ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù đã có vaccine phòng nhiễm virut viêm gan B (HBV) an
toàn và hiệu quả nhưng bệnh do nhiễm HBV vẫn đang là một vấn đề
thách thức của y tế thế giới và trong nước. Ước tính hàng năm trên thế
giới có khoảng 600.000 đến 1 triệu người chết do HBV. Việt Nam là một
trong những nước có tỷ lệ nhiễm HBV cao nhất thế giới. Theo thống kê có
10-20% trong quần thể bình thường nhiễm HBV và có từ 20 đến 40%
người nhiễm HIV có HBV (+). Ước tính đến năm 2025 nước ta có khoảng
8 triệu người nhiễm HBV, 58000 bệnh nhân xơ gan (XG), 25000 bệnh
nhân ung thư gan (UTG) và có hơn 40000 người chết do nhiễm HBV.
Phần lớn các bệnh nhân UTG đều được phát hiện muộn, khi
khối u đã hình thành, không còn khả năng cứu chữa. Do đó, việc phát
hiện sớm UTG đang là một đòi hỏi bức thiết hiện nay. Thực vậy, hiện
nay chẩn đoán UTG chủ yếu dựa vào: khám xét lâm sàng, siêu âm,
chụp cắt lớp vi tính và xét nghiệm AFP. Nhưng kết quả của nhiều
nghiên cứu cho thấy ngay cả khi lấy giá trị ngưỡng của AFP là > 600
ng/ml thì vẫn có hơn 40% bệnh nhân UTG không được chẩn đoán.
Vì vậy, các dấu ấn phân tử là một trong những mục tiêu tìm
hiểu được các nhà khoa học quan tâm hiện nay. Trong đó, đột biến
các gen của HBV như HBx, Precore, Pre S , hay các gen của người
bệnh đã và đang là những dấu ấn được nghiên cứu nhiều nhất.
UTG là một bệnh được sinh ra do biến đổi gen qua nhiều giai
đoạn. Trong số các gen được nghiên cứu thì gen TP53 là được quan
tâm nhất. Gen này mã hóa cho protein P53 có chức năng điều hoà
kiểm soát sự phát triển tế bào và ức chế sự hình thành u bằng con
đường thúc đẩy tế bào chết theo chương trình và khả năng làm dừng
1
sự phân chia của tế bào. Từ trước tới nay người ta chủ yếu quan tâm
gen TP53 trong trường hợp UTG nhiễm Aflatoxin. Tuy nhiên, gần
đây có nhiều bằng chứng cho thấy đột biến gen TP53 có liên quan
chặt chẽ với nhiễm HBV trong sinh bệnh học UTG. Kết quả nghiên
phương pháp PCR - RFLP và khẳng định lại kết quả bằng giải trình
tự gen.
2. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đột biến gen TP53 tương
đối thấp ở các nhóm, nhưng có thể liên quan đến tiến triển ung thư
gan trên bệnh nhân nhiễm HBV.
3. Nồng độ protein P53 trong huyết tương khác nhau ở các thể
bệnh do nhiễm HBV, và thấp nhất ở nhóm UTG và VGC.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cấu trúc của vi rut viêm gan B
Trên sợi DNA có bốn đoạn gen tương ứng với bốn khung đọc
mở (KĐM - Open reading frame). Đây là các vùng được mã hóa để
tổng hợp ra các protein của vi rut.
- KĐM S: KĐM S gồm vùng S và pre-S. Vùng pre-s được chia
hai phần là pre-S1 và pre-S2. Đây là đoạn gen mã hóa tổng hợp các
protein bề mặt (HBsAg).
- KĐM C mã hóa tổng hợp protein lõi (HBcAg) và HBeAg.
- KĐM P mã hóa tổng hợp enzym DNA polymerase. Sản phẩm
của gen này là một enzym vừa có hoạt tính DNA polymerase phụ
thuộc RNA lại xem như một enzym sao chép ngược (reverse
transcriptase) mã hóa tổng hợp chuỗi DNA mới từ sợi RNA tiến bộ
gen (pregenome).
- KĐM X: KĐM X mã hóa tổng hợp protein HBx. Protein
HBx có vai trò chuyển hóa (transactivation) trong quá trình sao chép
của vi rut. Vì vậy, protein HBx có vai trò quan trọng trong cơ chế
sinh ung thư ở các tế bào gan bị nhiễm.
HBx có thể truyền đạt thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp cho
nhiều gen đích của tế bào, làm trung gian hay đối lập cho nhiều chức
3
năng khác nhau của tế bào như điều hòa chu trình tế bào, mã hóa
kết với TP53 dẫn đến làm mất chức năng của TP53, gây rối loạn chết
có chương trình và mất kiểm soát tăng sinh tế bào, cuối cùng là hình
thành các khối u.
4
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán
viêm gan B cấp tính, viêm gan B mạn hoạt động, xơ gan và UTG có
HBsAg(+) được đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trung ương
Quân đội 108 và 16 bệnh nhân viêm gan B cấp được điều trị tại Bệnh
viện Bạch Mai, trong thời gian từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 4
năm 2010, và nhóm người mang virut viêm gan B mạn tính không
triệu chứng.
- Gồm 263 bệnh nhân chia thành 5 nhóm (5 thể bệnh) và 1
nhóm chứng
+ Nhóm 1 (NMVR): 53 người mang vi rut viêm gan B mạn
tính không triệu chứng.
+ Nhóm 2 (VGC): 31 bệnh nhân viêm gan B cấp tính
+ Nhóm 3 (VGM): 53 bệnh nhân viêm gan B mạn tính
+ Nhóm 4 (XG): 32 bệnh nhân xơ gan có HBsAg (+)
+ Nhóm 5 (UTG): 94 bệnh nhân UTG có HBsAg (+)
+ Nhóm chứng: 100 người khỏe mạnh
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn: Theo Dienstag J.L, (Harrison's 2007)
2.1.1.1 Viêm gan B cấp tính:
+ Lâm sàng khởi phát từ từ và diễn biến thành 2 giai đoạn rõ rệt là giai
đoạn tiền hoàng đản và giai đoạn hoàng đản.
+ Tiền sử: - Chưa có vàng da, vàng mắt trước khi mắc bệnh
+ Xét nghiệm: - HBsAg (+), Anti HBc IgM (+) và Anti HBc IgG (-)
+ Tế bào bệnh học: xác định có UTG và mức độ biệt hóa
kèm theo.
2.1.1.5. Người mang HBV mạn tính không triệu chứng
+ Lâm sàng: Hoàn toàn khoẻ mạnh, không có bất kỳ các triệu
chứng lâm sàng nào, tình cờ phát hiện có HBsAg (+), tiền sử chưa bị
viêm gan
+ Các xét nghiệm về chức năng gan trong giới hạn bình thường.
2.1.1.6. Nhóm chứng: Hoàn toàn khỏe mạnh không có triệu chứng viêm
gan, không mắc bệnh mạn tính. Xét nghiệm HBsAg(-), Anti HCV(-),
Anti HIV (-), tiền sử chưa bị viêm gan.
6
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ các bệnh nhân sau:
+ Trẻ em và phụ nữ có thai
+ Bệnh nhân có anti HIV (+), anti HCV (+).
+ Bênh nhân đã được điều trị bằng các thuốc kháng vi rut và
các thuốc điều biến miễn dịch, người nghiện rượu và ma túy.
+ Bệnh kết hợp: Viêm gan do thuốc, do hóa chất, viêm gan tự
miễn, Đái tháo đường, viêm đường mật…
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có so sánh.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Khám lâm sàng và xét nghiệm chọn các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn
của các nhóm nghiên cứu
2.2.2.Phương pháp nghiên cứu lâm sàng
- Mỗi bệnh nhân được đăng ký theo dõi vào phiếu theo dõi đã được
xây dựng có đầy đủ các chỉ tiêu về dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu cận lâm sàng
- Tất cả bệnh nhân đều được lấy máu ngay trong tuần đầu nhập
viện. Các số liệu về huyết học, sinh hóa, miễn dịch được tiến hành
Xét nghiệm huyết học: Tại khoa huyết học
Xét nghiệm sinh hóa: Tại khoa sinh hóa
Siêu âm gan, CT Scanner gan, MRI: Tại khoa chẩn
đoán hình ảnh
Mô bệnh học: Tại khoa giải phẫu bệnh
2.2.4. Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1. Đặc điểm chung của 5 nhóm nghiên cứu
2.2.4.2. Xác định tỷ lệ đột biến gen TP53 ở 5 nhóm nghiên cứu
2.2.4.3. Định lượng nồng độ P53 trên các nhóm nghiên cứu
2.2.4.4. Đánh giá mối liên quan của đột biến gen TP53, nồng
độ protein P53 với các thể bệnh
2.3. Xử lý thống kê- Các số liệu được phân tích bằng thuật toán non -
parametric Mann - Whitney U-test, khi bình phương (χ
2
test), so sánh
không đối xứng T-test, so sánh 2 tỷ lệ, 2 số trung bình, tỷ suất chênh (OR),
mối tương quan (RR) bằng các phần mềm Statview version 4.5, chương
trình STATA.
8
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung các nhóm nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới
Bảng 3.1: Đặc điểm về giới và tuổi của các nhóm bệnh nhân
nghiên cứu
Chỉ số
Nhóm
Nam
(n,%)
Nữ
n=94
Mệt mỏi (n,%) 31 (100) 30 (56,6) 32 (100) 82 (87,2)
Đau vùng gan (n,%) 8 (26,6) 2 (3,7) 5 (15,6) 76 (80,8)
Sốt (n,%) 3 (9,67) 0 (0) 1 (3,1) 5 (5,3)
Sút cân (n,%) 1 (3,22) 1 (1,9) 6 (18,75) 65 (69,14)
RLTH (n,%) 5 (16,1) 5 (9,4) 10 (31,25) 25 (26,59)
Gan to (n,%) 25 (80,6) 35 (66,03) 2 (6,25) 32 (34,04)
Vàng da (n,%) 20 (64,5) 6 (11,32) 28 (87,5) 23 (14,8)
Sao mạch (n,%) 0 (0) 9 (17) 20 (62,5) 29 (30,8)
Không triệu chứng
(n,%)
0 (0) 7 (13,2) 0 (0) 3 (3,19)
Nhận xét: Các triệu chứng lâm sàng thường gặp của viêm gan
cấp tính là mệt mỏi, gan to, vàng da, đau tức vùng gan, rối loạn tiêu
hóa; trong khi đó các triệu chứng thường gặp của viêm gan mạn là
gan to, mệt mỏi, sao mạch; của xơ gan là mệt mỏi, sao mạch, vàng
da, rối loạn tiêu hóa; của UTG là mệt mỏi, đau vùng gan, sút cân, gan
to và sao mạch.
Có 7 bệnh nhân VGM (13,2%) và 3 bệnh nhân UTG
(3,19%) không có triệu chứng lâm sàng, tình cờ phát hiện khi
kiểm tra sức khỏe.
10
3.1.3. Đặc điểm một số xét nghiệm cận lâm sàng của các nhóm
nghiên cứu
Bảng 3.3: So sánh một số chỉ số huyết học và miễn dịch thông
thường giữa các nhóm
Chỉ số
Nhóm
HBeAg(+)
UTG
(n=94) (5)
54(57,4) 40(42,6)
188,1 ± 97
86,7 ± 15,5
p > 0,05 4-1,2,3,5<0,01 4-1,2,3,5<0,05
Nhận xét: Không có khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu về
tình trạng mang kháng nguyên e. Tiểu cầu ở nhóm XG và VGC
thấp hơn có ý nghĩa so với các nhóm NMVR, VGM và UTG. Tuy
nhiên, chỉ có nhóm xơ gan là tiểu cầu thấp dưới giá trị bình
thường (<150 G/L).
11
Bảng 3.4: So sánh một số chỉ số sinh hóa thông thường giữa các nhóm
Chỉ số
Nhóm
AST (U/L)
SDX
±
ALT (U/L)
SDX
±
Bilirubin TP
(µMol/L)
SDX
±
NMVR (n=53) (1) 27,7±5,8 29 ± 5,8 9,8 ± 0,9
VGC (n=31) (2) 829,4± 344,7 1046±488,6 82,2±105,2
VGM (n=53) (3) 355± 472 412,5±530,8 60,8±102,4
XG (n=32) (4) 193,4±254,6 133,13±178 144,3±190,8
UTG (n=94) (5) 116±140,7 86,8±78 35,4 ±15,1
VGC (n=31) (2) 72,5 ± 5,9
38,3 ± 2,1
15,6 ± 22,5
VGM (n=53) (3) 74,7 ± 5,2
38,2 ± 3,5
10,5 ± 13,3
XG (n=32) (4) 66,2 ± 5,4
33,1 ± 2,2
16,6 ± 22,3
UTG (n=94) (5) 75,7 ± 5,5
36,7 ± 4,4
131,2 ± 132,7
p 4-1,2,3,5<0,01 4-1,2,3,5<0,05 5-2,3,4 < 0,05
Nhận xét: protein và albumin thấp nhất ở nhóm xơ gan, thấp
hơn có ý nghĩa so với các nhóm khác. AFP cao nhất ở nhóm UTG, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác (p < 0,05).
12
Bảng 3.6: Nồng độ HBV DNA ở 5 nhóm nghiên cứu
Chỉ số HBV DNA (copies/ml)
p
SDX
±
NMVR (1) 107 x 10
7
380 x 10
7
p1-5<0,05
VGC (2) 72 x 10
7
99 x 10
66, 92 và 158 bp; băng 4 là mẫu không cắt enzyme, có kích thước
158 bp; M là thang chuẩn.
3.2.2. Kết quả xác định đột biến gen TP53 tại vị trí 249
ser
bằng
13
giải trình tự gen
Giải trình tự gen TP53 được tiến hành để khẳng định kết quả
PCR RFLP cho 2 mẫu có đột biến và 2 mẫu bình thường qua kết quả
PCR RFLP. Đồng thời, trong số 328 mẫu nghiên cứu có 5 mẫu
(1,5%) không xác định được bằng phương pháp PCR RFLP nên phải
tiến hành giải trình tự gen. Để đảm bảo kết quả giải trình tự là chính
xác chúng tôi đã tiến hành giải trình tự gen TP53 bằng cả mồi xuôi và
mồi ngược, dùng phần mềm CEQ 8800 và BioEdit để xác định chính
xác chuỗi trình tự giải được. Kết quả một số ví dụ minh họa được
trình bày ở trong các hình và các bảng sau:
Hình 3.2. Kết quả phân tích gen phát hiện đột biến gen TP53.
Nhận xét: So với trình tự không có đột biến thì mẫu TP53 3G
H04_10101411DF có đột biến tại vị trí nt 14073 (Guanine được thay
thế bằng Thymine và Guanine) (hình 3.2).
Từ trình tự nucleotide chúng tôi tiến hành phân tích trên
phần mềm BioEdit để so sánh trình tự axit amin giữa mẫu bình
thường và mẫu đột biến gen. Kết quả cho thấy tại vị trí 249 của
gen TP53 trên mẫu bình thường có axit amin là Arginine, trong
khi đó tại mẫu đột biến được thay thế bằng axit amin Serine. Do
đó, người ta ký hiệu điểm đột biến này là 249 Ser (Hình 3.3).
14
Hình 3.3. Trình tự acide amin tại vị trí 249 thay đổi từ Arginine
thành Serine, vị trí được đánh dấu.
3.2.3. So sánh tỷ lệ đột biến gen TP53 trên các nhóm nghiên cứu
12
(12,7)
18
(5,48)
p
(5-1,2,3,4)
< 0,05
Nhận xét: Tổng số có 18/328 (5,48%) mẫu có đột biến gen
TP53. Tỷ lệ đột biến gen ở nhóm tương ứng là chứng (3%), NMVR
(0%), VGM (1,8%), XG (6,7%) và UTG (12,7%). Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa nhóm UTG với các nhóm còn lại.
3.2.4. Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với UTG
15
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với UTG
Nhóm NC
Gen TP53
Không
ung thư
n = 234
UTG
n = 94
OR (95%,IC) P
TP53, n (%) 6 (2,56) 12 (12,7) 5,5 (1,8-18,5) <0.001
Nhận xét: Nguy cơ UTG ở bệnh nhân mang đột biến gen TP53
cao hơn bệnh nhân không mang gen đột biến là 5,5 lần.
3.2.5. Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với các chỉ số huyết học
Bảng 3.9: So sánh số lượng tiểu cầu, tỷ lệ prothrombin trên bệnh
nhân mang gen TP53 đột biến và bình thường ở nhóm UTG
Gen TP53
Chỉ số HH
SDX
±
51,8±26,3 92,5±82,3 >0,05
Bilirubin TP (µmol/L)
SDX
±
19,7±13,8 22,7±14,1 >0,05
Protein (G/L)
SDX
±
76,2±6,1 75,7±5,5 >0,05
Albumin (%)
SDX
±
37,9±4,8 36,5±4,3 >0,05
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số
sinh hóa giữa nhóm TP53 đột biến và nhóm TP53 bình thường.
3.2.7. Mối liên quan giữa đột biến TP53 với AFP và HBV DNA
16
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với AFP và
HBV DNA
Gen TP53
Chỉ số SH
TP53 đột biến
(n=12)
TP53 bình thường
(n=82)
p
AFP (ng/ml)
p
ĐB (n,%) 4 (20) 2 (14,3) 6 (10)
>0,05
BT (n,%) 16 (80) 12 (85,7) 54 (90)
Nhận xét: Không có mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với
mức độ biệt hóa tế bào gan
3.2.9. Mối liên quan giữa đột biến TP53 với đột biến gen HBx tại
2 vị trí A1762T và G1764A
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa đột biến TP53 với đột biến gen
HBx tại 2 vị trí A1762T và G1764A
Gen HBx A1762T G1764A
ĐB (n=78) BT (n=16) ĐB (n=77) BT (n=17)
ĐB (n,%) 12 (100) 0 (0) 12 (100) 0 (0)
BT (n,%) 66 (84,6) 16 (25,4) 65 (84,4) 17 (25,6)
p > 0,05 > 0,05
Nhận xét: 100% bệnh nhân có đột biến gen TP53 đều có đột biến
gen HBx.
17
Ngoài ra, không có mối liên quan nào được ghi nhận giữa đột
biến gen TP53 với các chỉ số khác như tuổi, giới
3.3. Protein P53 trong huyết tương
3.3.1. So sánh tỷ lệ bệnh nhân định lượng được nồng độ protein
P53 trong huyết tương
Bảng 3.14: So sánh tỷ lệ bệnh nhân định lượng được nồng độ
protein P53 trong huyết tương
Chỉ số
Nhóm
Protein
P53(+)
n (%)
VGC (n=30) (3) 9,56 ± 4,03 3-1, 2, 5 < 0,01
VGM (n=50) (4) 13,5 ± 14,9 4-5<0,05
XG (n=30) (5) 44,7 ± 55,7 5-6<0,001
UTG (n=94) (6) 11,9 ± 11,1
1-6<0,0001
2-6<0,0001
Nhận xét: Tương tự như tỷ lệ % bệnh nhân định lượng được
protein P53 thì nồng độ protein P53 cũng thấp nhất ở nhóm UTG và
VGC, cao nhất ở nhóm người khỏe mạnh. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
19
55
45
3.3.3. So sánh nồng độ protein P53 ở nhóm có gen TP53 đột biến
và gen TP53 bình thường
Bảng 3.16: So sánh nồng độ protein P53 ở nhóm có gen TP53 đột
biến và gen TP53 bình thường
Gen TP53
Protein
Đột biến
(n = 18)
Bình thường
(n = 310)
p
Protein P53 (U/ml)
SDX
±
6,7 ± 2,6 28,5 ± 37,7 <0,05
Nhận xét: Ở nhóm bệnh nhân có gen TP53 đột biến tại điểm 249
ser
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tổng số có 18/328 mẫu (5,48%)
có đột biến gen TP53. Tỉ lệ chung và ở các nhóm chứng, NMVR,
VGM, XG (6,7% ) tương đối thấp, nhưng ở nhóm UTG (12,7%) cao
hơn hẳn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm UTG với các
nhóm còn lại (p < 0,05)
So sánh với tác giả Lê Thị Thúy và cộng sự, thấy tỉ lệ đột biến
gen TP53 trên UTG là 11,7%, khá phù hợp với kết quả của chúng tôi.
Còn so sánh với nghiên cứu ở Gambia, nơi mà tỉ lệ nhiễm và
mang HBV cao (11 - 16%) tương tự ở Việt Nam, Kirk và cộng sự
thấy tỉ lệ đột biến gen TP53 ở XG là 15%, UTG 45%; kết quả tỉ lệ
đột biến gen TP53 ở Gambia cao hơn hẳn của chúng tôi, có thể liên
quan đến yếu tố địa lý môi trường, chủng tộc.
4.2.2. Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với ung thư gan.
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ đột biến gen TP53 ở nhóm không
UT tương đối thấp (2,56%) còn tỉ lệ đột biến gen TP53 ỏ nhóm UTG
cao hơn hẳn (12,7%)
Qua các thuật toán thống kê so sánh, chúng tôi thấy nguy cơ
UTG ở bệnh nhân mang gen TP53 đột biến cao hơn bệnh nhân mang
gen TP53 không đột biến là 5,5 lần (p < 0,001)
4.2.3. Mối liên quan giữa đột biến gen TP53 với các chỉ số sinh
hóa, huyết học
Do tỉ lệ bệnh nhân mang gen TP53 đột biến ở các nhóm
NMVR, VGM, XG thấp, nên chúng tôi chỉ tiến hành phân tích mối
liên quan của đột biến gen TP53 với các chỉ số sinh hóa, huyết học,
miễn dịch trên nhóm UTG.
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
các chỉ số: sinh hóa, huyết học, HBV - DNA, AFP giữa các bệnh
nhân có đột biến gen TP53 và không đột biến gen TP53 ở nhóm
UTG. Có thể các bệnh nhân này đều là UTG nên các biến động về
các chỉ số là tương đương nhau.
4.3.2. So sánh nồng độ protein P53 trong huyết tương ở các nhóm
nghiên cứu.
Tương tự như tỉ lệ % bệnh nhân định lượng được protein P53
thì nồng độ protein p53 cũng thấp nhất ở nhóm UTG và VGC. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001).
Như trên đã đề cập, do P53 là một protein có tác dụng ức chế
khối u phát triển nên thông thường trên các đối tượng khỏe mạnh
nồng độ protein này sẽ cao hơn so với nhóm bệnh ung thư. Ngược
lại, nồng độ P53 đột biến lại cao hơn ở bệnh nhân ung thư so với
người khỏe mạnh. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ kit của
hãng Abcam để định lượng nồng độ P53 không đột biến. Kết quả cho
thấy trên nhóm chứng và nhóm NMVR nồng độ P53 cao hơn có ý
nghĩa so với VGC và VGM. Đặc biệt là trong nghiên cứu này nồng
độ P53 ở bệnh nhân VGM lại cao hơn VGC. Phải chăng có sự tác
động qua lại giữa các gen của HBV và gen người trong quá trình
viêm gan mạn tính
Như trên đã trình bày, protein P53 có thể liên kết với protein
HBx để tạo thành phức hợp protein-protein. Kết quả dẫn đến làm bất
hoạt hóa chức năng hoạt hóa dịch mã của protein này. Phân tích trình
tự gen P53 thể hoang dại cho thấy nó có thể liên kết với chuỗi trình
tự TGCCTTGCCT của bất kỳ DNA nào. Khi liên kết này được thực
hiện thì nó sẽ loại bỏ chức năng hoạt hóa của gen kiểm soát phát triển
đặc hiệu. Chính HBV có một đoạn trình tự gen của HBx có thể liên
kết với P53 qua đoạn gen này
4.3.3. So sánh nồng độ protein P53 ở nhóm có gen TP53 đột biến
và gen TP53 bình thường.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm bệnh nhân có gen P53
đột biến tại điểm 249
ser
nồng độ protein P53 thấp hơn có ý nghĩa
cơ ung thư gan cao hơn so với bệnh nhân không mang gen đột
biến (OR, KTC 95%) là 5,5 lần (1,8-18,5), (p<0,001).
2. Nồng độ protein P53 trong huyết tương khác nhau ở các thể
bệnh do nhiễm HBV, thấp nhất ở nhóm UTG và VGC.
- Tỷ lệ bệnh nhân định lượng được protein P53 trong huyết
tương giảm dần từ nhóm chứng (72%), XG (76,6%) đến NMVR
(56%), VGM (45%), VGC (40%) và cuối cùng là nhóm UTG
(11,7%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Nồng độ protein P53 thấp nhất ở nhóm UTG (11,9 ± 11,1
U/ml) và VGC (9,56 ± 4,03 U/ml), tiếp đến là các nhóm VGM (13,5
± 14,9 U/ml), NMVR (37,1 ± 37,8 U/ml), chứng (41,6 ± 47,9 U/ml)
và cao nhất ở nhóm XG (44,7 ± 55,7 U/ml). Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05).
- Ở nhóm bệnh nhân có gen TP53 đột biến tại điểm 249
ser
,
nồng độ protein P53 thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân có
gen TP53 bình thường (6,7 ± 2,6 so với 28,5 ± 37,7 U/ml, p<0,05).
KIẾN NGHỊ
Nên có nghiên cứu dọc để đánh giá giá trị tiên lượng ung thư
gan của đột biến gen TP53 tại điểm 249
ser
ở các bệnh nhân nhiễm
HBV tại Việt Nam.
24