NHÌN LẠI CÁC BƯỚC ĐI, LẮNG NGHE NHỮNG TIẾNG NÓI VỀ VĂN HỌC VIỆT
NAM THỜI KÌ ĐỎI MỚI 1975-1991
1. Cái được gọi là "văn học đổi mới" ở Việt Nam đến nay đã cũ chưa? Nếu cũ rồi thì điểm
dừng, chỗ kết thúc của nó là ở đâu? Là năm nay, năm ngoái, năm kia, hay mươi năm về
trước? Bức tranh văn học Việt Nam sau 1975 phong phú, đa dạng với nhiều bè bối tương
đối phức tạp.
Nó là sản phẩm của nhiều thế hệ cầm bút có quan điểm nghệ thuật rất khác, thậm chí đối
lập, trái ngược nhau. Liệu có phải tất cả những gì do những con người ấy viết ra sau 1975
đều có thể gọi là văn học đổi mới? Bản chất thẩm mỹ của văn học đổi mới là gì? Nghiên
cứu văn học Việt Nam sau 1975, không thể không giải đáp những câu hỏi như thế. Khi
những câu hỏi như thế chưa được giải đáp, khái niệm văn học thời kì đổi mới vẫn chỉ là
một khái niệm tù mù.
2. Trong đời sống xã hội, "thời kì đổi mới" ở Việt Nam được tính từ năm 1986. Đây là
năm diễn ra Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên diễn đàn của Đại hội này,
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố "cởi trói", "đổi mới tư duy", với rất nhiều "việc
cần làm ngay". Nhưng văn học có vẻ như nhạy cảm hơn chính trị. Hàng chục năm trước
đó, người ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, bút kí thể hiện
sự đổi mới sâu sắc trong đời sống của văn học nghệ thuật. Truyện ngắn Bức tranh viết
năm 1975 của nhà văn Nguyễn Minh Châu là ví dụ tiêu biểu. Cho nên, có thể chọn năm
1975 làm cột mốc phân phân kỳ lịch sử, đánh dấu bước ngoặt đổi mới của văn học Việt
Nam.
Nhiều người vẫn gọi chung văn học sau 1975 là "văn học đổi mới" hoặc, "văn học của
thời kì đổi mới". Nhưng khi đã có đủ độ lùi thời gian để nhìn lại, ta nhận ra, "văn học đổi
mới" là một cao trào sáng tác có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc. Có thể tạm
chia cuộc vận động đổi mới của văn học Việt Nam thành 3 giai đoạn: 1975 - 1985; 1986 -
1991 và 1992 đến nay. Xin nói thêm, các năm 1975, 1986, 1992 chỉ là những cái mốc
hết sức tương đối.
2.1. Giai đoạn 1975 - 1985. Đây là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới. Gọi
đó là giai đoạn "khởi động" bởi vì, nếu chỉ nhìn ở bề ngoài thì sau ngày 30 tháng 4 năm
1975, đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, nhưng văn học
nghệ thuật thì hình như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến. Đề tài về
2.2. Giai đoạn 1986 - 1991. Đây là giai đoạn sôi nổi nhất của đời sống văn nghệ ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới. Trong mọi lĩnh vực nghệ thuật, từ văn học, hội hoạ, âm nhạc,
cho tới sân khấu, điện ảnh, sự đổi mới diễn ra vô cùng quyết liệt. Văn học dịch vẫn tiếp
tục phát triển và phát huy tác dụng. Nhưng giờ đây, giữ vai trò chủ công trong đổi mới
văn học là hoạt động lý luận, phê bình văn học và hoạt động sáng tác của các nhà văn, nhà
thơ. Đổi mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về đời
sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật. Cho nên vào nửa sau của những năm
80, hoạt động lý luận phê bình văn học gần như vượt lên phía trước, giữ vị trí của nhân tố
mở đường. Nghị quyết 05 về phê bình văn học của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam
được đón nhận hồ hởi. Trên tờ báo Văn nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn Việt
Nam (số 49 &50, ra ngày 5/12/1987), Nguyễn Minh Châu cho in bài phát biểu nổi tiếng
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ. Bài báo vừa là tuyên ngôn lý
thuyết, vừa thể hiện tinh thần đổi mới văn học hết sức triệt để của giới sáng tác. Chưa bao
giờ các cuộc toạ đàm "bàn tròn", hội nghị, hội thảo khoa học về những vấn đề lý luận văn
học được tổ chức rầm rộ như ở giai đoạn này. Có hai cuộc hội thảo lớn thu hút sự tham
gia rất đông đảo của cả giới sáng tác, lẫn giới nghiên cứu phê bình. Cuộc hội thảo thứ nhất
xoay quanh đề tài về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Cuộc hội thảo thứ hai tập
trung vào đề tài văn học phản ánh hiện thực. Văn học cần phản ánh hiện thực như thế
nào? Chủ thể sáng tạo của người nghệ sỹ có vai trò gì trong việc phản ánh hiện thực. Văn
học phục vụ chính trị là như thế nào? Đặc trưng của văn học là gì? Vì sao văn học cần đổi
mới? Đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn sáng tác liên quan tới hai đề tài nói trên.
Những vấn đề này, tưởng như đã có kết luận xong xuôi từ lâu, nay được xới lên bàn bạc,
phân tích, giải quyết lại theo tinh thần đổi mới.
Vào nửa sau của những năm 80, những cuộc tranh luận về văn học ở Việt Nam có thể
diễn ra sôi nổi như thế vì lúc ấy người ta được ăn nói, được phát biểu chính kiến, được hít
thở trong một bầu không khí tương đối dân chủ, lành mạnh. Cũng chính bầu không khí ấy
đã tạo nên sự khởi sắc trong sáng tác văn học. Thoạt đầu là sự xuất hiện của rất nhiều bút
ký. Thể phóng sự sau nhiều năm vắng bóng, nay lại lên tiếng làm xôn xao dư luận. Những
Tiếng đất của Hoàng Hữu Cát, Người đàn bà quỳ của Xuân Ba, Cái đêm hôm ấy đêm gì
của Phùng Gia Lộc, Lời khai của bị can của Trần Huy Quang chắc chắn sẽ đi vào lịch sử
chỉ cố gắng lắng nghe tiếng nói, giọng nói của các giai đoạn, thời đại văn học khác nhau.
Bởi vì văn học là diễn đàn để từ đó xã hội cất lên tiếng nói thể hiện ước mơ, khát vọng về
con người và cuộc sống. Ở mỗi thời đại, văn học bao giờ cũng có tiếng nói riêng, với một
điệu giọng rất riêng. Nhờ có tiếng nói và điệu giọng riêng ấy mà tư tưởng nghệ thuật trong
sáng tác văn học của các thời đại tìm thấy được hình thức biểu hiện cụ thể, cảm tính. Cho
nên, điệu giọng của tiếng nói nghệ thuật là nhân tố quan trọng nhất làm nên phong cách,
tạo thành bản chất thẩm mỹ của các giai đoạn, thời đại văn học.
3.1. Có một giọng nói rất to thống ngự trong văn học Việt Nam già nửa thế kỷ. Tôi có
nhận xét thế này. Trong văn học Âu - Mỹ thời hiện đại và hậu hiện đại, nhìn chung, các
nhân vật rất ít nói. Khi cần nói, chúng thường nói nhỏ, hoặc chỉ nói thầm. Người ta gọi
tiếng nói thầm của chúng là độc thoại nội tâm. Chúng cũng rất ít hành động. Thường thì
chúng im lặng để nghĩ và rất bận bịu với những ý nghĩ của mình. Ý nghĩ của chúng nhiều
khi hiện lên trên những trang văn giống như một dòng chảy lỏng đầu Ngô mình Sở.
Nhưng nếu quan sát, ta vẫn có thể nhận ra, trong mạch nghĩ, có lắm nhân vật thường bận
bịu với các ý nghĩ lạ, lời nói khác. Cho nên, độc thoại và đối thoại tư tưởng trở thành
motip chủ đề rất phổ biến trong văn học Âu, Mỹ.
Tôi không nhớ những Thứ, Điền, Hộ trong sáng tác của Nam Cao đã làm gì, nói gì, nhưng
tôi rất nhớ chúng đã nghĩ gì. Suy nghĩ là hoạt động quan trọng nhất tạo nên nhân cách của
các nhân vật ấy. Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng miên man trong suy
ngẫm, nghĩ ngợi. Nhân vật không làm gì, không nói gì. Lời nói và việc làm của nhân vật
thường là những việc đã làm, những lời đã nói, nay bỗng hiện về trong mạch suy ngẫm, từ
dòng hồi ức, hoài niệm. Lạ nhất là lão Khúng trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh
Châu. Trong văn học Việt Nam, tôi không thấy có mấy ông trí thức nghĩ ngợi nhiều như
lão nông dân này. Có lúc lão cũng nói. Nhưng lão nói mà giống như là đang tiếp tục mạch
suy nghĩ và ý nghĩ của lão tự bật lên thành tiếng. Giữa cái bể người mênh mông trong văn
học Việt Nam, nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, của Bảo Ninh giống như là
những ngoại lệ. Bởi vì trong sáng tác của các nhà văn khác, nhân vật không nghĩ nhiều
như thế. Người ta chỉ nghĩ khi nhận ra mình là một cá nhân, một chủ thể tự do. Nhân vật
trong văn học Việt Nam về cơ bản vẫn là con người của đám đông, được nhà văn miêu tả
như những khách thể. Chúng không có gì để nghĩ. Ý nghĩ của chúng chỉ là phản ứng tâm
tay chuyển thể, biến nhiều truyện ngắn thành kịch để được nói to trước bàn dân thiên hạ.
Nhờ nhân vật kịch nói to, xem ra vẫn chưa thoả, nên Nguyễn Huy Thiệp thường tìm đến
chính luận vốn là thể văn cho phép người cầm bút tự lên giọng để có thể nói thật to.
Nhưng Thượng Đế rất công bằng khi Người chia đều tài năng cho cả và thiên hạ. Ở kịch,
Nguyễn Huy Thiệp không thể nói to như Lưu Quang Vũ. Ở thể chính luận viết về văn học
nghệ thuật, Nguyễn Huy Thiệp không thể nói to giống như nhiều nhà nghiên cứu phê bình
chuyên nghiệp trong mấy năm gần đây.
Không phải đến thời đổi mới, văn học Việt Nam mới nói to. Ngay từ năm 1946, ta đã
nghe tiếng "hét" ("Ta hét huyên thuyên ta chạy khắp nhà"), tiếng thét" ("Tiếng Người thét
mau lên gươm với súng") trong thơ Tố Hữu. Và cũng chính trong năm ấy, thơ Xuân Diệu
vang lên tiếng nói của "Hội nghị non sông". Năm 1968, viết bài giới thiệu Thơ chống mỹ
cứu nước, nhìn lại thời chống Pháp, Chế Lan Viên vui mừng nhận thấy, chỉ có mấy năm
mà thơ ta đã "đổi được cái ngôn ngữ thời bình qua thời chiến, tiếng nói trong khuê phòng
ra tiếng nói giữa đời, sự thủ thỉ vào tai một người thành giọng ca hùng tráng cho muôn
ngàn quần chúng" . Cho nên, nói to là nét phong cách khu biệt của điệu giọng nghệ thuật
từng thống ngự trong diễn ngôn văn học Việt Nam già nửa thế kỉ.
Nhưng nói to cũng có lắm làn điệu, nhiều bè bối, tuỳ thuộc vào chủ thể hình tượng lời nói.
Trước 1975, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học sử thi. Văn học sau 1975 lại chủ yếu là
văn học thế sự. Sử thi là tiếng nói của tư tưởng quốc gia. Văn học thế sự sau 1975 là tiếng
nói của tâm trạng đại chúng. Lắng nghe tiếng nói ấy ta nhận ra dân trí, dân khí, dân tâm.
Quốc gia là cộng đồng của những quan hệ có tổ chức. Nhân dân, đại chúng lại là cộng
đồng của những quan hệ tự nhiên. Tiếng nói của tư tưởng quốc gia là tiếng nói quan
phương, chính thống. Tiếng nói của đại chúng là tiếng nói phi chính thống, phi quan
phương. Đây chính là nguồn cội tạo nên sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau ở nội dung
xã hội và bản chất thẩm mỹ của tiếng nói nghệ thuật trong văn học Việt Nam trước và sau
1975.
3.2. Nội dung xã hội của tiếng nói trong văn học thời đổi mới. Là tiếng nói chính thống,
quan phương của tư tưởng quốc gia, trước 1975, văn học sử thi đặt ra những vấn đề mang
tầm vóc lịch sử, liên quan tới vận mệnh và sự sống còn của cả một dân tộc. Nó bổ đôi thế
giới, chia thế giới thành hai nửa "địch" và "ta" đối đầu với nhau như nước với lửa, sống
rất nhiều cuộc họp gia đình. Ông Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp cho
mổ lợn mời họ hàng làng nước đến họp để chia vui. Cần trong Không có vua cũng triệu
tập cả nhà đến họp để mọi người được nói to ý kiến riêng: "Ai đồng ý để bố chết?". Tiếng
nói của văn học thế sự trở về với hiện thực trong muôn vàn những sinh hoạt đời thường
đang bầy ra trước mắt. Nó vùng vẫy, tìm cách thoát khỏi logic nhận thức để đến với logic
sự vật. Nó nói thật to những gì văn học sử thi thường dấu kín, không được nói, không dám
nói.
Vượt qua mọi sự cấm kỵ, văn học sau 1975 nói thật to cái sai, cái xấu và cả cái ác trong
nội bộ chúng ta, giữa chúng ta với nhau. Nguyễn Mạnh Tuấn thường nói tới cái sai trong
cung cách làm ăn, lề lối quản lý. Tính luận đề là một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu trong thời kỳ đổi mới. Nội dung luận đề của Nguyễn Minh Châu chủ
yếu nói về cái sai của những quan niệm giản đơn về con người từng tồn tại lâu dài trong
văn học và ý thức xã hội. Trong sáng tác của Dương Thu Hương có cả một lũ tu mi nam
tử mũ áo xênh xang, mà nhân cách hèn hạ. Dương Thu Hương không chỉ nói nhiều về cái
hèn, mà còn nói về sự ngu dại của đám người nhẹ dạ cả tin. Lê Lựu, Nguyễn Khắc
Trường nói về sự nhếch nhác và cái xấu của những lề thói được nuôi dưỡng hàng ngàn
đời nay sau luỹ tre làng. Ma Văn Kháng nói về sa sút của đạo đức, sự băng hoại không thể
nào níu giữ của phong hoá và sự tàn bạo, dữ dội của đời sống bán khai. Rất nhiều trang
văn của Nguyễn Huy Thiệp nói về sự phân rẽ trong quan niệm nhân sinh giữa các thế hệ
và sự đốn mạt của con người. Tiếng nói trên những trang văn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn
Huy Thiệp là tiếng nói của "quỷ ở trong thơ": "thi trung hữu quỷ". Nguyễn Huy Thiệp đã
gợi ý để người đọc hiểu như thế khi ông chuyển thể truyện Không có vua thành kịch Gia
đình. Ông thả lên sân khấu hai nhân vật "Quỷ I" và "Quỷ II". Ông lưu ý khán giả, rằng vở
kịch có phụ đề: Quỷ ở với người. Mà đâu chỉ là quỷ ở với người! Trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, người giống như đã hoá thành quỷ, nên đâu đâu cũng
thấy có ma quỷ hiện hình biết nói thứ tiếng của con người.
Không nên nghĩ, sau 1975, văn học chỉ nói tới cái phàm tục dơ dáng, méo mó nghịch dị.
Văn học chân chính bao giờ cũng là vương quốc của cái đẹp. Nhà nghiên cứu Hoàng ngọc
Hiến có lần nói đến "nguyên tắc tính nữ" như là "điểm tựa tinh thần" "toả một ánh sáng
dịu dàng, huyền diệu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp" [2]. Dĩ nhiên, sau 1975, văn
làm chấn động dư luận của Xuân Ba, Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Cát
Đến khi người ta công diễn những vở kịch của Lưu Quang Vũ, và xuất bản một loạt
truyện ngắn, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh thì tiếng gầm của văn học đổi mới trở nên có mãnh
lực đặc biệt.
Nhìn chung, nói to là cách tốt nhất để thể hiện mọi loại ý thức cộng đồng, cả tư tưởng
quốc gia trong văn học sử thi trước 1975, lẫn tâm trạng đại chúng của văn học thế sự thời
đổi mới. Nhưng cái giọng tự nhiên khi ta "nói", nhất là giọng của những tiếng "nói to" nếu
không được lạ hoá thì khó có thể trở thành điệu giọng mang tính nghệ thuật trong giao
tiếp thẩm mỹ. Cho nên, những tiếng "thét", tiếng "hét", giọng sừng sộ, lu loa cất lên trong
văn học tuy lôi cuốn được sự chú ý nhất thời của dư luận, nhưng không mấy ai đánh giá
cao, nên cũng nhanh chóng bị lãng quên. Lấy ví dụ thế này. Ngày 26 tháng 8 năm 1945,
Tố Hữu viết bài Hồ Chí Minh để ca ngợi Bác Hồ. Năm 1951, để ca ngợi Bác Hồ, Tố Hữu
lại viết bài Sáng tháng Năm. Tiếng thơ trong bài Hồ Chí Minh là tiếng nói cung kính,
nhưng cũng là tiếng "thét" đầy quyền uy, vang lên sang sảng. Giọng điệu trong Sáng
tháng Năm lại giống như lời hát, tiếng ru ngọt ngào đằm thắm. Khi so sánh hai bài thơ,
giới nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp cho rằng, Sáng tháng Năm là một một bước tiến
của Tố Hữu trong việc thể hiện hình tượng lãnh tụ. Thực tế cho thấy, có rất nhiều người
thuộc lòng Sáng tháng Năm, nhưng không mấy ai nhớ bài Hồ Chí Minh của Tố Hữu.
Thêm một ví dụ khác. Khi mới xuất hiện trên mặt báo, Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng
Gia Lộc làm dư luận xôn xao chẳng thua gì so với Tướng vê hưu của Nguyễn Huy Thiệp.
Nhưng bây giờ, nếu đọc văn học chỉ để thưởng thức vẻ đẹp của sáng tạo ngôn từ, chắc còn
mấy ai tìm đến cái phóng sự của Phùng Gia Lộc! Ngày nay nhìn lại, rất dễ thấy, nhiều tác
phẩm văn học thời đổi mới chưa đổi mới văn học được là bao. Chúng tồn tại trong ký ức
người đọc chủ yếu như một hiện tượng xã hội, hơn là một sự kiện nghệ thuật. Để biến
tiếng nói xã hội thành tiếng nói nghệ thuật, văn học trước và sau 1975 đã tìm đến những
phương thức thể hiện rất khác nhau. Trước, tiếng nói trong văn học cất lên thành tiếng hát
hùng tráng; sau, nó hoá thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại.
3.3. Từ nội dung xã hội đến tiếng nói nghệ thuật. Rất dễ nhận ra, trước 1975, nền văn học
sử thi đã nhanh chóng đổi tiếng "hét" và tiếng "thét" thành tiếng hát đầy chất lãng mạn.
nghệ thuật. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám, chưa bao giờ câu đối, thơ trào tiếu và truyện
cười giễu nhại dân gian lại xuất hiện nhiều như những năm 80 của thế kỷ trước. Hình như
giễu nhại đã trở thành kiểu quan hệ đời sống mang phong cách thời đại. Từ góc độ này mà
nhìn lại, sẽ thấy, Thời xa vắng (1987) của Lê Lựu có một vị trí đặc biệt trong tiến trình
văn học Việt Nam sau 1975. Đọc tác phẩm, ta như gặp một người vừa lạ, lại vừa quen.
Quen, vì tác phẩm viết cả về chiến tranh lẫn xây dựng. Nhân vật trung tâm của tác phẩm
là người lính. Người trần thuật kể lại câu chuyện về cuộc đời Giang Minh Sài không phải
là để người đọc có dịp được suy ngẫm, mà là để được nói thật to những điều hình như nó
đã ngẫm nghĩ xong xuôi. Cho nên chỗ nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài
dòng, mà cái ý luận đề thì rất lộ. Đã thế, tác phẩm lại cố gò để kết thúc có hậu, cuối câu
chuyện, nhà văn còn cố ý cho nhân vật nói thật to tư tưởng chủ đề của tác phẩm: con
người ta không nên "yêu cái người khác yêu", càng không nên "đi yêu cái mình không
có". Tóm lại, Thời xa vắng sử dụng chất liệu nghệ thuật rất quen thuộc của văn học sử thi
trước 1975. Nguyên tắc trần thuật của sử thi cũng để lại dấu ấn ở mối quan hệ giữa người
kể chuyện và người đọc trong Thời xa vắng. Nhưng đặt bên cạnh những tác phẩm cùng
thời, tiểu thuyết của Lê Lựu đúng là bước ngoặt của tiến trình đổi mới văn xuôi nghệ
thuật. Có một sự thay đổi hết sức cơ bản ở việc kiến tạo khu vực không gian - thời gian
của hình tượng trong Thời xa vắng. Ở đây, khoảng cách thời gian và khoảng cách giá trị
của sử thi hoàn toàn bị đảo ngược. Tác phẩm đặt người trần thuật vào vị trí một con người
từng trải, nhờ nếm trải mà đã trưởng thành. Từ vị trí ấy, nó nhìn thấy trong thực tại một
"thời xa vắng" đầy những bi hài. Cái làng Hạ Vị của Giang Minh Sài dẫu đã lên đến hợp
tác cấp cao, trải qua đánh Pháp, đánh Mỹ, có đủ cả bí thư, chủ tịch vẫn cứ là hình ảnh thu
nhỏ của một vương quốc "rất ngố", "rất nhắng", động ai có tí việc liền "ngậu xị cả lên".
Vương quốc ấy đã giết chết con người cá nhân, biến anh hùng thành nhân vật bi hài
kịch."Thời xa vắng" chính là thực tại được nhìn lại như một quá khứ giễu nhại. Nó giễu
nhại ngay cái thực tại từng được sử thi biến thành quá khứ lý tưởng.
Thời xa vắng của Lê Lựu là một tiểu thuyết giễu nhại độc đáo. Nó không cần sử dụng
những thủ pháp lạ hoá quen thuộc như phóng đại, hay vật hoá hình ảnh con người để làm
nổ ra tiếng cười. Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện "thật như đùa" mà đã có thể tạo
ra được hình tượng giễu nhại. Nhờ thế, lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa, lúc
vẻ như, mọi thể loại ngôn từ đều có thể trở thành hình tượng giễu nhại trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng nhại thể loại thực chất chỉ là giễu nhại hình tượng con người
được định hình trong ý thức xã hội và ý thức nghệ thuật. Trong ý thức nghệ thuật và ý
thức xã hội hình tượng con người thường bị đồng nhất với các vai trò xã hội của nó. Ông
là giáo viên, bà là nhà báo, anh ấy là bộ đội, chị ấy là công nhân, nó là thằng mổ lợn Và
chúng ta tin, mỗi vai xã hội của con người bao giờ cũng ứng với một loại phẩm hạnh: anh
hùng dứt khoát chỉ biết xả thân vì nước, trí thức chỉ biết đọc sách thâu đêm, công nhân
miệt mài trong xưởng thợ Trong truyện Những bài học nông thôn, Nguyễn Huy Thiệp
nói về sự nhẹ dạ của lòng người:
"Sự nhẹ dạ của lòng người
Tôi nhẹ dạ, anh nhẹ dạ, chị nhẹ dạ
Và em nữa, em thân yêu
Em nhẹ dạ quá chừng
Chúng ta đều nhẹ dạ trên cõi đời này
Tôi đã nhẹ dạ tin theo bố tôi
Tôi nhẹ dạ tin anh, tin chị
Và em nữa, em thân yêu
Em nhẹ dạ quá chừng
Trái tim em trong trắng thế
Và đôi môi em tinh khiết thế
Đôi mắt em buồn tái tê
Niềm tin kia
Niềm tin chẳng có giả thiết gì, chẳng có điều kiện gì.
Còn nếu tôi là quỷ dữ?
Anh là quỷ dữ? chị là quỷ dữ?
Bố mẹ tôi là quỷ dữ?
Sự nhẹ dạ của lòng người
Có chắp cánh cho chúng ta bay lên thiên đường không?"
Hình như để thức tỉnh lòng người, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả cuộc đời giống như một
kịch trường. Ở đó có tấn kịch của bản thân, có tấn kịch của gia đình, cũng có tấn kịch của
tâm trạng đại chúng bầu lên nhà thơ. Cho nên, tiếng nói chủ đạo, mang tính chất bao trùm,
chi phối khuynh hướng vận động của văn học Việt Nam từ 1945 cho đến cuối những năm
90 của thế kỷ trước vẫn là tiếng nói cộng đồng. Trước 1975, nó là tiếng nói giữ trật tự ở
bên trên. Sau 1975, nó lại là tiếng nói có phần hỗn loạn ở bên dưới. Tiếng nói của cộng
đồng chỉ có thể là tiếng nói to. Trước 1975, văn học sử thi biến tiếng nói thành tiếng hát.
Nhìn vào đâu, nó cũng thấy đời sống đã hoá thành "tiếng hát", "bài ca". Viết văn, làm thơ
chính là cái cách để người ta ca hát. Tâm thế sáng tạo và cách cảm nhận đời sống như thế
khiến trước 1975, kịch không có mấy cơ may phát triển. Truyện, ký bị trữ tình hoá để hoà
vào giọng hát của thơ và thơ thì bao giờ cũng hát to nhất, át cả tiếng hát của văn xuôi. Sau
1975, văn học thế sự chuyển tiếng nói thành tiếng cười trào tiếu, giễu nhại. Tiếng cười
giễu nhại, trào tiếu mở đường cho văn xuôi phát triển, tạo môi trường để văn xuôi nói to
hơn thơ.
Đồng Bát. Tháng Tư năm Con Gà
L.N
[1] : Chế Lan Viên Thơ trong ba năm đánh Mỹ cứu nước, Bài giới thiệu tuyển tập Thơ
chống Mỹ cứu nước, Nxb Văn học, Hà Nội, 1968, tr. 8.
[2] : Hoàng Ngọc Hiến Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr. 239
[3] : Tố Hữu, Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta,
Nxb Văn học, Hà Nội, 1973, tr. 450
(Nguồn : Văn học Việt Nam sau 1975 : Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo
dục, 2006, tr. 55 - 69)