấp cơ sở: là dự án có phạm vi tác động trên một huyện hoặc một số xã,
thôn.
1.4.4. Phân loại dự án theo mục đích
Căn cứ vào mục đích của dự
án, người ta chia dự án thành các loại sau:
- Dự án mang tính chất vụ lợi: Là dự án đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận (trong
phát triển kinh tế thì dự án này là chủ yếu).
- Dự án phi vụ lợi: Là những dự án không lấy hiệu quả hoặc lợi nhuận của vốn
đầu tư làm mục đích, mà lấy những lợi ích khác: Xã hội, môi trường... là chủ yếu.
- Dự án mang tích ch
ất trung gian: Là dự án đặt cả hai nhiệm vụ kinh tế và xã
hội làm mục đích. "
Ví dụ: Dự án giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn.
1.5. Vòng đời của dự án
6
Dự án giống các thực thể hữu cơ khác, ở chỗ nó cũng trải qua các giai đoạn từ
khởi đầu đến phát triển và kết thúc.
Vòng đời của dự án là thời gian tồn tại của dự án.
Một số dự án có nhiều vòng đời, mỗi vòng đời gọi chung là chu kỳ của dự án,
nhưng ở chu kỳ sau các hoạt động không lặp lại chu kỳ trước mà nó được nâng cao
hơn theo kiểu vòng xoáy trôn ốc, sự quay vòng phải thông qua những bước bắt buộc,
nhưng luôn di chuyển tới cái mới tạo thành một "pha", mới, một dự án mới.
Định hướng của dự án là sự ấn
định trước về lĩnh vực hoạt động và mục đích của
dự án do các cấp có thẩm quyền hoặc cơ quan tài trợ kinh phí đề ra. Các dự án muốn
7
được chấp nhận thì phải xây dựng trên cơ sở định hướng này nếu không sẽ bị loại bỏ.
Ví dụ: Ngân hàng quốc tế A chỉ cho vay tiền xây dựng đường giao thông. Tổ
chức quốc tế B chỉ tài trợ cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo chỉ chấp nhận và cấp kinh phí cho các
dự án xoá đói giảm nghèo.
2.2. Điều tra điề
u kiện tự nhiên-kinh tế xã hội và đánh giá nhu cầu của cộng đồng
Trên cơ sở định hướng, chúng ta tiến hành điều tra điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội và đánh giá nhu cầu của cộng đồng.
Căn cứ vào kết quả điều tra, đánh giá để đề xuất dự án.
Ví dụ: Định hướng là xoá đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khă
n. Qua điều
tra, đánh giá cho thấy nguyên nhân nghèo đói ở đây là độc canh, thiếu tiếp cận khoa
học, kỹ thuật, thiếu vốn... và nhu cầu của người dân là đa dạng cây trồng, vật nuôi,
được chuyển giao khoa học - kỹ thuật, vay vốn... Từ kết quả điều tra này có thể đề
xuất dự án là "chuyền đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi và tăng cường dịch vụ cho
ng
ười dân địa phương".
2.3. Mẫu của một dự án
Các chương trình, các cơ quan tổ chức khác nhau đều có mẫu dự án riêng của
mình, tuy nhiên chúng đều có những điểm chung, đó là:
- Đặt vấn đề
- Cơ sở của dự án (luận cứ của dự án)
- Mục tiêu của dự án
- Nội dung của dự án
ể vừa thể hiện bằng tình hình
thực tế, vì vậy người thu thập thông tin phải ghi chép đầy đủ, sau đó kiểm nghiệm,
thẩm định lại bằng các phương pháp khảo sát thực tế và tìm hiểu thông qua cán bộ địa
chính cũng như các trưởng thôn (bản) và cộng đồng những người am hiểu lĩnh vực
này.
Trong khi đi thực địa để thu thập thông tin về vị trí địa lý, địa hình dế
t đai của xã,
nên hướng dẫn người dân vẽ "sơ đồ" bằng phương pháp PRA.
Cách làm: Chọn một nhóm người sống lâu năm tại cộng đồng, đề nghị họ tự vẽ
"sơ đồ" của thôn (xóm, bản) lên nền đất. Yêu cầu của lược đồ là phải thể hiện vị trí của
cộng đồng (các mặt tiếp giáp theo các hướng Đông - Tây - Nam - Bắc), tiếp giáp sông
ngòi, rừng núi, bi
ển hay tiếp giáp các địa phương khác; "sơ đồ" cũng thể hiện các
nguồn lài nguyên như đất đai, rừng, biển, hồ, sông ngòi, các mỏ quặng (thiếc, chì, sắt,
bạc, vàng... ); thể hiện các công trình quan trọng như đường xã, hệ thống thuỷ lợi,
trường học, bệnh xá đường điện, trạm thu phát truyền thanh, truyền hình, chợ, điểm du
lịch (đền chùa, hang động...).
Lược đồ thôn Đồng Ao, xã
Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
9Lưu ý:
Cần giải thích để các thành viên cộng đồng hiểu rằng lược đồ này không
có ý nghĩa về mặt pháp lý. Nhóm nghiên cứu phải trợ giúp các thành viên cộng đồng
vẽ và thể hiện các nguồn tài nguyên cũng như ghi phần chú thích của lược đồ vì điều
này rất quan trọng.
Mục đích của việc vẽ lược đồ do chính người dân thực hiện là để họ tự đánh giá
được tiềm nă
địa phương dựa trên cơ sở đó để lựa chọn các dự án phát triển phù hợp.
1.3.1. Thông tin về đất đai
Các chỉ tiêu về đất đai cũng như tài nguyên đất được thu thập qua nhiều kênh
thông tin:
+ Từ số liệu điều tra hàng năm của Phòng Nông nghiệp huyện và cán bộ địa
chính của xã. Số liệu và thông tin t
ừ nguồn này thường mang tính tổng hợp theo từng
vùng, từng lô, từng cánh đồng, cánh rừng, nếu có thể ghi chi tiết đến từng hộ.
+ Thông tin đầy đủ chi tiết về đất đai phải thu từ nguồn của cán bộ thuế nông
nghiệp hoặc sổ trước bạ (quyền sử dụng đất) của các hộ do cán bộ nông nghiệp xã theo
dõi và tổng hợp. Nguồn số liệu và thông tin này cung cấp cho ta biế
t từng loại đất của
lừng hộ và từng thôn bản. Do vậy với nguồn thông tin này cần kết hợp với phương
pháp điều tra hộ vì như vậy sẽ cho ta độ tin cậy thông tin cao hơn.
Dựa vào bảng thống kê đất đai để đánh giá tiềm năng đất đai có thể thực hiện dự
án hay không?
Sau khi có được các thông tin chung về đất đai, cần phân tích chi tiết từ
ng chỉ
tiêu cụ thể nhằm xác định thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất đồng thời thấy
được những đặc thù của việc sử dụng đất ở địa phương.
Ví dụ: Để thấy rõ điều kiện và đặc điểm của việc sử dụng tài nguyên đất của xã
Tràng Xá, huyện Võ Nhai, chúng tôi đã tổng hợp các chỉ tiêu v
ề tài nguyên đất của xã
Tràng Xá, huyện Võ Nhai (nguồn số liệu do Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách nông
11
nghiệp cung cấp tại thời điểm tháng l0/2000) được thể hiện trong bảng 2.1 .
Bảng 2.1. Đất đai và tình hình sử dụng đất của xã Tràng Xá năm 2000
Chỉ tiêu . Diện tích (ha) % So sánh
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã 6.139 100%
475
1.195
340
340
185
184
2.460
615
1.107
788
26,1% so với (1)
1.9%
3,26%
5,4%
9.2%
5.4%
0.8%
45,4% so với (1)
12.9%
32,5%
9,24% so với (1)
9,24% so với (1)
5% so với (1)
5% so với (1)
40% so với (2)
25% so với (2)
45% so với (2)
30% so với (2)
Những ưu thế của tài nguyên đất trên địa bàn cũng phải được điều tra khảo sát để đánh
giá phục vụ cho các mục đích phát triển ngành nghề trong xã. Như vậy mới tổ chất và thực
phỏng vấn sâu các hộ nông dân để có những thông tin chính xác hơn.
1.3.2. Đặc điểm về nông lâm nghiệp
* Diện tích trang trại:
Diện tích của các trang trại và số lượng cũng như sự phân bố các diện tích khác
nhau của trang trại ra sao? Ai có trang trại và ai tr
ực tiếp làm việc trên đồng ruộng?
Giá đất đai và bản chất của thị trường đất đai? Những cơ cấu cây trồng của mỗi loại
trang trại ra sao? Ở đây có những điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tới những vùng
chưa được canh tác không?
* Cây trồng nông nghiệp:
Các cây trồng nào được gieo trồng tại địa phương? Sự phân bố
của chúng ra sao?
Những biện pháp kỹ thuật nào được áp dụng cho các cây trồng chính và tại sao?
Những loại giống nào được sử dụng và tại sao? Những loại sâu bệnh nào hiện đang tồn
tại trên đồng ruộng và được phòng trừ ra sao? Nguồn giống và phương pháp bảo quản
giống thế nào? Độ tin cậy của các nguồn giống và chất lượng giống như thế nào? Có
hệ thống tưới tiêu không? Ở
đâu? Có nguồn nước không và có được sử dụng không?
Tại sao? Ở đây có sử dụng phân bón không? Nếu có thì sử dụng những loại phân bón
nào? Khi nào tới mùa, công việc thu hoạch mùa màng ra sao và sự khác nhau về mùa
vụ thu hoạch trong địa bàn đó ra sao? Tại sao ? Nông dân có áp dụng công thức luân
canh cây trồng không? Cách thức bảo quản nông sản như thế nào và có vấn đề gì
không? Lượng hao hụt trong quá trình bảo quản là bao nhiêu? Đối với các cây trồng
truyền thố
ng ở địa phương nông dân đòi hỏi phải có những đặc tính gì? Ví dụ như: về
hương vị cảm quan, hoặc cây có cần có lá to để làm thức ăn gia súc hay để gói hàng
không? Cây nào là cây công nghiệp ở địa phương, cây nào là cây xuất khẩu? Giá trị
kinh tế của các loại cây đang được trồng và khả năng những cây trồng mới có thể phổ
biến vào địa phương là những cây gì?
* Vật nuôi:
c
ủa địa phương. Dựa vào thế mạnh này có thể xây dựng dự án phù hợp.
2. ĐIỀU TRA VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
Thu thập thông tin về kết cấu cơ sở hạ tầng là dựa trên thực tế cơ sở hạ tầng ở
cộng đồng, so sánh với chỉ tiêu phát triển hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch
sản xuất và bố trí dân cư
, trước hết là hệ thông đường giao thông, nước sạch, hệ thống
diện, quy hoạch các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi,
công trình y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp
và phát triển mạng lưới phát thanh, truyền hình.
Muốn có những dự án đạt được các mục tiêu nêu trên, thì trước hết phải nắm
chắc đặc đi
ểm thực trạng của những công trình hạ tầng cơ sở tại xã mà ta nghiên cứu
để làm cơ sở cho nghiên cứu lập dự án.
Những thông ân cần thu thập là:
2.1. Hệ thống đường giao thông
14
Giao thông có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất
hàng hoá, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng.
Phương pháp thu thập: Cùng cán bộ phụ trách giao thông và xây dựng của xã đi
quan sát thực tế các tuyến đường xem có thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển kinh
tế - xã hội. Với hệ thống đường giao thông đó có thể xây dựng được những dự án
mang tính khả thi hay không? Sau khi đi quan sát xong, hai bên sẽ cùng nhau thảo
luận, phân tích những khó khăn, thuận lợ
i và những khả năng có thể tận dụng khai
thác.
Ví dụ: qua điều tra, khảo sát hệ thống đường giao thông của xã Tràng Xá (Võ
Nhai) cho thấy: Đã có đường ô tô liên xã rộng 5,5m, dài 18km rải nhựa đi qua xã đến
tận xã Bình Long. Đường đi tới các bản trong xã đều xuất phát từ trục đường nhựa liên
2.3. Hệ thống lưới điện
Quan sát xem xã đã có điện lưới chưa. Nếu chưa có điện lưới thì tìm hiểu xem
15
nguyên nhân do đâu chưa có điện lưới? Nếu có điện lưới rồi thì thu thập sâu các thông
tin sau đây:
- Chiều dài tuyến trục chính lưới điện bao nhiêu tim?
- Có trạm biến thế không? Nếu có thì có mấy trạm?
- Chiều dài các tuyến phụ về các thôn bản là bao nhiêu? (ghi cụ thể từng bản,
thôn).
- Chất lượng đường dây thế nào?
- Có bao nhiêu hộ ở mỗi bản đã được dùng đi
ện? chiếm bao nhiêu phần trăm
tổng số hộ, trong đó có bao nhiêu hộ nghèo đã được dùng điện, chiếm bao nhiêu phần
trăm?
- Có bao nhiêu hộ chưa được dùng điện, trong đó có bao nhiêu hộ nghèo? Xác
định nguyên nhân của những hộ chưa có điện.
- Có bao nhiêu hộ dùng điện cho sản xuất kinh doanh ? Chủ yếu kinh doanh loại
hình sản xuất nào? (xay sát, chế biến nông, lâm sản, bơm nước...).
2.4. Chợ xã và nướ
c sạch
2.4.1. Chợ xã
Am hiểu về số lượng, quy mô chợ, số lượng người thường xuyên đến chợ, chợ
họp thường xuyên, hàng ngày hay theo phiên, hiện tại có xã có chợ họp chưa. Cũng
như lìm hiểu xem các dịch vụ, các sản phẩm hàng hoá mua bán chủ yếu là gì.
2.4.2. Về nước sạch (nước sinh hoạt)
Thu thập các thông tin về chương trình nước sạch nông thôn để phục vụ cho việc
lậ
p dự án cần tập trung ở những chỉ tiêu cơ bản sau:
Số hộ dùng nước tự nhiên như sông, suối, ao hồ... chiếm bao nhiêu phần trăm so
2
, điều này chứng tỏ mật
độ dân cư ở đây là đông. Tổng diện tích đất của toàn xã ít nên bình quân diện tích đất
trồng trọt/ đầu người thấp.
- Sự phân bố dân cư: Đó là thông tin về tổng số hộ và tổng số khẩu trong mỗi
một thôn. Thông tin này cho chúng ta biết sự phân bố dân cư đều hay không đều trong
một vùng. Điều đó cho phép chúng la tìm hiểu tiếp nguyên nhân và hậu qu
ả của sự
phân bố không đều giữa các thôn, nếu có (vì sao thôn này đông dân cư, thôn kia thưa
dân cư? Thôn đông dân thì sẽ có hậu quả gì về kinh tế cũng như xã hội) và do vậy có
thể đưa ra các giải pháp ưu tiên và tìm cách khắc phục.
Thôn Đồng Ẻn, xã Tràng Xá là thôn đông dân, mật độ dân cư cao so với nhiều
thôn khác, trong khi ruộng cấy ở thôn này ít và chỉ cấy được một vụ vì thiếu nước, đây
là một trong nh
ững thôn nghèo nhất xã và thường được chính quyền xã quan tâm trong
các đợt hỗ trợ gạo cứu đói.
- Tỷ lệ tăng dân số: Thông tin này dựa trên sự tính toán tổng số nhân khẩu trong
xã cộng với số trẻ em mới sinh trong năm và số người chuyển hộ khẩu đến xã trong
năm trừ đi số người chết trong năm và số người chuyển hộ khẩu khỏi xã trong năm rồi
chia ra tổ
ng số nhân khẩu trong xã.
Ví dụ: So sánh số liệu thống kê 3 năm 1997, 1998, 1999, chúng ta thấy chỉ số
tăng dân số ở xã Đồng Liên năm 1997 là 1,005%, năm 1998 là 1,003%, năm 1999 là
0,99% (Trung tâm nghiên cứu giảm nghèo Đại học Thái Nguyên - 1999).
Kết luận: Công tác kế hoạch hoá gia đình ở xã Đồng Liên đạt kết quả tốt, tỷ lệ
tăng dân số ở xã Đồng Liên có xu hướng giảm.
- Tỷ lệ nam nữ: Tìm hiểu tổng số
nhân khẩu là nam, tổng số nhân khẩu là nữ,
tổng số lao động nam, tổng số lao động nữ, tỷ lệ này như thế nào? cân đối hay mất cân
đối? Khi tìm hiểu về dân số, có thể chỉ cần sử dụng tài liệu có sẵn (thông tin thứ cấp)
có 2 hộ với 10 nhân khẩu; người Nàng có 4 hộ với 17 nhân khẩu; người Sán Dìu có 2
hộ với 6 nhân khẩu).
+ Cơ cấu thành ph
ần các dân tộc như thế nào? (các dân tộc chiếm tỷ lệ bao nhiêu
trong tổng số, mức độ và tầm quan trọng của từng dân tộc ảnh hưởng tới sự phát triển
kinh tế. Ví dụ: Người Mông ở thôn Chòi Hồng, xã Tràng Xá chiếm 90% số dân trong
thôn và hầu hết không nói được tiếng phổ thông. Điều này gây trở ngại cho sự giao
tiếp giữa bà con với người làm dự án, nhất là cán bộ làm công tác kế hoạch hoá gia
đ
ình.
+ Tỷ lệ giới trong các dân tộc (tỷ lệ giới có thể không giống nhau ở các dân tộc
khác nhau), ví dụ ở xã Đồng Liên, người dân tộc Tày ở đây chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và
chủ yếu là nữ, họ là ngươi ở địa phương khác đến đây làm dâu.
+ Có những phong tục, tập quán đặc trưng nào của từng dần tộc (ví dụ: người
Mông không làm nhà ở
sát cạnh nhau thành chòm xóm như người Tày, người Thái, họ
sống khép kín, ít bộc lộ quan điểm và rất ghét bị nói dối).
+ Người dân ở cộng đồng thuộc tôn giáo nào? Có bao nhiêu người thuộc mỗi tôn
giáo? (ví dụ: có 20% người theo Thiên chúa giáo, 50% theo Phật giáo...)
+ Có nhà thờ, đền, chùa... ở cộng đồng không? Quy mô của nhà thờ, đền, chùa
(những nơi có nhà thờ, đền, chùa to đẹp có thể còn là tiềm năng kinh tế, đem lại thu
18
nhập về du lịch cho cộng đồng).
+ Có những quan niệm nào của tôn giáo cần lưu ý khi thực hiện dự án. Ví dụ:
Thiên chúa giáo ngăn cấm việc nạo thai, do đó là việc làm tội lỗi. Do đó khi thực hiện
những dự án về tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình có thể gặp trở ngại.
3.1.3. Chính trị - xã hội
Những thông tin cần thu thập:
a) Cơ quan Nhà nướ
được quan niệm chung của cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục và chăm sóc sức
khoẻ; thấy được mức độ quan tâm của các tổ chức xã hội đối vớ
i vấn đề này ở địa
phương; biết được mối quan hệ giữa đói nghèo với sức khoẻ và trình độ học vấn của
cộng đồng giúp cho người lập dự án có cách nhìn tổng thể về vấn đề này và đoán trước
những khó khăn khi xây dựng dự án.
3.2.1. Chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ y tế.
19
Thông tin này cho phép chúng ta biết được các dịch vụ y tế ở địa phương, tình
hình sức khoẻ, bệnh tật của người dân ở cộng đồng, ảnh hưởng của bệnh tật đến đời
sống dân cư.
Những thông tin cần thu thập là:
- Vấn đề chăm sóc sức khoẻ ban đầu được người dân ở cộng đồng quan tâm như
thế nào? Cụ thể là:
+ Số tr
ẻ em được tiêm phòng hàng năm.
+ Số người được khám sức khoẻ định kỳ hàng năm hay hàng quý hay bao nhiêu
năm một lần?
- Tình hình thực hiện kế hoạch hoá gia đình
+ Số lượng chị em đặt vòng tránh thai
+ Số người triệt sản: nam bao nhiêu, nữ bao nhiêu? ,
+ Số gia đình có từ ba con trở lên là bao nhiêu? Tỷ lệ với số gia đình chỉ có hai
con.
- Chế độ hưởng các d
ịch vụ y tế được vận dụng như thế nào? (Các hộ nghèo đói
hưởng các dịch vụ y tế có được miễn giảm không? Người già, người cô đơn, người tàn
tật người mắc các bệnh kinh niên có được miễn giảm hay trợ giúp gì không?).
- Mức độ phổ cập đến đâu? người dân có biết tới các chính sách chăm sóc sức
khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, các chính sách ưu tiên không?
ơ chế hoạt động ra sao?
Ví dụ: ở xã Đồng Liên, có thầy thuốc tư nhân đóng trên địa bàn và đó là một y sĩ
dã về hưu. Hoạt động phục vụ chủ yếu của ông là bán thuốc đông y kết hợp tây y cho
bà cọn và chẩn đoán những bệnh đơn giản khi trạm xá không mở cửa. Những bệnh
nặng nằm ngoài khả năng của trạm xá thì bà con vẫn phải lên tuy
ến bệnh viện huyện
hoặc tuyến tỉnh.
- Số người đến khám và chữa bệnh tại trạm xá trong một năm là bao nhiêu? trong
đó số người nghèo là bao nhiêu?
- Số người trong độ tuổi sinh sản, số người sinh trong một năm, tỷ lệ số người
sinh trên tổng số người trong độ tuổi sinh sản?
- Số trẻ em suy dinh dưỡng? Suy dinh dưỡng ở những mức độ nào (suy dinh
d
ưỡng ở độ mấy là chủ yếu?) có nhiều trẻ em bị dị dạng do lao động sớm và lao động
nặng (vẹo sườn vòng kiềng... do gánh, vác nặng) không?
Có thể dùng công cụ điều tra của cán bộ y tế cộng đồng bằng cách tham khảo cán
bộ y tế, chẳng hạn như các tiêu chí phát triển đưa vào kênh suy dinh dưỡng.
- Sức khoẻ sinh sản như thế nào ở cộng đồng? (các trường hợ
p chết, suy kiệt sức
lao động do sinh sản, do nạo hút thai, đặt vòng...)
Vấn đề tuổi thọ:
+ Tuổi thọ theo nghĩa tuyệt đối nghĩa là tuổi thọ trung bình của cộng đồng (là
bao nhiêu?), người cao tuổi nhất trong cộng đồng là bao nhiêu tuổi? Tuổi thọ trung
bình của nam so với tuổi thọ trung bình của nữ như thế nào?
+ Tuổi thọ theo nghĩa tương đối nghĩa là tuổ
i thọ về lao động gắn liền với sức
khoẻ, tính trung bình trong cộng đồng, nam lao động nặng (cày, bừa, gánh phân) đến
bao nhiêu tuổi? 60 tuổi hay 65 tuổi hay hơn nữa; nữ lao động nặng (gặt, hái, gánh
phân) đến bao nhiêu tuổi? 55 hay 60 tuổi hay hơn nữa?
Người già ở hai xã Đồng Liên và Tràng Xá khi được phỏng vấn hầu hết đều nói
thức được mức độ quan trọng của văn hoá.
Thông tin cần thu thập bao gồm:
- Có bao nhiêu cấp học trên địa bàn? Trường học có cần nơi cư trú của phần lớn
dân cư hay không? Việc đi lại họ
c tập của các cháu khó khăn hay thuận lợi, lý do?
(thông tin này có thể tham khảo ở phần kết cấu cơ sở hạ tầng).
- Số lượng người có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp đang ở tại cộng đồng
(bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ?)
- Số lượng người có trình độ văn hoá ở các bậc học phổ thông (tết nghiệp lớp
mấy? Bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ?).
- Số lượng và tỷ
lệ (nam, nữ) các cháu đang ở độ tuổi đến trường (từ 6 đến 15
tuổi. Hết phổ thông cơ sở); số lớp học ở các trường và trung bình số lượng học sinh ở
một lớp học (biên chế lớp học)?.
- Số lượng và tỷ lệ (nam, nữ) trẻ em bỏ học (nếu có), nguyên nhân tại sao bỏ
học? Người nghiên cứu có thể kết hợ
p nhiều phương pháp khác nhau: Sử dụng số liệu
có sẵn của cán bộ thống kê kết hợp với quan sát để nắm số lượng trường học và số
lượng người học; phỏng vấn sâu và tạo tình huống (thực nghiệm) để nắm được nguyên
nhân của việc trẻ em bỏ học hoặc để hiểu được quan điểm của người dân về việc học
hành, v
ề việc ưu tiên cho con thuộc giới nào học và học đến đâu.
Ví dụ: Khi dùng phiếu hộ để phỏng vấn thì tất cả mọi người dân ở xã Đồng Liên
được hỏi đều khẳng định ưu tiên cho con trai cũng như cho con gái trong việc học,
nhưng khi không dùng phiếu hộ mà thông qua thực nghiệm và phỏng vấn sâu thì nhiều
người bộc lộ quan điểm ưu tiên cho con trai hơn vì "con gái là con người ta, chẳng
22
mấy chốc đi lấy chồng; không được nhờ vả gì cả", cho nên nếu chỉ được chọn một
trong hai thì họ sẽ đầu tư cho con trai.
Ví dụ xã Đồng Liên là một trong số 1.715 xã nghèo trong cả nước, xã Tràng Xá
là một trong số 1000 xã đặc bi
ệt khó khăn của cả nước và là một trong số 18 xã đặc
biệt khó khăn của tỉnh Thái Nguyên theo xếp hạng năm 1998.
Thông tin trên có thể sử dụng số liệu có sẵn của Sở và của Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội.
Các thông tin cần thu thập về tình hình nghèo đói: có bao nhiêu hộ giàu, hộ khá,
hộ trung bình, hộ nghèo hoặc hộ đói trong cộng đồng? Tỷ lệ giàu nghèo tương quan
như thế nào? Thự
c trạng về mức độ giàu có và mức độ nghèo đói? Thu nhập và việc sử
dụng thu nhập của họ như thế nào? Tỷ lệ đói nghèo của địa phương phải dựa vào mức
quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đối với từng vùng khác nhau.
23
3.4. Các chương trình, dự án đang thực hiện tại vùng dự án
Các chương trình dự án, các chính sách xã hội về phát triển kinh tế ở cộng đồng:
Thông tin này cho chúng ta biết có bao nhiêu chương trình, dự án đã thực hiện ở cộng
đồng góp phần xoá đói, giảm nghèo; những dự án nào thành công, dự án nào thất bại,
tại sao? Những thông tin cần thu thập:
+ Các dự án nào đã và đang áp dụng ở địa phương? Bao nhiêu hộ được hưở
ng
lợi, trong đó số hộ nghèo là bao nhiêu, thời hạn của từng dự án?
+ Tên chương trình, dự án? (ví dụ: ở xã Tràng Xá có dự án 120, dự án RAS 93-
103, dự án canh tác trên dết dốc, dự án nước tự chảy, dự án 135...).
+ Tên cơ quan, tổ chức tài trợ (tổ chức chính phủ hay phi chính phủ, trong nước
hay nước ngoài tài trợ).
+ Mục đích của chương trình, dự án (ví dụ: Chương trình 120 là dự án giải quyết
việc làm, Chương trình 1 35 là dự án của Chính phủ hô trợ trong vùng khó khăn xây
dựng hạ tầng cơ sở).
+ Quy mô của dự án (dự án lớn hay nhỏ, đầu tư nhiều hay ít, cụ thể là bao nhiêu
khuyến nông đã cung cấp nhưng những cây vải trồng theo dự án thì hoặc là không ra
quả, hoặc là quả rất bé. Trong khi đó thì những cây vải do người dân tự mua về trồng
cùng một thời điểm thì đã ra quả to với chất lượng tốt. Từ khi trồng xong cây, cán bộ
khuyến nông không quay lại kiểm tra sự phát triển của cây nữa. Người dân rất hoang
mang vì tiền vay thì đã đến hạn trả còn cây ăn qu
ả thì không được thu hoạch. Qua sự
kiện này, người dân đã không còn tin tưởng vào những giống cây do cán bộ khuyến
nông cung cấp. Bài học rút ra từ dự án này là quá trình triển khai thiếu hẳn sự giám sát
chặt chẽ của cơ quan chủ quản càng thiếu hẳn sự giám sát của người dân từ cộng đồng
và đặc biệt là thiếu sự gắn kết trách nhiệm của cán bộ khuyến nông với kết quả dự án.
4. VÀI ĐIỀU RÚT RA TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU TRA DỰ ÁN
Đối với các dự án trong nước do chính phủ đấu tư vốn, công tác điều tra dự án
thường gặp tình trạng sau:
Chính phủ không đầu tư trước kinh phí điều tra dự án, người xây dựng và chủ trì
dự án không biết được dự án của họ có được chấp nhận hay không, do đó công tác
điều tra thường làm sơ sài. Chính do điều tra sơ sài nên các kết luậ
n rút ra không đúng,
dẫn đến
việc xác định mục đích, mục tiêu và các nội dung của dự án cũng không đúng,
làm cho dự án không có hiệu quả cao.
Thời gian điều tra quá gấp, thường từ khi các cơ quan xây dựng và chủ trì dự án
nhận được thông báo cần xây dựng dự án ở một vùng nào đó cho đến khi phải nộp dự
án chỉ trong vòng vài tuần, đôi khi chỉ 1 tuần. Do quá hạn hẹp về th
ời gian nên không
thể điều tra vùng dự án tỉ mỉ, cặn kẽ được.
Đối với các dự án do các tổ chức phi chính phủ đầu tư vốn thì việc điều tra vùng
dự án được tiến hành có quy củ, điều tra tương đối rộng và tương đối kỹ lưỡng. Nhưng
những người làm công tác điều tra ban đấu thường không phải là các chuyên gia về
nông nghiệp nên khó phát hiện ra những "bí ẩn" c
ủa cây trồng, vật nuôi trong vùng và
* Đánh giá nông thôn nhanh theo chủ đề (RRA chủ đề)
Đánh giá nông thôn nhanh theo chủ đề dùng để nghiên c
ứu một chủ đề đã được
xác định. Thường nó được sử dụng vào hai trường hợp sau:
- Nghiên cứu chủ đề, mà chủ đề này là giả thuyết do RRA thăm dò đề ra. Trong
trường hợp này nó là giai đoạn kế tiếp của RRA thăm dò. Nhưng phạm vi khảo cứu
nhỏ hơn và mức độ phân tích sâu hơn so với RRA thăm dò. Nếu kết quả của RRA
thăm dò là những giả
thuyết sơ bộ thì của RRA theo chủ đề là những giả thuyết chắc
chắn có thể làm cơ sở cho việc tiến hành các thử nghiệm hoặc xây dựng dự án với các
hoạt động cụ thể.
Ví dụ: Khi thực hiện RRA thăm dò để nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội của
xã A thấy rằng đại bộ phận các gia đình thiếu lương thực từ 3 - 6 tháng, trong khi đất
trồng lúa trên m
ột đầu người tương đương với các nơi khác. RRA thăm dò đưa ra giả
thuyết sơ bộ là "thiếu lương thực là do năng suất lúa quá thấp". Để kiểm chứng giả
thuyết này, người ta tiến hành RRA theo chủ đề để khảo sát năng suất lúa và tìm
những nguyên nhân dẫn đến năng suất lúa thấp.
Nghiên cứu một chủ đề đã được ân định trước (chủ đề này không ph
ải là đề xuất
từ kết quả nghiên cứu của RRA thăm dò).
Ví dụ: Khi thấy hiện tượng nông dân ở các vùng nguyên liệu mía, phá bỏ mía
chuyển sang trồng các cây trồng khác. Bộ chủ quản yêu cầu tổ chức một cuộc nghiên
cứu về "nguyên nhân dẫn đến việc nông dân phá bỏ mía chuyển sang canh tác các cây
trồng khác". Như vậy chủ đề này đã được ấn định bởi bộ chủ quản chứ
không phải từ
kết quả của RRA thăm dò.
* Đánh giá nông thôn nhanh có sự tham gia của nông dân.