PHÁP LUẬT VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM HÀNG HOÁ pot - Pdf 18

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng đã trở thành một nhân tố chủ yếu
trong chính sách của nhiều quốc gia, bởi lẽ để tạo được chỗ đứng của mình trên
thị trường thế giới yêu cầu của mỗi doanh nghiệp đặc biệt với doanh nghiệp
thương mại phải có được những mặt hàng không chỉ hợp về mẫu mã, đủ về số
lượng hay mang yếu tố hiện đại mà còn chú ý đến chất lượng của mặt hàng đó.
Ngày nay nhờ đổi mới khoa học kỹ thuật mà chu trình sản xuất được rút ngắn,
chất lượng sản phẩm được nâng cao, mặt khác thu nhập quốc dân càng ngày
càng cao, nhu cầu người tiêu dùng luôn luôn đổi mới đa dạng nên càng đòi hỏi
hàng hoá phải có chất lượng phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Như ông
Hoàng Mạnh Tuấn nguyên Tổng cục phó Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường chất
lượng đã nói: "chất lượng sản phẩm ngày nay đang trở thành một nhân tố cơ bản
để quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh, quyết định sự tồn tại, hương vong
trong từng doanh nghiệp nói riêng cũng như sự thành công hay tụt hậu của nền
kinh tế đất nước nói chung".
Tuy nhiên trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay cùng với
quá trình mở cửa, với sự phát triển như vũ bão của nền kỹ thuật,công nghệ hiện
đại và xu thế hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế, sự cạnh tranh trên thị
trường sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt. Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải
đối đầu với những thử thách to lớn như: Sức ép của hàng nhập, của người tiêu
dùng trong và ngoài nước. Môi trường kinh doanh mới mẻ đầy biến động. Cung
thường xuyên vượt cầu. Hàng rào thuế quan dần bị xoá bỏ. Những thị trường
quan trọng như thị trường Châu Âu, thị trường Mỹ, thị trường Nhật Bản lại hết
sức nghiêm ngặt về thủ tục và tiểu chuẩn chất lượng sản phẩm Vì vậy vấn đề
chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng bằng pháp luật về chất lượng sản
phẩm ngày càng cấp bách và trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu. Chính vì ý
nghĩa vô cùng quan trọng đó, tôi chọn đề tài . "Pháp luật về chất lượng sản phẩm
hàng hóa và thực tiễn tại việt nam"
2. Đối tượng nghiên cứu.

1.1 Khái quát về chất lượng sản phẩm hàng hóa
1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm hàng hóa
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều
các thuật ngữ "chất lượng", "chất lượng sản phẩm", "chất lượng cao",vv Mỗi
quan niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy
khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện.
Theo quan điểm của triết học Mác thi chất lượng là mức đọ , thước đo biểu
hiện giá trị sử dụng của nó. Gía trị sử dụng của sản phẩm làm nên tính hữu ích
của sản phẩm và nó chính là chất lượng sản phẩm.
Theo Giáo sư Ishikawa chuyên gia về chất lượng của Nhật Bản cho rằng:
“Chất lượng là sự thõa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”
Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì chất lượng sản phẩm
là “tổng tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thỏa mãn những
yêu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kỹ thuật, kinh tế,
xã hội”
Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khả năng
thỏa mãn được những nhu cầu phù hợp công dụng của sản phẩm đó, chất lượng
sản phẩm là sự phù hợp các tiêu chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu(EOQC) thì "Chất lượng là
mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng"
Theo tiêu chuẩn của Australia(AS1057-1985)thì "Chất lượng là sự phù
hợp với mục đích"
Từ khi tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đưa ra định nghĩa ISO 9000 -
1994 (TCVN 5814 - 1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp
nhận định nghĩa này:"Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của
sản phẩm tạo ra cho nó khả năng thoả mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn
tiềm ẩn".
Qua các định nghĩa trên ta có thể nêu ra 3 điểm cơ bản về chất lượng sản
phẩm hàng hoá sau đây:
+ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể

Trừu tượng vì chất lượng thông qua sự phù hợp của sản phẩm với nhu cầu,
sự phù hợp này phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của khách hàng.
Cụ thể vì chất lượng sản phẩm phản ánh thông qua các đặc tính chất lượng
cụ thể có thể đo được, đếm được. Đánh giá được những đặc tính này mang tính
khách quan vì được thiết kế và sản xuất trong giai đoạn sản xuấ
1.1.3. Vai trò của chất lượng sản phẩm hàng hóa
Chất lượng của sản phẩm, hàng hoá thể hiện ở mức độ đáp ứng của sản
phẩm, hàng hóa với nhu cầu của người tiêu dùng và bảo đảm an toàn cho con
người, động thực vật, tài sản, môi trường Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hoá
có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với người tiêu dùng, người sản xuất mà còn cả
với nhà nước trong việc duy trì an ninh, trật tự công cộng và lợi ích quốc gia
Chất lương sản phẩm là chính sách do doanh nghiệp thực hiện các chiến
lược Marketing tạo uy tin và danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng
định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường từ đó làm cơ sở cho sự tồn tại và phát
triển bền lâu của doanh nghiệp. Nhờ phát triển chất lượng đã giúp tiết kiệm
nguyên vật liệu, tiết kiệm tai nguyên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Hiện nay, cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh
mẽ với qui mô và phạm vi ngày càng lớn. Sự phát triển của khoa học và công
nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao
nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh.Tình hình trên đã khiến cho chất
lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng. Riêng
đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo cho việc
trang bị lỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, nâng cao năng suất lao dộng.
Chất lượng sản phẩm không những làm tăng uy tín hàng hóa nươc ta trên thị
trường thế giới mà còn tạo điều kiện tăng cương thu nhập ngoại tệ cho đât nước.
Bên cạnh đó đảm bảo chất lượng hàng hoá, chống hàng giả, hàng nhái, bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chống hàng lậu không đảm bảo chất lượng,
không rõ nguồn gốc, góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của người

- Nghị định số 54/2009/NĐ-CP ngày 5/6/2009 của Chính phủ Quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất
lượng sản phẩm, hàng hoá
- Thông tư số 01/2009/TT-BKHCN ngày 20/3/2009 Quy định Danh mục
sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của
Bộ Khoa học và Công nghệ
-Thông tư số 08/2009/TT-BKHCN ngày 8/4/2009 Hướng dẫn về yêu cầu,
trình tự, thủ tục đăng ký lĩnh vực hoạt động đánh giá sự phù hợp
Thông tư số 09/2009/TT-BKHCN ngày 8/4/2009 Hướng dẫn về yêu cầu,
trình tự, thủ tục chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp
- Thông tư số 11/2009/TT-BKHCN ngày 6/5/2009 Quy định về Giải
thưởng Chất lượng Quốc gia
- Thông tư số 16/2009/TT-BKHCN ngày 2/6/2009 Hướng dẫn kiểm tra
nhà nước về chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường
- Thông tư số 17/2009/TT-BKHCN ngày 18/6/2009 Hướng dẫn kiểm tra
nhà nước về chất lượng hàng hoá nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ
Khoa học và Công nghệ
- Thông tư số 19/2009/TT-BKHCN ngày 30/6/2009 Quy định các biện
pháp quản lý chất lượng đối với sản phẩm, hàng hoá cần tăng cường quản lý
trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường
- Thông tư số 22/2009/TT-BKHCN ngày 30/9/2009 Hướng dẫn trình tự,
thủ tục đăng ký sản phẩm mới có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm
quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ
- Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 Quy định về chứng
nhận hợp quy và công bố hợp quy đối với sản phẩm chuyên ngành công nghệ
thông tin và truyền thông
- Thông tư số 07/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 Ban hành Danh mục
sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải
chứng nhận và công bố hợp quy
- Thông tư số 19/2010/TT-BCT ngày 17/5/2010 Ban hành Danh mục sản

hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng
mục đích, không gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường được
quản lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn của hàng hoá, chất lượng mà người sản
xuất sản phẩm, hàng hoá đó công bố áp dụng. Sản phẩm, hàng hoá có khả năng
gây mất an toàn (sau đây gọi là sản phẩm, hàng hoá nhóm 2) là sản phẩm, hàng
hoá trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục
đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi
trường được quản lý trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do người sản xuất công bố
áp dụng. Danh mục sản phẩm, hàng hóa thuộc nhóm 2 này sẽ do Chính phủ quy
định cụ thể.
Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá là trách nhiệm của người sản xuất,
kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi
trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
hàng hoá Việt Nam.
Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là trách nhiệm của cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật
về chất lượng sản phẩm, hàng hoá.
Hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá phải bảo
đảm minh bạch, khách quan, không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hoá và tổ
chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá, phù
hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.
Dưới đây là một số nội dung chủ yếu của Luật chất lượng sản phẩm, hàng
hoá về các nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá và chính sách của
nhà nước về vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá:
Thứ nhất, về chính sách của nhà nước về hoạt động liên quan đến chất
lượng sản phẩm, hàng hoá. Nhằm tăng cường chất lượng, khả năng cạnh tranh
của sản phẩm, hàng hoá trong nước, Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ
chức, cá nhân xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, hàng hoá

phẩm, hàng hóa; thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia,
pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiêu chuẩn
công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thông tin, quảng cáo sai sự
thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc
và xuất xứ hàng hóa; che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của sản
phẩm, hàng hoá đối với người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường
Thứ hai, Luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người sản xuất,
người nhập khẩu, người xuất khẩu, người bán hàng, người tiêu dùng đối với chất
lượng sản phẩm, hàng hoá mà mình sản xuất, cung ứng, nhập khẩu, xuất khẩu,
bán cho người tiêu dùng.
Theo đó, người sản xuất có quyền quyết định và công bố mức chất lượng
sản phẩm do mình sản xuất, cung cấp; được quyết định các biện pháp kiểm soát
nội bộ để bảo đảm chất lượng sản phẩm; được lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù
hợp để thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm,
hàng hóa
Người sản xuất có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối
với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường và chịu trách nhiệm về chất lượng sản
phẩm do mình sản xuất; nghĩa vụ thể hiện các thông tin về chất lượng trên nhãn
hàng hóa, bao bì, trong tài liệu kèm theo hàng hóa theo quy định của pháp luật
về nhãn hàng hóa, thông tin trung thực về chất lượng sản phẩm, hàng hoá, phải
cảnh báo về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm và cách phòng ngừa cho
người bán hàng và người tiêu dùng ). Người nhập khẩu có quyền quyết định
lựa chọn mức chất lượng của hàng hoá do mình nhập khẩu; quyền yêu cầu người
xuất khẩu cung cấp hàng hoá đúng chất lượng đã thoả thuận theo hợp đồng;
quyền lựa chọn tổ chức giám định để giám định chất lượng hàng hoá do mình
nhập khẩu; quyền sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các dấu hiệu khác
cho hàng hoá nhập khẩu theo quy định
Người nhập khẩu có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng
đối với hàng hoá nhập khẩu, chịu trách nhiệm về chất lượng và ghi nhãn hàng
hoá theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa do mình nhập khẩu, thông tin

Luật cũng có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của tổ chức đánh giá
sự phù hợp, (tổ chức tiến hành hoạt động thử nghiệm, giám định, kiểm định,
chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá, quá trình sản xuất, cung ứng
dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương
ứng), tổ chức nghề nghiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá.
Thứ ba, Luật có quy định cụ thể về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá
trong các khâu sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường và
trong quá trình sử dụng. Theo đó, chất lượng sản phẩm, hàng hoá được quản lý
thông qua các biện pháp như:
Công bố tiêu chuẩn áp dụng: Người sản xuất, người nhập khẩu tự công bố
các đặc tính cơ bản, thông tin cảnh báo, số hiệu tiêu chuẩn trên hàng hoá hoặc
trên bao bì hàng hoá, nhãn hàng hoá, tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hoá;
Công bố sự phù hợp: Người sản xuất thông báo sản phẩm của mình phù
hợp với tiêu chuẩn (công bố hợp chuẩn) hoặc với quy chuẩn kỹ thuật (công bố
hợp quy). Việc công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy được thực hiện theo quy
định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Đánh giá sự phù hợp thông qua các hình thức như thử nghiệm (thực hiện
các thao tác kỹ thuật nhằm xác định một hay nhiều đặc tính của sản phẩm, hàng
hóa theo một quy trình nhất định), giám định (xem xét sự phù hợp của sản
phẩm, hàng hóa so với hợp đồng hoặc tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn
kỹ thuật tương ứng bằng cách quan trắc và đánh giá kết quả đo, thử nghiệm),
chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy (đánh giá và xác nhận sự phù hợp
của sản phẩm, quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ với tiêu chuẩn công bố áp
dụng hoặc với quy chuẩn kỹ thuật), kiểm định (hoạt động kỹ thuật theo một quy
trình nhất định nhằm đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá
với yêu cầu quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng).
Thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp, theo đó, việc thừa nhận kết quả
đánh giá sự phù hợp giữa tổ chức, cá nhân tại Việt Nam với tổ chức, cá nhân
nước ngoài, vùng lãnh thổ do các bên tự thoả thuận; việc thừa nhận kết quả đánh

nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh sản phẩm, hàng hóa và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất
lượng sản phẩm, hàng hóa. Đối tượng của thanh tra chuyên ngành về chất lượng
sản phẩm, hàng hoá là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, tổ
chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng và cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá.
Thứ năm, Luật quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt
hại, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về chất lượng sản
phẩm, hàng hoá. Theo đó:
Tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hoá bao gồm: tranh chấp giữa
người mua với người nhập khẩu, người bán hàng hoặc giữa các thương nhân với
nhau do sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng,
quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc thỏa thuận về chất lượng trong hợp đồng;
tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng và
các bên có liên quan do sản phẩm, hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây thiệt
hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường. Đây cũng là các tranh
chấp thương mại nên hình thức giải quyết tranh chấp, thời hiệu khiếu nại, khởi
kiện được quy định tương tự, theo các nguyên tắc như đối với các tranh chấp
thương mại. Các tranh chấp được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải
giữa các bên, thông qua trọng tài hoặc toà án. Thủ tục giải quyết tranh chấp về
chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại trọng tài hoặc toà án được tiến hành theo quy
định của pháp luật về tố tụng trọng tài hoặc tố tụng dân sự. Thời hiệu khởi kiện
về chất lượng sản phẩm, hàng hoá giữa người mua với người bán hàng được
thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự. Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện về
chất lượng sản phẩm, hàng hoá giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
được thực hiện theo quy định của Luật thương mại. Thời hiệu khiếu nại, khởi
kiện đòi bồi thường do sản phẩm, hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây thiệt
hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường là 2 năm, kể từ thời điểm
các bên được thông báo về thiệt hại với điều kiện thiệt hại xảy ra trong thời hạn
sử dụng của sản phẩm, hàng hoá có ghi hạn sử dụng và 5 năm kể từ ngày giao

Bộ Y tế chịu trách nhiệm đối với thực phẩm, dược phẩm, vắc xin, sinh
phẩm y tế, mỹ phẩm, nguyên liệu sản xuất thuốc và thuốc cho người, hoá chất
gia dụng, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn, trang thiết bị y tế;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đối với cây
trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y,
chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công trình
thuỷ lợi, đê điều;
Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm đối với phương tiện giao thông
vận tải, phương tiện, thiết bị xếp dỡ, thi công vận tải chuyên dùng, phương tiện,
thiết bị thăm dò, khai thác trên biển, công trình hạ tầng giao thông;
Bộ Công Thương chịu trách nhiệm đối với thiết bị áp lực, thiết bị nâng đặc
thù chuyên ngành công nghiệp, hoá chất, vật liệu nổ công nghiệp, trang thiết bị
khai thác mỏ, dầu khí, trừ các thiết bị, phương tiện thăm dò, khai thác trên biển;
Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm đối với công trình dân dụng, công trình
công nghiệp, công trình hạ tầng kỹ thuật;
Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm đối với phương tiện, trang thiết bị quân
sự, vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm phục vụ quốc phòng, công trình quốc
phòng;
Bộ Công an chịu trách nhiệm đối với trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy;
trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược, khí tài, công cụ hỗ trợ, trừ phương tiện,
trang thiết bị quân sự, vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm phục vụ quốc phòng,
công trình quốc phòng
Chương 2:Thực tiễn áp dụng pháp luật về chất lượng
sản phẩm hàng hóa
2.1. Tình hình thực tế chất lượng sản phẩm hàng hóa VN
Ngày nay trên thị trường nước ta ngày càng dồi dào, đa dạng hàng hoá
đáp ứng được phần nào nhu cầu cũng rất đa dạng của người tiêu dùng. Chất
lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng được cải thiện, chủng loại, kiểu cách mẫu
mã càng phong phú hơn, bắt mắt hơn .Nhiều loại sản phẩm trước đây chất lượng
kém vẫn được chấp nhận và lưu hành trên thị trường do sự quản lý không chặt

không đủ định lượng, sắt thép xây dựng không bảo đảm tiêu chuẩn, điện kế chạy
nhanh, bánh Trung thu bị buộc thu hồi sản phẩm, sữa bột pha loãng ghi sữa tươi
Và đặc biệt gây xôn xao dư luận rong thời gian vưa qua là tình trạng sữa có
chứa Melamine. Melamie là một chất bột màu trắng không có mùi vị, chứa hàm
lượng ammonia rất lớn. Việc trộn melamine vào sữa chỉ nhằm một mục đích duy
nhất là đánh lừa phương pháp kiểm tra Kjeldahl bằng cách hiển thị giả hàm lượng
nitơ cao. Do trong thành phần cà công thức có lượng nitơ cao (6N), nên khi xét
nghiệm bằng phương pháp đồng vị phóng xạ thì kết quả thu được tương tự như kết
quả thử nghiệm một thực phẩm có nồng độ “protein” cao. Thực chất nitơ trong
melamine là một non -protein nitrogen, tức nitơ không phải chất đạm, cho nên nó
không có tác dụng dinh dưỡng như chất đạm. Ngược lại, sau khi vào cơ thể, chính
lượng nitơ cao này sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp do tăng amoniac cấp tính và
suy thận cấp. Nếu hàm lượng đưa vào cơ thể ít và kéo dài sẽ tích tụ lại gây sỏi thận
và cuối cùng dẫn đến suy thận. mặt khác, theo nhiều tài liệu đã công bố, melamine
còn làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể…
Do sữa là thực phẩm chính ở trẻ em (chiếm 40-100% khẩu phần hằng
ngày) nên số lượng melamine xâm nhập vào cơ thể nhiều hơn và nguy cơ tích tụ
chất độc nhiều hơn. Ở trẻ em, gan thận còn rất yếu nên khả năng thải độc kém
hơn người lớn, khối lượng cơ thể lại thấp, do đó nguy cơ ngộ độc ở trẻ em luôn
cao hơn người lớn. Melamin gây nhiều triệu chứng nguy hiểm như sỏi thận…
nhưng nguyên nhân chính dẫn đến tử vong là do suy thận, bí tiểu, rối loạn
chuyển hóa, suy hô hấp, ngộ độc thần kinh. Ngoài ra còn phát hiện 65 sản phẩm
có melamin như: Sản phẩm sữa cho trẻ sơ sinh, các loại kẹo, các loại sữa nước
và sữa chua, thực phẩm tráng miệng đông lạnh, đồ ăn nhanh
Vừa qua, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) vừa chính thức thông
báo danh sách các sản phẩm sữa nhiễm melamine:
TT Tên sản phẩm Đơn vị phân phối Nguồn gốc
Hàm lượng
melamine
1 Sữa Pure Milk hiệu YiLi

Golden Food cho trẻ từ
01 tuổi trở lên (hộp giấy)
Công ty CP Dinh
dưỡng thực phẩm
vàng, TPHCM
Chưa rõ
nguồn gốc
707,19
mg/kg
10
Sữa bột Advandced
Distribution
Công ty TNHH
CBLTTP Mai Anh,
TPHCM
Chưa rõ
nguồn gốc
207,76
mg/kg
11 Bánh quy Khong Guan
Công ty TNHH
TM&DV Đại Vinh
Indonesia 268 mcg/kg
12 Bánh quy Khong Guan Nt Malaysia 1575 mcg/kg
13
Bánh quy Khian Guan
Aquare Puff
Nt Malaysia 1689 mcg/kg
14
Bánh quy Khong Guan

hậu quả không thể phát hiện ngay mà ảnh hưởng từ từ trên cơ thể trẻ. Khi cha
mẹ phát hiện thì trẻ đã phải nhập viện vì suy dinh dưỡng. Việc 10 mẫu sữa bột
với những thương hiệu khá quen thuộc được nêu tên trong tuần qua do gian dối
trong việc công bố hàm lượng protid, lipid đã khiến một lần nữa người tiêu dùng
TP Hồ Chí Minh lại sửng sốt
Mỗi năm có khoảng 1 triệu tấn sắt thép được các cá nhân, đơn vị làm ra dưới
dạng "làng nghề" đã có từ hàng trăm năm trước tại Bắc Ninh, Hà Tây, Thái

Trích đoạn Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của Luật chất lượng hàng hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status