Chỗ mạnh, chỗ yếu trong tâm lý con người Việt Nam - Pdf 18

Chỗ mạnh, chỗ yếu trong tâm lý con người Việt
Nam khi đi vào thời đại văn minh trí tuệ
Cùng với thế kỷ 20 sắp đi qua, nền kinh tế vật chất, dựa chủ yếu trên cơ sở sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản
xuất, chế biến, phân phối, sử dụng sản phẩm vật chất làm nền tảng, đang chuyển
dần sang nền kinh tế tri thức, trong đó việc sản xuất, truyền tải, sử dụng tri thức chi
phối toàn bộ các hoạt động kinh tế. Từ nay các giá trị kinh tế lớn nhất đuợc làm ra
không phải trong khu vực trực tiếp sản xuất của cải vật chất mà trong khu vực khoa
học, kỹ thụật, dịch vụ. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất sẵn có
ngày càng giảm so với tiềm năng trí tuệ, tinh thần, văn hoá. Nếu ba mươi năm
trước, sự tiêu hao vật chất và năng lượng với nhịp độ khó kiềm chế nổi của nền văn
minh công nghiệp truyền thống đã khiến các nhà kinh tế thuộc câu lạc bộ Roma lên
tiếng kêu gọi các chính phủ ngừng tăng trưởng kinh tế ("tăng trưởng zê-rô") để
ngăn ngừa thảm hoạ diệt vong, thì cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đảo lộn
tình hình và đưa nhân loại tiến lên một nền văn minh mới, cao hơn: nền văn minh
trí tuệ, trong đó tăng trưởng không ô nhiễm môi trường sống. Trong xu thế toàn
cầu hoá đi đôi với cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế tri thức tạo nhiều cơ hội thuận
lợi cho những nuớc đi sau có thể dựa vào tiềm năng chất xám để nhanh chóng đuổi
kịp các nước khác, song cũng hàm chứa những thách thức to lớn, những khó khăn,
rủi ro và cạm bẫy không phải luôn luôn dễ nhìn và dễ tránh. Trong lịch sử chưa
bao giờ các đặc điểm tâm lý, trí tuệ có ý nghĩa quyết định như bây giờ đối với nền
thịnh vượng, thậm chí sự tồn vong của một quốc gia. Trong các điều kiện ấy, sẽ
không có gì lạ nếu tới đây bên cạnh một số nước tăng trưởng mau chóng thần kỳ
có thể có những nuớc suy sụp thảm hại và tụt hậu vô vọng.
Vì vậy, phân tích để hiểu rõ những đặc điểm văn hoá, tâm lý của dân tộc, những
truyền thống tốt, những yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển, cùng với những
nhược điểm, những yếu tố chưa tốt, thậm chí tiêu cực, đang hoặc sẽ níu kéo chúng
ta lại sau, là việc làm hết sức cần thiết để giúp xây dựng một chiến lược phát triển
đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh và điều kiện thế giới ngày nay. Cần nhìn lại kỹ bản
thân ta không chỉ để tự tin hơn, mà còn để bớt chủ quan trước tình hình mới. Tự
soi gương bao giờ cũng có ích, nhưng không phải chỉ để thấy mình đẹp mà còn để

nhiều người thường nghĩ đến tài đối đáp, ứng xử nhanh trí của các nhân vật như
Mạc đỉnh Chi, Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương, hay trong thời
hiện đại, thành công của một số vị khoa bảng học giỏi, đỗ cao ở nước ngoài. Thật
ra, học giỏi, đỗ cao thì thời nào cũng tốt, song việc học thời nay khác với thời xưa,
và xã hội văn minh bây giờ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ học giỏi, đỗ cao, nhất là sự học
giỏi hiểu theo quan niệm cũ kỹ của ta (Bill Gates bỏ học, không có bằng cấp cao,
nhưng lại là tiêu biểu cho thứ tài năng đắc dụng nhất ở thời đại này). Chính cái
quan niệm lạc hậu về học hành, thi cử, đỗ đạt ấy khiến cho xã hội ta nhiều khi chú
trọng đào tạo học trò giỏi theo kiểu học gạo nhiều hơn là khuyến khích tài năng
đích thực.
Không ai chối cãi người Việt Nam hiếu học, chuộng tri thức (tuy gần đây cái động
cơ và phương pháp tìm đến và sử dụng tri thức đã bị méo mó khá nhiều). Thời đại
này tri thức lại là của báu, vậy tưởng chừng dân ta đã có ưu thế cơ bản để đi vào
thế kỷ 21. Thế nhưng vẫn chưa phải. Bởi lẽ cái động lực hàng đầu để thúc đẩy xã
hội tri thức phát triển là đầu óc tưởng tượng sáng tạo, mà - tôi xin lỗi nếu phải nói
ra một điều có thể xúc phạm tự ái dân tộc của nhiều người - chúng ta còn nghèo trí
tưởng tượng. Thật vậy, những ai còn nghi ngờ điều này xin hãy bình tĩnh đảo mắt
nhìn qua một lượt các kiểu nhà biệt thự mới mọc lên ở thành phố trong thời mở
cửa, và dạo qua các cửa hiệu, các chợ đầy ắp hàng Trung Quốc, hàng Thái Lan
đang nghiễm nhiên tràn ngập thị trường. Từ quần áo, đồ chơi trẻ em, đồ dùng văn
phòng, cho đến xe đạp, quạt máy, v.v , nhiều hàng nội của ta không cạnh tranh nổi
vì thua kém mẫu mã, hình dáng, chủng loại, giá cả, và nhiều khi cả chất lượng,
công dụng. Đâu phải kỹ thuật ta không đủ trình độ làm ra các sản phẩm như họ.
Chẳng qua chúng ta từ lâu quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới.
Nhìn lại từ cái bàn, cái ghế, cái giường, cho đến cây bút, cái cặp sách thời bao cấp
ở miền Bắc mới thấy rõ sao mà ta tự bằng lòng dễ dàng đến vậy, có thể nói 50 năm
không hề suy nghĩ thay đổi. Cả đến cách dạy, cách học ở nhà trường. Thời tôi đi
học, tôi đã học toán như thế nào thì bây giờ các cháu học sinh phổ thông cũng học
gần y như thế, chỉ có khác là lớp chuyên rất nhiều và học thêm, luyện thi vô tội vạ.
Đương nhiên ở đây có vấn đề hoàn cảnh và cơ chế, bởi vì cũng những con người

không có sức cạnh tranh. Cho nên, thiếu sức tưởng tượng là một khiếm khuyết lớn
mà tới đây ta phải cố gắng khắc phục bằng mọi cách, truớc hết từ cơ chế quản lý xã
hội và sự chấn hưng nền giáo dục từ nhiều năm chỉ thiên về nhồi nhét trí nhớ, bắt
chước máy móc, và kiềm chế cá tính.
Đi đôi với trí tưởng tượng chưa đủ phong phú, một loạt đức tính cần thiết khác để
cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế toàn cầu hoá cũng chưa rõ rệt là mặt mạnh
của người Việt Nam so với nhiều dân tộc khác: đầu óc kinh doanh hiện đại, cung
cách làm ăn lớn, tính toán nhìn xa, trông rộng, táo bạo, nhạy cảm và năng động với
cái mới, thích ứng mau lẹ để xoay chuyển tình thế khi gặp khó khăn, bền bỉ và
quyết tâm theo đuổi đến cùng một sự nghiệp được yêu thích, miệt mài học tập,
ngẫm nghĩ và phân tích sâu sắc, nghiên cứu nghiêm túc để tìm hiểu cặn kẽ đạo lý
của mọi vấn đề. Có lẽ do quá lâu quen sống trong cảnh nghèo thiếu nên người dân
ta nhiều khi dễ nhẫn nhục an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, những
suy tính cá nhân hời hợt, thiển cận theo lối cò con. Vì không cực đoan nên ít có đổ
vỡ lớn, nhưng dễ bảo thủ, ít dám chấp nhận rủi ro tìm con đường mới do đó cũng
dễ lâm vào trì trệ triền miên. Không có thói quen tính toán hiệu quả, thiếu đầu óc
thực tế, lại ham chuộng hình thức, chạy theo hư danh viển vông, kém khả năng và
kinh nghiệm hợp tác, góp sức cùng nhau thực hiện một mục tiêu, một kế hoạch
lớn, cho nên ít xây dựng được êkip mạnh về một lĩnh vực nào, thường chỉ có nhiều
cá nhân giỏi đứng riêng lẻ mà không hợp lại được để tạo ra synergy cao, hình
thành những tập thể hùng mạnh, xuất sắc. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng
thể hiện ít nhiều một tinh thần rời rạc như thế, ý thức đoàn kết giúp đỡ nhau không
được như các cộng đồng Do thái hay Hoa kiều, cũng do đó ít có người giàu thật
lớn, ít có nhà khoa học thật tầm cỡ, thường chỉ đến một địa vị nào đó là thoả mãn,
mệt mỏi, không mấy người đeo đuổi tham vọng thật cao xa. Tất cả những nhược
điểm trên, nếu không chú ý khắc phục, đều sẽ trở thành những lực cản không cho
phép chúng ta tiến nhanh ở thời đại kinh tế tri thức này. Một câu hỏi đặt ra: tại sao
trong chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam có thể tỏ ra xuất sắc vô song
về trí tưởng tượng, về thông minh, tài trí, dũng cảm, mà trong xây dựng thời bình
chưa đuợc như vậy? Phải chăng vì ta chưa khêu gợi, nuôi dưỡng được trong nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status