BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
SO SÁNH TÁC DỤNG CỦA HAI PHƯƠNG PHÁP
GÂY MÊ TĨNH MẠCH HOÀN TOÀN BẰNG PROPOFOL
CÓ VÀ KHÔNG KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ ĐÍCH
Chuyên ngành: GÂY MÊ HỒI SỨC
Mã số: 62.72.01.22
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2013
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Lê Xuân Thục
2. PGS. TS. Lê Thị Việt Hoa
Phản biện 1: PGS. TS. Công Quyết Thắng
Phản biện 2: TS. Nguyễn Đức Thiềng
Phản biện 3: TS. Nguyễn Thị Quý
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện,
tại Viện nghiên cứu Khoa học Y dược lâm sàng 108
vào hồi: giờ phút, ngày tháng 10 năm 2013.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Quốc gia Việt Nam
2. Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108
3. Viện Thông tin Y học Trung ương
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gây mê tĩnh mạch hoàn toàn (GMTMHT) là một phương pháp
gây mê toàn thân, không sử dụng các thuốc mê thể khí. Phương pháp
này đã được chứng minh có nhiều ưu điểm, do đó các nhà gây mê
trong nước còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài này được thực
hiện với các mục tiêu sau:
2
1. So sánh hiệu quả gây mê bằng propofol có kiểm soát nồng độ
đích với không kiểm soát nồng độ đích trên các bệnh nhân
phẫu thuật bụng theo kế hoạch.
2. So sánh ảnh hưởng huyết động và hô hấp giữa gây mê có kiểm
soát nồng độ đích và không kiểm soát nồng độ đích
3. Xác định các giá trị nồng độ đích của propofol trong quá trình mê
của nhóm gây mê kiểm soát nồng độ đích.
Đóng góp mới của luận án:
1. Nghiên cứu so sánh gây mê tĩnh mạch hoàn toàn bằng propofol
kiểm soát nồng độ đích cho thấy kỹ thuật này có khả năng duy trì độ
mê và huyết động ổn định, hồi tỉnh nhanh hơn so với không kiểm
soát nồng độ đích trên các bệnh nhân phẫu thuật bụng.
2. Xác định được nồng độ đích của propofol gây mất ý thức, đủ điều
kiện đặt nội khí quản, khi định hướng đúng, nồng độ duy trì mê cao
nhất, thấp nhất trên các bệnh nhân phẫu thuật bụng, góp thêm kinh
nghiệm cho gây mê kiểm soát nồng độ đích của propofol tại Việt Nam.
Bố cục của luận án: luận án gồm 116 trang, trong đó có 28 bảng, 8
biểu đồ, 4 hình, 5 ảnh và 2 sơ đồ. Phần đặt vấn đề 2 trang; chương 1:
tổng quan (33 trang); chương 2: đối tượng và phương pháp nghiên
cứu (23 trang); chương 3: kết quả nghiên cứu (23 trang); chương 4:
bàn luận (32 trang); kết luận (2 trang); kiến nghị (1 trang), danh mục
các công trình nghiên cứu dã công bố liên quan tới luận án (1 trang);
tài liệu tham khảo (137 tài liệu, gồm 12 tài liệu tiếng Việt, 125 tài
liệu tiếng Anh); 2 phụ lục.
Chương 1
1. TỔNG QUAN
1.1. GÂY MÊ TĨNH MẠCH
1.2.1. Cơ sở lý thuyết và lịch sử phát triển
Nhờ các phân tích toán học, người ta thấy dược động học của
các thuốc mê tĩnh mạch khi được mô tả theo mô hình 3 khoang là
thích hợp nhất [Error: Reference source not found], [Error: Reference
source not found], [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found]. Với mô hình 3 khoang, sau khi tiêm
thuốc vào khoang trung tâm, tiếp theo sẽ phân bố nhanh vào các tổ
chức được tưới máu nhiều. Cuối cùng là giai đoạn phân bố chậm vào
các tổ chức được tưới máu kém hơn.
Do tính chất lý hóa khác nhau, nên mỗi thuốc có một mô hình
dược động học riêng biệt. Sử dụng các thông số dược động học để
tính toán tốc độ truyền nhằm duy trì nồng độ thuốc ổn định trong
thực hành gây mê rất phức tạp và khó vận dụng trên lâm sàng cho các
bác sĩ gây mê [Error: Reference source not found]. Ứng dụng công
nghệ vi xử lý giúp tính toán theo mô hình dược động học giúp chúng
ta có thể sử dụng các thuốc mê tĩnh mạch trong thực tế lâm sàng một
cách khoa học và đơn giản.
Năm 1986, bơm tiêm điện được điều khiển bằng máy tính dành
cho các thuốc mê tĩnh mạch đã ra đời ở Đức. Năm 1992, Kenny và
White đã phát triển một hệ thống điều khiển bằng máy tính cho phép
các nhà gây mê có thể tính nồng độ propofol ở bất kỳ thời điểm nào
[Error: Reference source not found]. Diprifusor
®
là thiết bị đầu tiên
dành riêng cho propofol với kỹ thuật kiểm soát nồng độ đích được
đưa vào sử dụng từ năm 1996.
4
Hệ thống TCI bao gồm một phần mềm được lập trình dựa trên
các thông số trong mô hình dược động học của thuốc để điều khiển tự
động một bơm tiêm điện. Thay thế cho việc cài đặt tốc độ tiêm truyền
khi khởi mê propofol được tiêm với tốc độ 800ml/h cho tới khi bệnh
nhân mất ý thức rồi mới bắt đầu kiểm soát theo nồng độ đích [Error:
Reference source not found].
Nhìn chung các nghiên cứu lâm sàng đều cho thấy TCI là một kỹ
thuật an toàn và hiệu quả, có nhiều ưu điểm so với kỹ thuật không
kiểm soát nồng độ đích. Ví dụ như: Thời gian khởi mê dài hơn nhưng
liều thấp hơn, tỷ lệ ngừng thở khi gây mê giảm hơn, huyết động ổn
định và bệnh nhân cử động ít hơn, điểm chất lượng gây mê cũng cao
hơn so với kỹ thuật không kiểm soát nồng độ đích.
5
1.2.3.2. Tại Việt Nam
Các nghiên cứu vê gây mê kiểm soát nồng độ đích ở Việt Nam
bắt đầu từ năm 2010.
Ngô Văn Chấn và cộng sự (2010) nghiên cứu gây mê kiểm soát
nồng độ đích trên các BN nội soi lồng ngực cho kết luận: kỹ thuật
cho phép khởi mê nhanh, đặt nội phế quản êm dịu, duy trì mê ổn định,
kiểm soát tốt độ sâu gây mê, dự đoán được thời gian hồi tỉnh, chất lượng
hồi tỉnh cao, ít tai biến và biến chứng trong và sau mổ [Error: Reference
source not found].
Cùng năm 2010, Châu Thị Mỹ An và cộng sự nghiên cứu gây mê
tĩnh mạch bằng propofol kiểm soát nồng độ đích huyết tương có thể áp
dụng tốt cho phẫu thuật vùng bụng với nồng độ tương đối thấp (1,5 – 5,2
μg/ml) và chất lượng gây mê tốt. Tác giả kết luận gây mê tĩnh mạch bằng
propofol có kiểm soát nồng độ đích có liều khởi mê thấp hơn, mất ý thức
nhanh hơn, khởi mê êm dịu, thay đổi huyết động ít hơn, đặt NKQ tốt
hơn, ít cử động trong mổ hơn, ít điều chỉnh liều trong mổ, thời gian hồi
tỉnh ngắn và êm dịu hơn so với nhóm không kiểm soát nồng độ đích
[Error: Reference source not found].
Năm 2010, Đặng Văn Chính và cộng sự nghiên cứu sử dụng TCI
tại Bệnh viện Thanh nhàn cho kết luận: “Liều Diprivan khi khởi mê
1.3.2. Sử dụng lâm sàng
Một số công thức truyền liều chỉnh tay với propofol đã được áp
dụng như sau:
- Sau khởi mê, duy trì tốc độ 100-200μg/kg/phút theo yêu cầu và
đáp ứng với các kích thích trong phẫu thuật [Error: Reference source
not found].
- Gill và cộng sự [Error: Reference source not found] truyền tốc
độ 600ml/h để khởi mê, sau đó duy trì truyền liên tục 6mg/kg/h hoặc
truyền theo kiểu bậc thang 10mg/kg/h trong 10 phút, 8 mg/kg/h trong
10 phút tiếp theo, sau đó là 6mg/kg/h.
- Với kỹ thuật kiểm soát nồng độ đích khuyến cáo như sau
[Error: Reference source not found]: Bệnh nhân < 55 tuổi, ASA I-II,
nồng độ đích khởi mê 4-8µg/ml. Nếu được tiền mê: 4µg/ml, không
tiền mê: 6µg/ml. Thời gian khởi mê từ 60-120 giây. Liều thấp hơn ở
những bệnh nhân > 55 tuổi và tình trạng ASA III-IV. Duy trì mê: 3,5
-5,5 µg/ml.
Chương 2:
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Là các bệnh nhân (BN) được phẫu thuật mở vùng bụng theo kế
hoạch, dưới gây mê bằng propofol kết hợp sử dụng thuốc giãn cơ, đặt
NKQ và thông khí nhân tạo tại Bệnh viện 354, từ 10/2007 đến
10/2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các BN được phẫu thuật mổ mở vùng bụng gồm: cắt đoạn dạ dày,
cắt đại tràng, sỏi đường mật trong và ngoài gan.
- Tuổi từ 16 - 65.
- Sức khoẻ trước mổ xếp loại ASA I – II, theo tiêu chuẩn Hội Gây mê
Hoa Kỳ (American Society of Anesthesiologists).
- BN hoặc người thân ký bản cam kết hoàn toàn tự nguyện tham gia
1-
α
/2
= 1,96 (tra bảng tính sẵn với độ tin cậy 95%)
Nghiên cứu của Tzaba [Error: Reference source not found] khi
khởi mê kiểm soát nồng độ đích với liều propofol đầu tiên 4 µg/ml có
kết hợp tiền mê bằng midazolam tỷ lệ đặt NKQ tốt là 87%, nên chọn
p = 0,87.
Thay các giá trị vào ta có:
n = 1,96
2
= 44
Như vậy, mỗi nhóm nghiên cứu cần tối thiểu 44 BN.
Các BN được chia thành hai nhóm:
- Nhóm 1: có kiểm soát nồng độ đích (n = 65).
- Nhóm 2: không kiểm soát nồng độ đích (n = 65)
2.2.3. Các tiêu chí nghiên cứu
2.2.3.1. Đặc điểm bệnh nhân và phẫu thuật
2.2.3.2. So sánh hiệu quả gây mê giữa hai phương pháp (Mục tiêu
1)
• Xác định và so sánh các chỉ tiêu về thời gian:
- Thời gian mất ý thức
- Thời gian đủ điều kiện đặt NKQ
- Thời gian tỉnh
- Thời gian đủ điều kiện rút NKQ
- Thời gian lưu hồi tỉnh
• Xác định và so sánh lượng propofol tiêu thụ của hai nhóm
- Tổng liều propofol khởi mê (đơn vị tính: mg),
p(1-p)
d
+ T1: Trước đặt NKQ + T6: Khi BN tỉnh (hồi phục p/x mi mắt)
+ T2: Sau đặt NKQ 2 phút + T7: Trước rút NKQ
+ T3: Trước rạch da + T8: Sau rút NKQ 2 phút
+ T4: Sau rạch da
2.2.3.4. Xác định nồng độ đích của propofol của nhóm 1 (mục tiêu 3)
Xác định nồng độ đích của propofol ở các bệnh nhân của nhóm 1:
- Khi BN mất ý thức
- Khi đủ điều kiện đặt NKQ
- Khi mở mắt và định hướng đúng (nhớ chính xác tuổi, nơi ở)
- Nồng độ đích duy trì mê cao nhất và thấp nhất.
2.2.4. Tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu
- Đánh giá mức độ an thần: Thang điểm MOAAS
- Theo dõi mức mê trên lâm sàng: Phân loại mức mê của Ausems và
cộng sự [Error: Reference source not found]; Tiêu chuẩn tỉnh trong
mổ theo lâm sàng: bảng điểm PRST của Evans [Error: Reference
source not found]. Khi PRST ≥ 3 được coi là tỉnh.
9
- Tiêu chuẩn để BN rời hồi tỉnh:
Đạt từ 10/14 theo thang điểm Aldrete sửa đổi.
- Đánh giá mức độ đau sau mổ:
Thang đo độ đau Visual Analogue Scale (VAS)
- Đánh giá thức tỉnh trong mổ bằng một số câu hỏi của Abouleish
và Taylor (Sửa đổi các câu hỏi của Brice và cộng sự).
2.2.5. Phương tiện nghiên cứu
Hệ thống TCI-I, Bơm tiêm điện Terumo T331(Nhật Bản), Máy
gây mê Fabius GS (Drager - Đức), Máy đo độ giãn cơ TOF-
GUARD, Máy theo dõi bệnh nhân Life Scope I
2.2.6. Quy trình nghiên cứu
2.2.6.1. Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ
Khám BN ngày trước mổ, chọn các BN đủ tiêu chuẩn nghiên
2
O và PetCO
2
= 32-35 mmHg.
Nhóm 2:
10
+ Truyền propofol bằng bơm tiêm điện tốc độ 600ml/h cho tới khi
MOAAS = 0. Khi BN mất phản xạ mi mắt, tiêm esmeron liều 0,6
mg/kg, nếu sau tiêm 2 phút mà chỉ số TOF ≥ 2 thì bổ xung 10-15mg.
+ Khi điểm MOAAS = 0, đồng thời chỉ số TOF ≤ 1 đáp ứng thì
tiến hành đặt NKQ. Duy trì thở máy kiểu kiểm soát thể tích như
nhóm 1.
• Duy trì mê: Mục tiêu duy trì mê là PRTS ≤ 2.
Với propofol
Nhóm 1:
Nếu điểm PRST ≤ 2, huyết động ổn định thì không cần điều
chỉnh độ mê. Nếu mê quá sâu hoặc mê nông, có các dấu hiệu của tỉnh
trong mổ (điểm PRST ≥ 3) thì phải điều chỉnh độ mê. Mỗi lần điều
chỉnh tăng hoặc giảm nồng độ đích từng mức 0,2 µg/ml. Chủ động
điều chỉnh tăng nồng độ trước các thì phẫu thuật có can thiệp mạnh,
giảm nồng độ khi kích thích đã giảm bớt. Sau 5 phút duy trì ở nồng
độ đích mới, mà vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn thì tiếp tục điều
chỉnh cho đến khi đạt yêu cầu.
Nhóm 2:
Cũng dựa vào mức mê, điểm PRST, huyết động như nhóm 1 để
đánh giá và điều chỉnh độ mê. Ngay sau đặt NKQ, chuyển sang
truyền duy trì liều 6mg/kg/h, tiếp theo điều chỉnh tốc độ truyền
propofol từ 4 - 12 mg/kg/h [Error: Reference source not found]
theo đáp ứng của BN và diễn biến của phẫu thuật.
Với các thuốc phối hợp
lượng. Sử dụng test-t ghép cặp để so sánh sự khác biệt trung bình của
biến định lượng trong hai thời điểm khác nhau của một nhóm. Sử
dụng test χ2 (khi bình phương) để kiểm định mối liên quan của các
biến định tính. Ngưỡng có ý nghĩa thống kê được chọn với độ tin cậy
95%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
12
Chương 3
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VÀ PHẪU THUẬT
3.1.1. Đặc điểm bệnh nhân
Kết quả Bảng 3.1, Bảng 3.2: Các giá trị tuổi, chiều cao, cân
nặng, BMI, tỷ lệ nam và nữ giữa hai nhóm khác nhau không có ý
nghĩa thống kê, p > 0,05.
3.1.2. Đặc điểm phẫu thuật
Kết quả Bảng 3.3, Bảng 3.4, Bảng 3.5, Bảng 3.6: Tỷ lệ các loại
phẫu thuật bụng, thời gian phẫu thuật và thời gian mê, liều lượng các
thuốc phối hợp và dịch truyền trong mổ của hai nhóm khác nhau
không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05.
3.2. HIỆU QUẢ GÂY MÊ KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ ĐÍCH
3.2.1. Các chỉ tiêu về thời gian
Bảng 3.7.Chỉ tiêu thời gian trong giai đoạn khởi mê
Nhóm
Thời gian
Nhóm 1
(n = 65)
Nhóm 2
(n= 65)
p
Thời gian
mất
± SD
24,02 ±6,15 26,32 ± 5,17
< 0,05
Min–Max 13 - 39 17 - 42
Thời gian đạt từ
10 điểm Aldrete
± SD
30,03 ± 6,61 33,22 ± 5,62
< 0,001
Min–Max 18 – 46 23 - 50
Tất cả các chỉ tiêu về thời gian trong giai đoạn hồi tỉnh của nhóm
1 đều ngắn hơn so với nhóm 2.
Bảng 3.9.Thời gian tỉnh và thời gian tỉnh ước tính trên máy của nhóm 1
13
Sự khác biệt giữa thời gian tỉnh và thời gian tỉnh ước tính trên
máy của nhóm 1 không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
3.2.2. Tiêu thụ propofol
Bảng 3.10.Tiêu thụ propofol
Tiêu thụ propofol Nhóm 1(n = 65) Nhóm 2(n= 65) p
Tổng liều
khởi mê (mg)
± SD
72,46 ± 8,57 113,08 ± 13,03
< 0,001
Min-Max 58,74 – 95,99 90 - 142
Liều khởi mê
TB (mg/kg)
± SD
1,40 ± 0,00
2,18 ± 0,08
Khoảng thời gian
Nhóm 1
(n = 65)
Nhóm 2
(n = 65)
p
Trong giờ đầu
(lần)
Số BN 65 65
< 0,001
± SD
1,06 ± 0,76 0,34 ± 0,50
Trong giờ thứ
2 (lần)
Số BN 65 65
< 0,05
± SD
1,31 ± 0,66 1,62 ± 0,82
14
Trong giờ thứ
Số BN 42 53 < 0,001
± SD
0,64 ± 0,53 1,42 ± 0,60
Số lần cần điều chỉnh tăng độ mê của nhóm 2 trong giờ đầu ít
hơn (p < 0,001). Nhưng nhiều hơn trong các giờ thứ 2 và thứ 3, so
với nhóm 1, (p lần lượt < 0,05 và < 0,001). Việc điều chỉnh tăng độ
mê trong giờ thứ 3 so với giờ thứ 2 có xu hướng giảm ở cả hai nhóm.
Bảng 3.14. Số lần phải điều chỉnh giảm độ mê trong mổ
Khoảng thời gian Nhóm 1(n = 65) Nhóm 2(n = 65) p
Trong giờ đầu
Giá trị VAS trung bình sau rút NKQ ở cả hai nhóm cho thấy các
BN chỉ chịu đau nhẹ hoặc vừa. Sự khác biệt giữa hai nhóm không có
ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Bảng 3.16. Các tác dụng không mong muốn
Triệu chứng Nhóm 1(n = 65) Nhóm 2(n= 65) p
Buồn nôn (Số BN, %) 5 (7,7%) 8 (12,3%)
> 0,05
Nôn (Số BN, %) 3 (4,6 %) 5 (7,7 %)
Rét run (Số BN, %) 1 (1,5%) 2 (3,0%)
15
Các tác dụng phụ thường gặp là buồn nôn, nôn, rét run với tỷ lệ
thấp và không có sự khác biệt giữa hai nhóm, với p > 0,05. Cả hai
nhóm không gặp ảo giác và suy hô hấp sau mổ.
16
3.3. ẢNH HƯỞNG HUYẾT ĐỘNG VÀ HÔ HẤP
3.3.1. Ảnh hưởng huyết động
Bảng 3.17.Thay đổi nhịp tim khi khởi mê
Thời
điểm
Nhịp tim
(lần/phút)
Nhóm 1
(n = 65)
Nhóm 2
(n= 65)
p
(t-test)
T0
± SD
68,48 ± 6,61
nhóm 1 có mức giảm nhịp tim ít hơn nhóm 2, với p < 0,001. Sau đặt
NKQ, nhịp tim cả hai nhóm đều có xu hướng tăng, nhưng tại thời
điểm này nhịp tim của nhóm 2 vẫn thấp hơn so với nhóm 1, với p <
0,05.
Bảng 3.18. Tỷ lệ BN có nhịp tim chậm khi khởi mê
Tỷ lệ BN có nhịp tim chậm khi khởi mê của nhóm 1 ít hơn nhóm
2, p < 0,001.
Bảng 3.19. Nhịp tim trong giai đoạn duy trì mê
Không có khác biệt về nhịp tim giữa hai nhóm tại các thời điểm
T3, T4, T5 trong giai đoạn duy trì mê, p > 0,05.
Bảng 3.20. Nhịp tim trong giai đoạn hồi tỉnh
Nhịp tim của cả hai nhóm ở các thời điểm T6, T7, T8 khác nhau
không có ý nghĩa thống kê. Ở mỗi nhóm nhịp tim có xu hướng tăng
nhẹ về cuối cuộc mổ, p < 0,001.
Bảng 3.21.Thay đổi HATB khi khởi mê
Thời
điểm
HATB
(mmHg)
Nhóm 1
(n = 65)
Nhóm 2
(n= 65)
p
(t-test)
T0
± SD
81,51 ± 6,44
(1)
83,05 ± 6,41
Dấu hiệu giảm HATB Nhóm 1 (n = 65) Nhóm 2 (n= 65) p
Có (Số BN,%) 23(35,4%) 43 (66,2%)
< 0,05
Không (Số BN,%) 42 (64,6%) 22 (33,8%)
Tỷ lệ BN có giảm HATB khi khởi mê ở nhóm 2 nhiều hơn nhóm
1, với p < 0,05.
Bảng 3.23. HATB trong giai đoạn duy trì mê
HATB giữa hai nhóm tại các thời điểm T3, T4, T5 trong giai
đoạn duy trì mê không khác biệt, p > 0,05. Ở cả hai nhóm, trong giai
đoạn duy trì mê HATB có xu hướng giảm ở thời điểm T4 và tăng ở
thời điểm T5, p < 0,001.
Bảng 3.24. HATB trong giai đoạn hồi tỉnh
HATB của cả hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê ở
các thời điểm T6, T7,T8. Nhưng có xu hướng giảm nhẹ về cuối cuộc
mổ ở cả hai nhóm, p < 0,001.
Bảng 3.25. Mức thay đổi HATB lớn nhất
Mức thay đổi lớn
nhất
Nhóm 1
(n = 65)
Nhóm 2
(n= 65)
p
< 10% (Số BN, %) 36 (55,4%) 8 (12,3%)
< 0,001
10 – 20 % (Số BN, %) 28 (43,1%) 46 (70,8%)
> 20% (Số BN, %) 1 (1,5%) 11 (16,9%)
Nhóm 1 duy trì được HATB ổn định hơn nhóm 2, p<0,001.
3.3.2. Ảnh hưởng hô hấp
Bảng 3.26. Ảnh hưởng hô hấp
3,11 ± 0,36
Min –Max 2,4 – 4,0
Duy trì cao nhất (µg/ml)
± SD
4,04 ± 0,48
Min –Max 3,2 – 5,2
Nhận xét: Nồng độ propofol duy trì mê của nhóm 1 dao động trong
khoảng từ 2,4 – 5,2 µg/ml.
Chương 4
4. BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VÀ PHẪU THUẬT
Không có sự khác biệt về tuổi, chiều cao, cân nặng, tỷ lệ giới, tỷ
lệ các loại phẫu thuật. Lượng thuốc phối hợp giữa hai nhóm cũng
khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Như vậy hai nhóm nghiên cứu
có tính đồng nhất cao.
4.2. HIỆU QUẢ GÂY MÊ
4.2.1. Các chỉ tiêu về thời gian
4.2.1.1. Thời gian gây mất ý thức
Thời gian để mất ý thức của bệnh nhân nhóm 1 dài hơn so với
nhóm 2 có nghĩa thống kê. Nguyên nhân là do khác biệt về liều
propofol trung bình khi khởi mê.
Trong nghiên cứu của Châu Thị Mỹ An và cộng sự thời gian mất
ý thức ở nhóm kiểm soát nồng độ đích huyết tương ngắn hơn nhóm
không kiểm soát nồng độ đích (75,5 ± 47,5 so với 89,1 ± 36,9 giây)
[Error: Reference source not found]. Nghiên cứu gây mê propofol
kiểm soát nồng độ đích cho phẫu thuật nội soi lồng ngực, Ngô Văn
Chấn và cộng sự thấy thời gian mất tri giác và phản xạ trung bình là 82
± 22 giây [Error: Reference source not found]. Hoàng Văn Bách và
cộng sự khởi mê bằng propofol_TCI nồng độ đích huyết tương 4
19
Thời gian hồi tỉnh phụ thuộc thời gian mê, thời gian mê càng dài
thì quá trình hồi phục càng chậm. Nguyên nhân là vì thời gian bán
hủy nhạy cảm theo tình huống tăng dần theo thời gian.
Thời gian hồi tỉnh còn phụ thuộc vào thuốc phối hợp trong mổ.
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng kết hợp fentanyl, có tác dụng hiệp
đồng cộng với propofol, nên khi thời gian mê > 90 phút, fentanyl đã
20
bị tích luỹ dẫn đến kéo dài thời gian bán hủy nhạy cảm theo tình
huống làm gia tăng thời gian tỉnh của BN.
4.2.1.4. Thời gian đủ điều kiện rút NKQ
Kết quả cho thấy thời gian rút NKQ ở nhóm 1 ngắn hơn so với
nhóm 2. Điều này cũng dễ hiểu vì thời gian rút NKQ phụ thuộc thời
gian tỉnh. Theo Mayer và cộng sự (2008), thời gian rút NKQ của
nhóm TCI cũng ngắn hơn nhóm MCI, lần lượt là 9,6 ± 2,1 phút so
với 15,7 ± 9,6 phút, p= 0,011 [Error: Reference source not found].
Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả trên.
4.2.1.5. Thời gian đạt từ 10/14 điểm Aldrete
Theo kết quả nghiên cứu thời gian đạt từ 10 điểm Aldrete của
nhóm 2 dài hơn nhóm 1. Nghiên cứu của Breslin và cộng sự [Error:
Reference source not found] cho thấy thời gian đạt trên 9/10 điểm
Aldrete ở hai nhóm TCI và MCI như nhau, lần lượt là 18 ± 6 phút và
18 ± 8 phút. Nghiên cứu này đã được thực hiện trên các BN khỏe
mạnh có thời gian phẫu thuật trung bình chỉ là 78 phút, ngắn hơn so
với chúng tôi.
4.2.2. Tiêu thụ propofol
4.2.2.1. Tiêu thụ propofol khi khởi mê
Liều propofol khởi mê của nhóm 2 nhiều hơn so với nhóm 1, p <
0,001. Năm 1998, nghiên cứu của Servin cho thấy liều mất ý thức ở
nhóm kiểm soát nồng độ đích thấp hơn nhóm chỉnh tay, 1,69 ± 0,50
mg/kg so với 2,31 ± 0,75 mg/kg, p < 0,001 [Error: Reference source
Điều này chứng tỏ khi khởi mê, các bệnh nhân nhóm 2 có mức mê
sâu hơn. Theo chúng tôi nguyên nhân là bởi liều lượng thuốc mê
khác nhau. Trong các giờ tiếp theo, số lần điều chỉnh độ mê (bao gồm
cả tăng và giảm độ mê) của nhóm 2 luôn cao hơn so với nhóm 1,
đồng nghĩa với việc độ mê được duy trì ổn định hơn ở nhóm có kiểm
soát nồng độ đích. Theo kết quả nghiên cứu số bệnh nhân có dấu hiệu
tỉnh trong mổ gặp ở nhóm 2 nhiều hơn nhóm 1. Đây là một bằng
chứng nữa cho thấy duy trì mê của nhóm 1 ổn định hơn nhóm 2.
Nghiên cứu của Leslie và cộng sự [Error: Reference source not
found], Mayer và cộng sự [Error: Reference source not found], Li và
cộng sự [Error: Reference source not found], Sreevastava và cộng sự
[Error: Reference source not found], đều có kết luận sự can thiệp
trong quá trình gây mê ít hơn ở nhóm TCI, đồng thời huyết động
được duy trì ổn định hơn.
4.2.3.2. Chất lượng thức tỉnh sau gây mê
Trong cả hai nhóm nghiên cứu không có BN nào nhớ, biết trong
quá trình gây mê phẫu thuật. Mặc dù trong quá trình gây mê có một
số thời điểm điểm PRST ≥ 3, gặp ở cả hai nhóm, nhưng thang điểm
này không thực sự phản ánh trung thực độ mê của BN, vì nó bị ảnh
hưởng bởi một số yếu tố kết hợp khác.
4.2.3.3. Mức độ đau tại thời điểm sau rút NKQ
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ đau của các BN sau rút
NKQ ở mức độ trung bình. Những BN có điểm VAS ≥ 5 chúng tôi
bổ sung thuốc giảm đau nhóm NSAID.
4.3. ẢNH HƯỞNG ĐỔI HUYẾT ĐỘNG VÀ HÔ HẤP
4.3.1. Thay đổi huyết động
4.3.1.1. Giai đoạn khởi mê
Sau khởi mê nhịp tim và HATB của cả hai nhóm đều giảm, rồi
tăng lên sau đặt NKQ. Nhưng nhịp tim và HATB của nhóm 2 giảm
nhiều hơn ở các thời điểm T1 và T2 so với nhóm 1 (p < 0,001). Đồng
mạnh ở nhóm kiểm soát nồng độ đích từ 12 – 26%, trong khi ở nhóm
không kiểm soát nồng độ đích từ 16 - 28%. Trên các BN phẫu thuật
thần kinh, Esposito I. và cộng sự nhận thấy ở nhóm duy trì mê kiểm
soát nồng độ đích có huyết động ổn định hơn nhóm không kiểm soát
nồng độ đích [Error: Reference source not found].
4.3.1.3. Giai đoạn hồi tỉnh
Tại các thời điểm T6, T7, T8 nhịp tim và HATB ở hai nhóm
khác nhau không có ý nghĩa thống kê, p < 0,05. Khi gần về cuối cuộc
mổ, ngừng cho thêm thuốc, nồng độ thuốc sẽ giảm dần ở cả hai nhóm
do quá trình thải trừ nên BN cũng dần tỉnh lại, bởi vậy các kích thích
lại gây tăng nhịp tim và HATB. Vì thế, nhịp tim và HATB thời điểm
T7 tăng hơn so với thời điểm T6 do BN bắt đầu có cảm giác đau hoặc
bị kích thích do còn ống NKQ. Trong giai đoạn này bác sĩ gây mê cần
giải quyết hài hòa giữa khả năng tỉnh sớm của BN và ảnh hưởng bất lợi
của đau kết hợp kích thích do ống NKQ gây nên. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi rút NKQ ngay khi đạt đủ các điều kiện để giảm thiểu sự
ảnh hưởng huyết động của tác nhân này.
4.3.2. Ảnh hưởng hô hấp