BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------
NGUYỄN VIỆT THÀNH
SO SÁNH GIÁ TRỊ CỦA CÁC PHƯƠNG
PHÁP CHẨN ĐOÁN KHÔNG XÂM HẠI
TRONG BỆNH SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------
NGUYỄN VIỆT THÀNH
SO SÁNH GIÁ TRỊ CỦA CÁC PHƯƠNG
PHÁP CHẨN ĐOÁN KHÔNG XÂM HẠI
TRONG BỆNH SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH
Chuyên ngành: NGOẠI GAN MẬT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
FSE: fast-spin echo.
GE: gradient echo
HASTE: half-Fourier acquisition single-shot turbo spin-echo
MIP: maxium intensity projection postprocessing.
RARE: rapid acquisition with relaxation enhancement.
SSFSE: single-shot fast spin echo.
SS-RARE: single-shot rapid acquisition with relaxation enhancement
sequences hoặc single-shot rapid acquisition with refocus echoes sequences.
TSE: turbo spin-echo.
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH-VIỆT
Conventional body coil: bộ phận thu tín hiệu qui ước
Coronal oblique scan: cắt chếch theo mặt phẳng trán
Gradient echo sequences: chuỗi xung dội có khuynh độ
Heavily T2-weighted MR sequences: chuỗi xung thiên T2
Heavily T1-weighted MR sequences: chuỗi xung thiên T1
Heavily T1-weighted images: hình thiên T1
Heavily T2-weighted images: hình thiên T2
Multislices thin-slab MRCP: kỹ thuật CHTĐM nhiều lớp cắt mỏng
Radiofrequency pulse: sóng có tần số riô
Single-shot thick slab MRCP: kỹ thuật CHTĐM lát cắt dầy
Single-shot RARE: xung đơn phát RARE
Volume-averaging effects: hiệu ứng trung bình thể tích
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số Bảng
gan
So sánh kết quả chẩn đoán sỏi phân thùy gan của SA,
CLVT, CHTĐM với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán sỏi phân
thùy
So sánh kết quả chẩn đoán sỏi phân thùy trước của SA,
CLVT, CHTĐM với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán sỏi phân
thùy trước
So sánh kết quả chẩn đoán sỏi phân thùy sau của SA,
CLVT, CHTĐM với tiêu chuẩn vàng
49
51
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.28
3.29
3.30
3.31
3.32
3.33
3.34
3.35
3.36
3.37
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán sỏi phân
thùy sau
So sánh kết quả chẩn đoán sỏi phân thùy bên của SA,
CLVT, CHTĐM với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán sỏi phân
thùy bên
So sánh kết quả chẩn đoán sỏi phân thùy giữa của SA,
CLVT, CHTĐM với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán sỏi phân
thùy giữa
So sánh tỷ lệ vò trí sỏi trong gan của SA, CLVT, CHTĐM
và tiêu chuẩn vàng
So sánh tỷ lệ vò trí sỏi đường mật chính giữa SA, CLVT,
CHTĐM và tiêu chuẩn vàng
Sự đồng thuận của các bác só hình ảnh trong chẩn đoán sỏi
đường mật chính
So sánh kết quả của SA, CLVT, CHTĐM chẩn đoán sỏi
OMC với tiêu chuẩn vàng ở nhóm có tiền sử mổ và không
74
75
76
77
77
78
78
79
80
3.38
Giá trò của mô hình kết hợp hai lần SA, SA với CLVT, SA
với CHTĐM trong chẩn đoán sỏi đường mật chính
So sánh kết quả của CHTĐM trong chẩn đoán hẹp đường
mật trong gan với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của CHTĐM trong chẩn đoán hẹp đường mật trong
gan
So sánh kết quả của CHTĐM trong chẩn đoán hẹp ống mật
phân thùy với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của CHTĐM trong chẩn đoán hẹp ống mật phân
thùy
Tỷ lệ các loại hẹp đường mật theo phân loại của
Matsumoto
So sánh kết quả của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán
dãn đường mật trong gan với tiêu chuẩn vàng
Giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong chẩn đoán dãn đường
mật trong gan
83
84
85
86
87
87
88
92
115
117
117
125
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số Biểu đồ
Tên Biểu đồ
Trang
3.1
Biểu đồ phân bố theo tuổi của nhóm nghiên cứu
48
3.2
Biểu đồ phân bố giới tính của nhóm nghiên cứu
Hình thiên T1 qui ước - cắt ngang qua gan
Hình thiên T2 qui ước - cắt ngang qua gan
Hình ảnh cây đường mật với lát cắt dầy
Hình cây đường mật với các lớp cắt mỏng
So sánh giữa hình chụp cây đường mật lát cắt dầy và
cây đường mật được tạo hình bằng kỹ thuật MIP
Sơ đồ các loại hẹp đường mật theo Matsumoto
Phân chia gan theo Healey và Schroy
Phân chia gan theo Couinaud
Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng
Sơ đồ giải phẫu đường mật bình thường
Mẫu gan cho thấy hình cây đường mật bình thường
Hình khuyết tín hiệu của viên sỏi trên CHTĐM
Hình hẹp đường mật trong gan trên CHTĐM
Hình sỏi đường mật chính trên SA
2.15
Hình sỏi đường mật chính trên CLVT
42
4.16
Hình sỏi OMC trên SA
94
4.17
Sỏi bùn OMC trên CHTĐM
Hình khuyết nhiều cạnh của sỏi đường mật chính trên
103
104
107
107
108
108
109
110
111
112
28
30
30
31
34
35
40
40
41
4.29
4.30
4.31
4.32
4.33
124
126
132
133
134
137
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt, danh mục đối chiếu thuật ngữ anh-việt
Danh mục các bảng, các biểu đồ
Danh mục các hình
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 3
1.1 Các phương pháp chẩn đoán sỏi đường mật chính ......................................... 3
1.2 Kỹ thuật chụp CHTĐM ............................................................................... 16
1.3 Sỏi trong gan và hẹp đường mật trong gan ................................................. 25
1.4 Giải phẫu đường mật trong gan .................................................................... 29
1.5 Thành phần hóa học của sỏi mật ................................................................. 35
Chương 2: ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 36
2.1 Thiết kế nghiên cứu .................................................................................... 36
2.2 Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 36
2.3 Cỡ mẫu ........................................................................................................ 36
2.4 Các bước tiến hình ....................................................................................... 37
2.5 Kỹ thuật SA, CLVT, CHTĐM ..................................................................... 38
2.6 Kết quả của SA, CLVT, CHTĐM ............................................................... 39
2.7 Kiểm chứng kết quả ................................................................................... 42
KẾT LUẬN........................................................................................................138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
Sỏi mật là bệnh thường gặp của hệ gan mật. Tỷ lệ mắc sỏi đường mật ở
Mỹ là 10%, ở các nước Châu Phi là 5% [17]. Ở nước ta, hai cuộc điều tra cộng
đồng được thực hiện năm 2004 ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nam cho thấy
tỷ lệ sỏi mật nói chung là 6,11% ở thành thò và 3,32% ở nông thôn [17]. Thống
kê tại các bệnh viện cũng cho con số rất lớn về bệnh sỏi mật. Ở bệnh viện Việt
Đức, trong 23 năm (1976-1998) có 5773 trường hợp (TH) sỏi mật được điều trò,
trung bình 252 ca/năm, những năm gần đây từ 1995 đến 1998: 482- 489 ca/năm
[8]. Tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1980 đến 1990, có 709 TH sỏi mật được phẫu
thuật, trung bình 71 ca/năm [17]. Bệnh viện Bình Dân báo cáo 530 ca sỏi
mật/năm (1992-1994). Cần Thơ 5 năm (1995-1999) có 2128 ca, mỗi năm 426
ca... [16].
Tuy có sự thay đổi về tỷ lệ sỏi mật, sỏi đường mật chính vẫn còn là bệnh
thường gặp, khó điều trò, diễãn tiến nặng, nguy hiểm hơn sỏi túi mật nhiều mà
việc chẩn đoán không phải lúc nào cũng dễ dàng [3],[15]. Việc điều trò sỏi
đường mật chính ở nước ta còn nhiều khó khăn, phức tạp, khó hết sỏi và dễ tái
phát, nhất là SG vì bệnh thường kết hợp với hẹp đường mật trong gan
[6],[10],[20],[29],[119],[121],[141]. Ở Đông Nam Á cũng như tại Việt Nam, tỷ
lệ
sỏi
điều trò thích hợp [119]. Trong hơn hai thập kỷ qua, các phương pháp chẩn đoán
mới không ngừng ra đời và thay thế dần vai trò của X quang đường mật. Hiện
các kỹ thuật không xâm hại được nghiên cứu nhiều và ưa thích hơn. Tuy nhiên,
việc chọn lựa phương pháp chẩn đoán sỏi đường mật tối ưu vẫn còn bàn cãi. Ở
Việt Nam, siêu âm (SA) là phương tiện được sử dụng chủ yếu để chẩn đoán sỏi
mật và được nghiên cứu rất nhiều [14],[17],[19],[21],[23],[24].[31]. Tuy nhiên,
SA bỏ sót nhiều trường hợp có sỏi. Trong những năm gần đây, đã có báo cáo
nghiên cứu ứng dụng chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ đường
mật (CHTĐM) trong chẩn đoán sỏi đường mật [4],[16],[17],[26]. Phương tiện
chẩn đoán nào giữa CLVT và CHTĐM nên được dùng khi SA không phát hiện
sỏi thay vì sử dụng các phương pháp xâm hại sẵn có hiện nay (chụp mật tụy nội
soi ngược dòng, chụp mật xuyên gan qua da…)? Các phương pháp xâm hại chỉ
nên dùng với mục đích điều trò?. Tôi hy vọng sẽ giải đáp được câu hỏi trên qua
nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán không xâm hại như SA, CLVT,
CHTĐM và đưa ra được các chỉ đònh thực hiện hợp lý nhất trong hoàn cảnh thực
tế ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu của tôi nhằm những mục tiêu sau:
1. Xác đònh các giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong việc phát hiện sỏi,
chẩn đoán vò trí của sỏi đường mật trong và ngoài gan, trong việc chẩn
đoán hẹp đường mật trong gan do sỏi.
2. So sánh các giá trò của SA, CLVT, CHTĐM trong việc trong việc phát
hiện sỏi, chẩn đoán vò trí của sỏi đường mật trong và ngoài gan, chẩn đoán
hẹp đường mật trong gan do sỏi .
3. Đề xuất chỉ đònh của SA, CLVT, CHTĐM trong việc chẩn đoán và điều trò
sỏi đường mật trong và ngoài gan.
3
Theo Gandolfi [65], Cervantes [43], nhiều báo cáo gần đây (1994-2001)
cho thấy dù có sự cải tiến kỹ thuật, độ nhạy SA vẫn còn thấp (25%-68%). Điều
này chứng tỏ còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến độ nhạy của SA như kinh
nghiệm của người đọc, kích thước và vò trí viên sỏi, tình trạng dãn đường mật.
Hơn nữa SA cũng khó phân biệt giữa hơi đường mật và sỏi. SA bò hạn chế ở BN
mập, khi ruột trướng hơi, có sẹo mổ cũ hoặc ống dẫn lưu. Ở nước ta, độ nhạy
của SA trong phát hiện sỏi OMC cũng thay đổi qua các nghiên cứu
[12],[17],[19], [21],[31]. Các nghiên cứu của Vũ Quang Ngọ [31] tại bệnh viện
103, Đỗ Kim Sơn tại bệnh viện Việt Đức [8], Nguyễn Đình Hối [17] tại bệnh
viện Đại học Y Dược có độ nhạy lần lượt là 80%, 90% và 90,6%. Tuy nhiên,
báo cáo của Nguyễn Thiện Khánh [19], Bùi Văn Lệnh và Nguyễn Đình Hối[17]
có độ nhạy thấp hơn, lần lượt là 69,4%, 64,8%. Một nghiên cứu hồi cứu gần đây
trên 194 BN ở bệnh viện Việt Đức cho biết độ nhạy với sỏi đường mật chính
ngoài gan của SA là 95,9% nhờ có máy SA thế hệ mới và SA trong mổ [12].
Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán SG rất khác nhau
giữa các nghiên cứu từ 13% đến 90% [44],[74],[92],[100],[114]. Tương tự như
trong sỏi OMC, độ nhạy của SA thay đổi là do SA phụ thuộc nhiều yếu tố nêu
trên, trong đó hai yếu tố chính yếu là tiêu chuẩn chẩn đoán SG và kinh nghiệm
của bác só hình ảnh. Trên SA, sỏi thường có hình tăng âm so với nhu mô gan
nhưng sỏi có thể có đồng phản âm với nhu mô gan [44]. Sỏi có thể có bóng lưng
hoặc không. Nói chung, 95% SG có tăng âm và bóng lưng [100]. Như vậy nếu
chọn tiêu chuẩn chẩn đoán SG phải có bóng lưng thì sẽ bỏ sót một ít sỏi không
có bóng lưng (khoảng 5%). Ngược lại, nếu không dùng tiêu chuẩn có bóng lưng
thì có thể lầm sỏi với thương tổn canxi hóa nằm trong nhu mô gan. Ống mật dãn
bao quanh viên sỏi hoặc dãn ở trên dòng là đặc điểm giúp phân biệt giữa SG
với thương tổn canxi hóa trong nhu mô gan. Lim [100] đưa ra tiêu chuẩn chẩn
đoán SG gồm hình tăng âm nằm trong ống mật trong gan dãn hoặc tăng âm có
- Về mặt kỹ thuật, so với CLVT qui ước, CLVT xoắn ốc (cải tiến từ 1 đến 64
hàng đầu dò như hiện nay) có độ chính xác được cải thiện đáng kể nhờ độ phân
giải tốt hơn, lớp cắt mỏng hơn, thực hiện nhanh hơn [35],[42].
Neitlich [113] nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên trên 51 BN để đánh giá
hiệu quả của CLVT xoắn ốc không cản quang trong chẩn đoán sỏi OMC. Kết
quả cho thấy một qui trình thực hiện CLVT tỉ mỉ với các lát cắt mỏng (3-5 mm)
và chồng lấp lên nhau ở vùng giữa chỗ dãn và không dãn của OMC sẽ làm tăng
phát hiện sỏi OMC. Tác giả báo cáo độ chính xác 94%, độ đặc hiệu 97%, độ
nhạy 88%. Không sử dụng thuốc cản quang dạng uống cũng làm tăng phát hiện
sỏi kẹt trong bóng Vater vì sỏi không bò đậm độ cao của thuốc cản quang che
khuất [36]. Hiện nay, hình ảnh của đường mật được tái tạo với thế hệ máy
CLVT đa lớp có thể có ích trong việc phát hiện sỏi OMC. Tuy nhiên, sỏi nhỏ
đậm độ thấp (ít canxi) vẫn bò bỏ sót với kỹ thuật này [89]. Để tăng việc nhìn
thấy sỏi ít canxi, các tác giả [89],[139],[144],[151] đề nghò sử dụng thuốc cản
quang tiêm tónh mạch để chụp đường mật (độ nhạy cao hơn CVLT không cản
quang và tương đương với độ nhạy của CHTĐM, p
thích hơn [134].
SA và CLVT có độ chính xác tương đương nhau trong chẩn đoán tắc mật.
Tuy nhiên, SA ít tin cậy hơn khi chẩn đoán vò trí tắc (60%-92%) và nguyên
8
nhân tắc mật (39%-71%) so với CLVT. CLVT chẩn đoán được vò trí tắc trong
97% và nguyên nhân tắc trong 94% [70],[95],[97].
Khi bệnh nhân có cơn đau quặn gan điển hình gợi ý nhiều đến bệnh
đường mật cấp như sỏi OMC chẳng hạn, SA thường được chỉ đònh đầu tiên vì
SA nhạy hơn CLVT (86% so với 29%) [70].
Khi các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm sinh hóa -máu chưa chỉ rõ
tạng cần khảo sát, ta cần chẩn đoán phân biệt giữa nhiều nguyên nhân đau
bụng cấp thì CLVT được ưa thích hơn SA [36],[70].
Trong việc chẩn đoán vò trí sỏi đường mật:
CLVT nhạy hơn SA trong việc phát hiện sỏi OMC [43],[70].
Độ nhạy của CLVT có thể tương đương hoặc thấp hơn SA trong chẩn
đoán SG [53],[100],[114], đặc biệt trong trường hợp có nhiều sỏi cholesterol.
Trái lại Chan [44] nhận thấy CLVT nhạy hơn SA, nhất là trong các trường hợp
sỏi tái phát sau mổ, sỏi bùn, sỏi không đònh hình; hoặc khi có hơi đườngmật;
hoặc khi bệnh nhân có sẹo mổ cũ, có clip hoặc có ống dẫn lưu.
Giới hạn lớn của SA và CLVT là khó xác đònh chính xác vò trí SG, rất khó
phát hiện hẹp đường mật đi kèm với sỏi vì đoạn hẹp thường ngắn, không cung
cấp thông tin về giải phẫu như X quang đường mật [44],[53],[92],[141]. Tuy
nhiên, CLVTù có thể giúp phân biệt giữa sỏi và hơi đường mật tốt hơn SA.
Tóm lại, hiện nay SA, CLVT đã dần dần thay thế X quang đường mật
trong vai trò phát hiện sỏi đường mật chính. X quang đường mật được dùng khi
SA hoặc CLVT không phát hiện sỏi [45] hoặc khi cần chẩn chính xác vò trí sỏi
trong gan và phát hiện hẹp đường mật để chọn phương pháp điều trò thích hợp
10
huyết [11],[17],[63]. Ngoài ra, hẹp cơ vòng muộn cũng đã được báo cáo với tỷ
lệ 10%-33% [148]. Hơn nữa, nhiều tác giả [40],[41],[96],[103] thấy rằng có tới
40%-70% trường hợp không phát hiện sỏi OMC qua NSMTND nếu dựa vào các
tiêu chuẩn chỉ điểm cổ điển như vàng da, viêm tụy cấp, viêm đường mật, tăng
bilirubin, dãn OMC trên SA. Đây là con số không thể chấp nhận được vì làm
tăng chi phí điều trò, tai biến và tử vong. Do đó NSMTND không phải là phương
pháp chẩn đoán lý tưởng và không nên được chỉ đònh khi không cần thiết
[124],[132]. Ngoài ra, phương pháp này cũng phụ thuộc nhiều vào người thực
hiện với tỷ lệ thất bại từ 3% đến 10% [153].
1.1.3.2 Chụp đường mật xuyên gan qua da (CMQD)
CMQD được Đỗ Xuân Hợp đề xuất từ năm 1937, sau đó được sử dụng ở
nhiều bệnh viện trong nước với tỷ lệ thành công từ 86% đến 91% và biến chứng
từ 2% đến 8% [16]. Từ khi Tsuchia (1969) dùng kim thật nhỏ và nhất là kim
Chiba nhỏ mềm dẻo dễ uốn để chụp đường mật thì phương pháp này trở nên
đơn giản, ít nguy hiểm và có hiệu quả cao.
CMQD thường được chỉ đònh trong chẩn đoán SG. Đây là phương pháp tốt
nhất để xác đònh sự hiện diện, số lượng và vò trí sỏi trong gan, với hình ảnh
đường mật rất rõ do độ cản quang giữa thuốc được bơm trực tiếp vào đường mật
và của hòn sỏi rất khác nhau [14],[18],[82],[12]. Theo kết quả của bệnh viện
Chợ Rẫy, độ nhạy của CMQD trong chẩn đoán SG là 100% (21/21 BN) [18].
CMQD còn giúp tạo đường hầm để lấy sỏi, xác đònh vò trí và mức độ hẹp của
đường mật trong gan [1],[2],[121]. Trong nhiễm trùng đường mật nặng do sỏi
OMC, CMQD là một phương pháp giải áp đường mật khẩn cấp rất hiệu quả.
Do những ưu điểm như trên, CMQD thường được dùng làm tiêu chuẩn
vàng để so sánh với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh mới trong bệnh sỏi
Ban đầu, với chuỗi xung FSE và bác só chẩn đoán hình ảnh còn ít kinh
nghiệm, nên CHTĐM phát hiện sỏi OMC với độ nhạy là 57%-88% [38],[56],
[61],[64],[86], độ đặc hiệu là 73%-98% [38],[51],[61],[64]. Các yếu tố kỹ thuật
như dùng chuỗi xung FSE với kỹ thuật không nín thở, dùng bộ phận thu tín hiệu
qui ước, tạo hình cây đường mật bằng kỹ thuật MIP đã tạo nên hình ảnh đường
mật của CHTĐM có độ phân giải không cao nên bỏ sót nhiều sỏi nhỏ. Thậy
vậy, độ nhạy của CHTĐM trong việc phát hiện sỏi nhỏ (< 5mm) là 33%-60%
[40],[163] so với độ nhạy trong việc phát hiện sỏi trên 5mm là 100% [40].
Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng nhằm cải tiến độ phân giải của
CHTĐM và hạn chế tối đa các nhiễu ảnh do cử động, do đó tăng độ nhạy của
CHTĐM [56],[63]. Với việc áp dụng chuỗi xung HASTE, sử dụng kỹ thuật nín
thở và bộ phận thu tín hiệu bề mặt, CHTĐM có thể phát hiện sỏi nhỏ cỡ 2mm
trong đường mật dãn và sỏi 3 mm trong đường mật không dãn [63]. Nghiên cứu
của Fulcher [63] cho thấy độ nhạy của CHTĐM trong chẩn đoán sỏi nhỏ < 5mm
là 93,3%. Với việc cải tiến kỹ thuật, ta có thể loại bỏ các yếu tố như sỏi nhỏ và
đường mật không dãn ảnh hưởng đến độ nhạy của CHTĐM trong chẩn đoán sỏi
OMC [38],[61],[104],[127].
Như vậy, với cải tiến kỹ thuật và kinh nghiệm ngày càng nhiều của các
bác só chẩn đoán hình ảnh, những nghiên cứu mù-tiền cứu gần đây cho thấy
CHTĐM có độ nhạy là 90%-100% [34],[51],[56],[80],[82],[86],[105],[138],
[139],[154], độ đặc hiệu là 92%-100% [51],[63],[81],[82],[105],[124],[140],
[148],[154], độ chính xác là 97% [82],[154], giá trò tiên đoán dương là 93% 100%, giá trò tiên đoán âm là 98% -100% [136],[140],[148]. Do đó, nhiều báo
cáo đã xác nhận độ nhạy, đặc hiệu và chính xác của CHTĐM tương đương với
các giá trò tương ứng của NSMTND [34],[38],[41],[51],[53],[63],[78],[105],
13
[122],[126], [127],[138],[147],[154]. Thật vậy, Mark [107] xem xét 10 công
trình chẩn đoán sỏi OMC trên 834 BN thì thấy CHTĐM và NSMTND tương