Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
1/ TÊN ĐỀ TÀI:
KINH NGHIỆM KHAI THÁC TỐT KÊNH HÌNH TRONG GIẢNG
DẠY MÔN LỊCH SỬ LỚP 8 BẬC THCS
2/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy học, các nhà giáo dục đều thừa nhận 4 thành tố:
Mục tiêu- Nội dung- Phương pháp dạy học - Thiết bị dạy học là không thể
thiếu trong quá trình dạy học. Mỗi nhân tố đều có mối quan hệ nội tại nhưng
giữa chúng có mối quan hệ mật thiết tác động lẫn nhau, do mối quan hệ đó
chúng thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh. Mối quan hệ này được thể
hiện qua sơ đồ sau:
Mục tiêu dạy học được đặt ra xuất phát từ nhiều yếu tố, để thực hiện
cần có nội dung tương ứng, có phương pháp dạy học và hệ thống thiết bị dạy
học phù hợp.
Nội dung dạy học không chỉ bám sát mục tiêu đã định mà nó được xác
định trên nền tảng phương pháp dạy học và thiết bị dạy học tương ứng.
Phương pháp dạy học phải phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học và
hệ thống thiết bị dạy học cần có, chính nó ảnh hưởng tích cực đến việc hoàn
thành nội dung và thực hiện mục đích dạy học.
Trong những thành tố trên, thiết bị dạy học được các thành tố chi phối
và mặt khác nó có tác động tích cực trong việc thực hiện mục tiêu dạy học.
Xuất phát từ lý luận đó, chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là
một quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh
giá chất lượng giáo dục trong đó việc biên soạn chương trình và sách giáo
khoa mới lần này không chỉ nêu nội dung và thời lượng dạy học mà thực sự là
một kế hoạch hành động sư phạm, kết nối mục tiêu giáo dục với các lĩnh vực
nội dung và phương pháp giáo dục, phương tiện dạy học, tổ chức các hoạt
động dạy học và cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh. Sách giáo
khoa không đơn giản là tài liệu thông báo các kiến thức có sẵn mà là tài liệu
giúp học sinh tự học, tự phát hiện và giải quyết các vấn đề để chiếm lĩnh và
vận dụng kiến thức mới một cách linh hoạt, chủ động và sáng tạo. Các tư liệu
sử là những sự việc đã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, tồn tại một cách
khách quan, không thể thông qua “phán đoán”, “suy luận”…để biết lịch sử.
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là
tái tạo lịch sử, tức là cho HS tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu
vết của quá khứ, tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về
các sự kiện, hiện tượng lịch sử, những biểu tượng về con người và hoạt động
của con người trong bối cảnh thời gian, không gian xác định với những điều
kiện lịch sử cụ thể. Vậy tái tạo lịch sử bằng phương thức nào? Để tạo ra
những hình ảnh lịch sử cụ thể, bên cạnh lời nói sinh động GV sử dụng các
phương tiện trực quan. Căn cứ vào tài liệu học tập và mục tiêu lĩnh hội, có thể
lựa chọn các phương tiện trực quan khác nhau như:
+Tạo hình ảnh một sự vật cụ thể: dùng hiện vật, tranh, ảnh, phim đèn
chiếu, video
+Tạo biểu tượng về không gian, hoàn cảnh địa lí diễn ra các sự kiện
lịch sử: dùng tranh, ảnh, bản đồ, sa bàn.
+Trình bày diễn biến các sự kiện lịch sử: dùng tranh, ảnh, phim đèn
chiếu, phim màn ảnh rộng, video…
+Tạo biểu tượng về thời gian: dùng sơ đồ, bảng niên biểu…
+Tạo biểu tượng về sự phát triển: dùng sơ đồ, biểu đồ, tranh, ảnh, bảng
so sánh…
So với lời nói của giáo viên, các phương tiện trực quan có ưu thế hơn,
như tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động và chính xác hơn, giúp học sinh
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
2
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử. Vì vậy cần quan tâm sử dụng
các phương tiện trực quan kết hợp với lời nói sinh động của giáo viên.
3.2. !"#
$%&'()*)+,-*!/0(*
'%#-*3(2456
hiệu quả theo yêu cầu đổi mới nhưng không mang tính đại trà. Một bộ phận
giáo viên Lịch sử chưa nỗ lực vượt qua kiểu dạy học theo lối mòn trước đây
nên đã chủ yếu dùng phương pháp trình bày miệng, bằng lời nói sinh động,
giàu hình ảnh giáo viên thông qua tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc
điểm của nhân vật lịch sử …kết hợp với giới thiệu các tranh ảnh, bản đồ, lược
đồ … , sử dụng thêm vài câu hỏi, học sinh nhìn qua loa vào sách giáo khoa và
trả lời, khoảng 10-15 lần như thế là xong tiết học. Bằng phương pháp này, giờ
học lịch sử đã trở thành giờ kể chuyện lịch sử, các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
3
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
được trình bày một cách trừu tượng, qua loa, chưa đạt tới mức độ có thể giúp
học sinh hình dung về quá khứ, các kĩ năng thực hành bộ môn, khả năng quan
sát, suy luận, trình bày các vấn đề lịch sử… của học sinh đã không được chú
trọng theo đúng yêu cầu đổi mới của mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình
sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Với việc sử dụng đó đồ dùng trực
quan chỉ có giá trị được dùng để minh họa cho lời giảng của giáo viên nên
giá trị sử dụng của đồ dùng trực quan trong quá trình tổ chức hoạt động dạy
học không cao hoặc không cần thiết ( không sử dụng cũng được). Đây chính
là kiểu dạy học “cầm tay chỉ việc” có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho
người học trở nên thụ động, mất khả năng và hứng thú tìm tòi, sáng tạo.
=>?0@!"A2
Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, sách giáo viên, các tác giả đã
chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số
yêu cầu để có thể phát huy vai trò của đồ dụng dạy học, quá trình khai thác và
sử dụng các kênh hình trong sách giáo khoa của giáo viên đã diễn ra như sau:
a/Sử dụng bản đồ, lược đồ: Việc sử dụng bản đồ, lược đồ giáo khoa
trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học đã được giáo viên thực hiện
bằng 2 bước:
-Bước 1: GV giới thiệu tên bản đồ, lược đồ; ranh giới, các quy ước trên
định cuộc sống nhân dân mà chỉ lo củng cố quyền lực.”
Với cách sử dụng nêu trên, giáo viên đã sử dụng lược đồ để minh họa
cho học sinh thấy tình hình khó khăn của nước Pháp vào năm 1793. Như vậy
một đơn vị kiến thức đã được trình bày ở phần kênh chữ sách giáo khoa, được
kí hiệu hóa thể hiện qua lược đồ H10, lại một lần nữa do giáo viên trình bày
bằng cách kết hợp nội dung kênh chữ của sách giáo khoa với sử dụng lược đồ
Hình 10, cách hoạt động như vậy đã làm cho giáo viên trở thành là người giữ
vai trò chủ động trong hoạt động học tập còn học sinh rơi vào thế thụ động
ngồi nghe và theo dõi sách giáo khoa xem giáo viên trình bày đến đâu, phải
đến cuối tiết học, nếu còn thời gian giáo viên mới cho học sinh lên bảng dựa
vào lược đồ trình bày tình hình nước Pháp năm 1793 để rèn luyện kĩ năng bộ
môn cho học sinh.
Trường hợp thứ hai, do nhận thức một cách máy móc về yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học nên có giáo viên đã chuyển giao công việc trình
bày diễn biến các sự kiện lịch sử trên lược đồ, bản đồ cho học sinh thực hiện
bằng một câu hỏi: Em hãy trình bày tình hình của nước Pháp năm 1793?. Với
cách thực hiện này, chỉ một vài học sinh giỏi, khá trong lớp nhanh chóng ghi
nhớ nội dung diễn biến từ sách giáo khoa và lên bảng trình bày minh họa như
một cái máy nhưng không hiểu được bản chất sự kiện lịch sử.
b.Tranh ảnh lịch sử (tranh chân dung nhân vật lịch sử, tranh biếm
họa, tranh lịch sử…): Tranh ảnh lịch sử là những tài liệu lịch sử quý đã được
chọn để sử dụng trong dạy học nhằm nâng cao
hiệu quả giờ dạy, góp phần nâng cao chất
lượng bộ môn. Giáo viên khi sử dụng tranh ảnh
lịch sử chỉ tập trung vào việc rèn luyện cho HS
kĩ năng quan sát, mô tả, tường thuật là chủ yếu.
Quá trình khai thác tranh ảnh lịch sử này đã
được giáo viên thực hiện như sau:
b.1.Tranh nhân vật lịch sử: Ví dụ:
Hình 44.Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) trang
thiệu Hình 42. Các nước
đế quốc xâu xé “cái bánh
ngọt” Trung Quốc : Trung
Quốc được ví như cái
bánh ngọt bị cắt làm 6
miếng và các nước đế
quốc là những người cầm
nĩa đứng xung quanh.
Bước 2: Giáo viên
nêu câu hỏi: ?Dựa vào
H.42, em hãy cho biết tình
hình của Trung Quốc nửa
sau thế kỉ XIX? HS sẽ trả lời Trung Quốc bị các nước đế quốc xâu xé.
Với cách thực hiện trên, giáo viên chỉ mới khai thác tầng nghĩa thứ nhất
được thể hiện qua bức tranh: Trung Quốc là một cái bánh ngọt và bị 6 nước
đế quốc chia cắt và sử dụng nó để thông báo đơn vị kiến thức Trung Quốc bị
các nước đế quốc xâm chiếm chứ không thông qua chi tiết biếm họa khai thác
một đơn vị kiến thức thứ hai của bức tranh đó là: nguyên nhân các đế quốc
xâu xé Trung Quốc? Tính biếm họa của bức tranh nhằm thể hiện nội dung
kiến thức không được khai thác, học sinh thụ động nắm kiến thức không có
cơ hội được phát huy tính chủ động sáng tạo của mình thông qua kĩ năng quan
sát, nhận xét, suy luận để tiếp nhận kiến thức mới
c.Tranh lịch sử: Hình 99. Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp
thuộc (Bài 29: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những
chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam)
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
6
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
Buớc 1: giáo viên
cho học sinh quan sát H99.
thiệu hình 62 trang 90
Bước 2: Nêu câu hỏi sách
giáo khoa: Qua sơ đồ trên, em
có nhận xét gì về tình hình sản
xuất ở Liên Xô và Anh trong
những năm 1929 – 1931?
(Sản xuất của Liên Xô tăng dần từ 1929 đến 1931, sản xuất của Anh
tăng dần đến nửa đầu 1930 giảm rất nhanh đến 1931 )
Với cách tổ chức hoạt động như trên, giáo viên chỉ giúp học sinh so
sánh sự tăng trưởng của sản lượng thép ở Liên Xô với sự sụt giảm của sản
lượng thép ở Anh, thể hiện hai chiều trái ngược nhau trong nền sản xuất của
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
7
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
Anh (TBCN) và của Liên Xô (nước XHCN) trong những năm 1929 – 1933
mà không giúp học sinh rút ra nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế thừa ở
các nước tư bản được thể hiện qua kênh hình.
=B+C(2Với cách tiến hành đã nêu trên, GV chỉ thực
hiện hai bước trong quá trình khai thác, các kênh hình trong sách giáo khoa
lịch sử 8: lược đồ, tranh ảnh, biểu đồ đã được giáo viên sử dụng để minh
họa cho những đơn vị kiến thức mà giáo viên cung cấp cho HS. GV đã trở
thành là người giữ vai trò chủ động trong hoạt động dạy học, cung cấp thông
tin đến cho học sinh, còn HS ở vào thế bị động tiếp thu lại những nội dung do
giáo viên truyền đạt hoặc đọc từ kênh chữ của sách giáo khoa hoặc giải quyết
một số vấn đề do giáo viên đặt ra một cách áp đặc. Những tồn tại của giáo
viên trong quá trình sử dụng và khai thác kênh hình được nêu trên xuất phát
từ những nguyên nhân chính sau đây:
-Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học Lịch sử trang bị cho giáo viên
trong quá trình đào tạo chỉ tập trung vào nêu vị trí và ý nghĩa của đồ dùng trực
quan mà chưa chú trọng vào việc cung cấp cho giáo viên phương pháp sử
trong việc tự trình bày sự hiểu biết của mình qua đọc và sử dụng các kí hiệu
của lược đồ, bản đồ, tranh ảnh. Giáo viên tự cho rằng đó là công việc mà giáo
viên phải làm, học sinh không thể làm được, giáo viên phải là người tái tạo lại
bức tranh lịch sử trong quá khứ cho học sinh nghiên cứu và tìm hiểu.
-Không xác định được nội dung kiến thức được thể hiện qua các tranh
ảnh lịch sử được đưa vào sách giáo khoa và cách khai thác từng loại tranh ảnh
lịch sử đó. Quá trình tổ chức thực hiện không thực hiện đúng năm bước theo
lý luận, và không đặt ra được những tình huống có vấn đề của tranh, ảnh, lược
đồ để hướng dẫn, tổ chức học sinh tìm hiểu nội dung bài học từ việc giải
quyết những vấn đề đã đặt ra. (đây là nguyên nhân cơ bản, quan trọng nhất )
-Kênh hình trong sách giáo khoa gồm: bản đồ, lược đồ, hình ảnh đen
trắng in với kỹ thuật không cao, ít được giải thích nội dung và cũng ít hấp
dẫn. Nếu so sánh với những tài liệu học tập của các môn Vật Lý, Hóa học,
Sinh học, Địa lý …ta thấy cần có những cải tiến, bổ sung cho bộ môn Lịch sử
trong nhà trường.
5/NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu đổi mới của giáo dục phổ thông là nhằm đào tạo những con
người vừa có thể thích ứng với với hoàn cảnh, vừa có khả năng tác động để
thay đổi hoàn cảnh theo quy luật phát triển của lịch sử. Từ mục tiêu giáo dục
như vậy, việc biên soạn sách giáo khoa Lịch sử cũng được đổi mới. Sách giáo
khoa được biên soạn theo quan điểm đúng đắn: Đây là tài liệu cơ bản cho học
sinh học tập, giúp các em “làm việc” với sách để nắm kiến thức, chứ không
phải để học thuộc lòng. Vì vậy, ngoài phần bài viết, sách giáo khoa còn có
nhiều bộ phận quan trọng khác: tài liệu tham khảo, câu hỏi, các loại tranh ảnh,
lược đồ, bản đồ… để củng cố và bổ sung kiến thức cần thiết mà học sinh cần
nắm vững. Sách giáo khoa mới tăng thêm một số lượng đáng kể về kênh hình:
SGK Lịch sử 8 có 107 kênh hình, trong đó có 18 lược đồ (sách cũ có 64 kênh
hình). Các tư liệu Lịch sử trực quan này tự nó chứa đựng thông tin, tư liệu,
hình ảnh (tĩnh và động), là phương tiện để GV tổ chức quá trình nhận thức
nên có tác động rất mạnh đến nội dung dạy học. Ví như các kênh hình đã
dung khai thác tranh, ảnh cho HS.
Q>2JK0IR/)*T)+,-*
<JU
Q2JK0#*RF,L'VWIX7
9;<)*,*
Q=2JK*.)+,003)*'%Y&
)+,-*<JU
Kênh hình trong dạy học lịch sử có nhiều loại, mỗi loại lại có cách sử
dụng riêng như sau:
a. Sử dụng bản đồ, lược đồ: Sử dụng lược đồ trong sách giáo khoa
hoặc bản đồ được cấp là một yêu cầu cấp thiết trong dạy học lịch sử, nhằm
phát triển tư duy của học sinh. Song sử dụng như thế nào để phát huy hiệu
quả của nó trong dạy học lịch sử thì ít được chú ý. Sử dụng như thế nào mới
đáp ứng được yêu cầu của chương trình thay sách theo hướng học sinh chủ
động nắm kiến thức chứ không phải để minh họa cho kiến thức?
Trên bản đồ lịch sử, các sự kiện luôn được thể hiện trong một không
gian, thời gian, địa điểm cùng một số yếu tố địa lí nhất định. Tất cả nội dung
trên đã được mã hóa bằng các kí hiệu: màu sắc, mũi tên hoặc nhiều kí hiệu
khác đã được nêu rõ ở chú giải của bản đồ, lược đồ.
Bản đồ, kí hiệu bản đồ, cách đọc bản đồ… là nội dung kiến thức đã
được đưa vào trong chương trình giảng dạy của bộ môn Địa lí lớp 6 với 3 tiết
nhằm cung cấp cho học sinh kĩ năng vẽ và đọc bản đồ nên học sinh từ lớp 6
đã biết sử dụng và đọc bản đồ, lược đồ.
Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, mức độ yêu cầu rèn luyện kĩ
năng sử dụng lược đồ và bản đồ cho học sinh trong bộ môn Lịch sử cũng
được thể hiện rất rõ trong sách giáo khoa Lịch sử ở từng khối lớp:
Ở lớp 6, yêu cầu rèn luyện kĩ năng điền kí hiệu thích hợp vào bản đồ,
thì sang lớp 7, bản đồ - lược đồ đã có có kí hiệu, có bản chú giải nên yêu cầu
về kĩ năng cao hơn một bước, đầu tiên là “sử dụng lược đồ để trình bày tóm
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
công nước Pháp cách mạng từ nhiều hướng,
trong nước bọn nổi loạn khắp nơi, nền độc lập
bị đe dọa”
-Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến
trả lời của HS và hoàn chỉnh nội dung lược đồ cần cung cấp cho HS là: nước
Pháp gặp khó khăn về ngoại xâm và nội loạn trong nước ngoài ra còn có thêm
một số khó khăn trong nước nạn đầu cơ tích trữ hoành hành, giá cả tăng vọt,
đời sống nhân dân đói khổ.
Với cách sử dụng nêu trên giáo viên đã khắc phục những nhược điểm
của cách dạy cũ như đã nêu phần trên (GV dựa vào lược đồ để trình bày diễn
biến lịch sử, học sinh chỉ ngồi nghe), bây giờ thông qua quan sát bản đồ, đọc
ký hiệu được biểu diễn trên bản đồ học sinh đã tự phát hiện được nội dung
lịch sử. Như vậy từ vị trí thầy là người chủ động, trò thụ động trong giờ học
đã chuyển sang thầy là người hướng dẫn tổ chức thực hiện còn trò là người
chủ động tự mình tìm kiếm, khai thác kiến thức trong hoạt động học tập và
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
11
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
trình bày trước tập thể lớp. Việc sử dụng bản đồ lịch sử đã góp phần phát triển
khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng
đọc bản đồ, củng cố thêm kiến thức địa lí…cho học sinh
b.Sử dụng tranh, ảnh lịch sử :
Do hiện thực lịch sử là hiện thực quá khứ nên học sinh không được tiếp
xúc với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, quá trình lịch sử. Mặt khác, do lịch
sử là quá khứ, gần hoặc xa, thậm chí rất xa và nội dung của những thời đại xa
xưa ấy lại có nhiều điều khác, thậm chí rất khác với thời đại hiện nay nên con
người hiện nay không dễ gì hình dung và cắt nghĩa được những gì đã từng
xảy ra trước kia. Vì những lý do nêu trên, tranh hay ảnh lịch sử luôn luôn
được xem là những tư liệu lịch sử quý. Khai thác tranh, ảnh lịch sử là một
trong những cách tiếp cận lịch sử tốt nhất, có khả năng đưa lại hiệu quả giáo
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
12
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
-Bước 2: GV đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm
hiểu nội dung tranh ảnh.
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện
nội dung khai thác tranh, ảnh cho HS
Ví dụ: Hình 44.Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) trang 61(Bài 10: Trung
Quốc cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX
Bước 1: GV yêu cầu học sinh nêu
những thông tin về nhân vật Tôn Trung Sơn
qua Hình 44. (HS sẽ trình bày năm sinh và
mất, đặc điểm về nhận dạng của Tôn Trung
Sơn là: sinh năm 1866 mất năm 1925, tóc
ngắn, bận âu phục)
Bước 2: GV nêu tình huống vấn đề để
học sinh khai thác nội dung của tranh nhân
vật: Đặc điểm nhận dạng đã thể hiện lập
trường, quan điểm chính trị, tư tưởng của
ông có điểm gì khác với những người cùng
thời? (Đặc điểm nhận dạng: tóc, trang
phục ).
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu
nội dung tranh, ảnh.
Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiệu
nội dung khai thác tranh ảnh cho HS:(Đặc điểm nhận dạng: tóc ngắn, bận âu
phục khác với những người cùng thời là tóc đuôi sam, áo dài…thể hiện tư
tưởng canh tân, theo tây học của giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh, ảnh cho HS
Ví dụ Hình 42: Các nước đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt” Trung Quốc,
trang 59. (Bài 10: Trung
Quốc cuối thế kỉ XIX-
đầu thế kỉ XX).
Hoạt động dạy học được
thực hiện như sau:
-Bước 1:
Cho học sinh quan sát H
42, xác định một cách
khái quát nội dung tranh
ảnh. (Trung Quốc được
xem như một cái bánh
ngọt, các nước đế quốc
đang xâu xé cái bánh
ngọt TQ)
-Bước 2: Đặt vấn đề: Vì sao lại ví Trung Quốc như một cái bánh ngọt
khổng lồ mà không phải là một khúc xương chẳng hạn?
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh sau khi quan
sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung trong bài học.(Bánh ngọt có
đặc điểm ngon và dễ ăn. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, đông dân và
nhiều tài nguyên (ngon), chế độ phong kiến Trung Quốc lại đang suy yếu (dễ
ăn).
-Bước 4: GV kết luận: Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, đông dân
và nhiều tài nguyên, chế độ phong kiến Trung Quốc lại đang suy yếu nên đây
chính là nguyên nhân các nước đế quốc tranh nhau xâm chiếm Trung Quốc và
bổ sung thêm nội dung bức tranh: những người trong H42 từ trái sang phải là
Hoàng đế Đức, Tổng thống Pháp, Nga hoàng, Nhật hoàng, Tổng thống Mĩ,
định đây hình ảnh người
nông dân Việt Nam cày
ruộng dưới thời Pháp thuộc.
(người nông dân dưới thời
Pháp thuộc lưng trần, nón
cời, gầy yếu, hai người
đang kéo cày thay cho trâu).
Bước 2: GV đưa ra
câu hỏi nêu vấn đề và tổ
chức, hướng dẫn HS tìm
hiểu nội dung tranh, ảnh:
Cuộc sống người nông dân
dưới thời Pháp thuộc so với
trước như thế nào?
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
15
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh ảnh cho học sinh.(Người nông dân dưới thời Pháp thuộc
phải kéo cày thay trâu, lưng trần, nón cời, gầy ốm…chứng tỏ người nông dân
bị bần cùng hóa hơn so với thời phong kiến)
Với cách sử dụng tranh ảnh như vậy, GV vừa khai thác nội dung lịch
sử thể hiện qua tranh ảnh, vừa phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng,
tư duy và ngôn ngữ của học sinh mà còn có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm
xúc thẩm mĩ rất lớn. Ngắm nhìn bức tranh Nông dân Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc học sinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về nỗi cực nhục của
người dân mất nước (kéo cày thay trâu), lòng căm thù bọn xâm lược cai trị, ý
thức đấu tranh giành độc lập…
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
16
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
về việc lien hệ với khái niệm khủng hoảng kinh tế đã học và tìm hiểu nội
dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội dung
khai thác tranh cho HS.( Sản xuất của Liên Xô tăng dần từ 1929 đến 1931 do
phục vụ cho công nhân, sản xuất của Anh tăng dần đến nửa đầu 1930 và đến
1931 giảm rất nhanh do chủ tư bản chạy theo lợi nhuận dẫn đến khủng hoảng
kinh tế thừa)
Bằng cách sử dụng kiến thức liên môn: kĩ năng sử dụng biểu đồ, đồ thị
ở môn Địa, giáo viên đã hướng dẫn học sinh khai thác hết các nội dung kiến
thức thể hiện trên đồ thị để nghiên cứu lịch sử và hiểu được bản chất của hiện
tượng lịch sử.
6/ Hiệu quả của sáng kiến khi thực nghiệm:
Trong hoạt động dạy học, hiệu quả của tiết dạy phụ thuộc vào nhiều
yếu tố nhưng trong đó việc sử dụng kênh hình và tổ chức các hoạt động tự
học của học sinh là quan trọng nhất. Việc sử dụng kênh hình trong dạy học là
một nghệ thuật, các kênh hình được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, ở
những khâu khác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất là thông
qua kênh hình giáo viên hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất
của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham
muốn hiểu biết. Ở đây giáo viên là người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh là
người tự lực phát hiện kiến thức mới. Nắm vững lí luận này nên trong quá
trình thực hiện giảng dạy chương trình sách giáo khoa mới tôi đã chú trọng
việc đổi mới quá trình khai thác kênh hình trong việc tổ chức các hoạt động
dạy học trên lớp, làm cho ngôn ngữ của hình ảnh đến được với học sinh và
bằng cách này trong quá trình dạy học, giáo viên đã huy động được nhiều cơ
quan cảm giác của học sinh vào quá trình nhận thức, kết hợp chặt chẽ được
nhiều hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, miệng nói … điều này đã
8 bậc THCS là đề tài được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học,
hiệu quả sử dụng khai thác kênh hình qua thực tế giảng dạy Lịch Sử 6, 7, 8, 9
của chương trình thay sách giáo khoa. Với phương pháp dạy học này, giáo
viên đã khắc phục được tình trạng phổ biến thầy đọc, trò chép hoặc giảng giải
xen kẽ vấn đáp, giải thích, minh họa bằng phương tiện trực quan để thay vào
đó là giáo viên tổ chức cho học sinh “tự làm việc” với tài liệu giáo khoa, trao
đổi, thảo luận với bạn bè, để đề xuất ý kiến, thắc mắc, thảo luận…tìm ra kiến
thức mới của bài. Đề tài gồm các nội dung sau:
Z)*)+,1<JU2
-Bước 1: quan sát kênh hình để xác định một cách khái quát nội dung.
-Bước 2: GV đặt vấn đề và tổ chức hướn dẫn HS tìm hiểu nội dung từ
kênh hình.
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung kênh hình sau khi
quan sát kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét bổ sung
>[JK/)*T)+,-*<JU\
*1/AA]
?#'VW8,)*)+,\*1
/AA]1TAI2
-Lược đồ, bản đồ: dựa vào chú giải, kí hiệu trên lược đồ để tự tìm hiểu
các nội dung của các sự kiện lịch sử được thể hiện trên lược đồ, bản đồ.
-Tranh ảnh lịch sử:
+Tranh ảnh nhân vật lịch sử: nhận biết hình dạng, qua hình dáng để
biết được quan điểm, tư tưởng… của nhân vật lịch sử.
+Tranh biếm hoạ: Xác định chi tiết biếm hoạ, nội dung được phản ảnh
của hình ảnh, chi tiết biếm hoạ của bức tranh.
+Tranh ảnh lịch sử khác: nội dung cần khai thác từ những hình ảnh, sự
vật cụ thể của bức tranh…
Đây là đề tài đã được bản thân hình thành từ khi thực hiện giảng dạy
chương trình thay sách giáo khoa lớp 6, ý tưởng này được hoàn thiện khi tiếp
cách toàn diện về nội dung và phương pháp dạy học lịch sử là rất cần thiết,
các phương tiện dạy học: tranh, ảnh, lược đồ… được xem như một trong
những cơ sở quan trọng của việc nhận thức lịch sử. Khai thác triệt để chức
năng, tác dụng của kênh hình sách giáo khoa sẽ tạo điều kiện để giáo viên
thực hiện tốt việc cải tiến phương pháp soạn giảng, học sinh có điều kiện chủ
động, tích cực tham gia vào quá trình tự nhận thức lịch sử một cách tốt nhất.
Vậy để khai thác tốt các kênh hình sách giáo lịch sử 8, các cấp lãnh đạo của
ngành giáo dục cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Cần thay thế các tranh ảnh, lược đồ của sách giáo khoa đang sử
dụng bằng những tranh ảnh, lược đồ đảm bảo tính khoa học (màu
sắc lược đồ phải đúng với yêu cầu bắt buộc của khoa học lịch sử ( ta
màu đỏ- địch màu xanh,đen), hình ảnh rõ nét, có màu sắc…
- Cần cung cấp thêm các bản đồ theo nội dung chương trình.
- Cung cấp thêm các phim tư liệu, băng hình, đĩa CD…để xây dựng
bài giảng điện tử
- Phân phối thời lượng hợp lí hơn trong dạy học nội dung chương
trình sách khoa môn Lịch sử 8 (hiện nay 1,5 tiết/ tuần/ học kì cần
tăng lên 2 tiết/tuần.
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
19
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
- Phân công lao động giáo viên có tham gia học các lớp bồi dưỡng về
đổi mới phương pháp dạy học, lớp bồi dưỡng chương trình và sách
giáo khoa mới, chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì III
môn Lịch sử.
- Có tài liệu hướng dẫn khai thác kênh hình sách giáo khoa.
Đề tài: Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn lịch
sử là quá trình đầu tư nghiên cứu lý luận, đối chiếu thực tiễn giảng dạy của
phương pháp dạy học trước đây với yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay
trong bộ môn Lịch sử rồi vận dụng vào thực tiễn đạt những thành công nhất
vực Mĩ La tinh theo thứ tự thời gian:
1/1804:HAITI
2/1809: Ê-CU-A-ĐO
3/1810: AC-HEN-TI-NA
4/1811:PA-RA-GOAY, VÊ-NÊ-XU-Ê-LA
5/1818: CHI-LÊ
6/1819:CÔ-LÔM-BI-A
7/1821:PÊ-RU, CÔ-XTA-RI-CÔ, EN-
XAN-VA-ĐO, GOA-TÊ-MA-LA, HÔN-
ĐU-RAT, MÊ-HI-CÔ
8/1822: BRA-XIN
9/1825:BÔ-LI-VI-A
10/1828: U-RU-GOAY
CNTB mở rộng phạm vi ở châu Mĩ
^R G b=bcb=d 1
?Ce2
Câu hỏi nêu vấn đề: Dựa vào lược đồ cho
biết phong trào cách mạng tư sản ở Châu Âu
giai đoạn 1848-1849 như thế nào?
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
21
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
Nội dung: phong trào cách mạng tư sản ở châu Âu bùng nổ nhiều nơi ở Pa-
ri, Béc-lin, Pra-ha, Viên, Bu-đa-pet, Vê-nê-xi-a, Mi-lan
-Nơi phong trào phát triển mạnh nhất là Pa-ri
=^RG8CD9.?Ce
\ddcd=]2
Câu hỏi nêu vấn đề: Dựa vào lược đồ, trình bày
thế và lực trên chiến trường châu Âu (1939-
1941)?
Câu hỏi nêu vấn đề: ựa vào lược đồ nêu
diễn biến cuộc cách mạng Tân Hợi?
Nội dung khai thác từ lược đồ:
-Cuộc cách mạng Tân Hợi bùng nổ ở Vũ
Xương, phong trào cách mạng lan rộng khắp
các tỉnh miền Nam Trung Quốc và tiến dần
lên miền Bắc, nơi chính quyền nhà Thanh còn
tồn tại bị thu hẹp ở phía Bắc.
h^RGB:Z0.)`[a[i
/.)`[[2
-Câu hỏi nêu vấn đề: Dựa vào lược đồ,
trình bày sự mở rộng thuộc địa của đế quốc
Nhật?
- Nội dung khai thác từ lược đồ:
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Nhật
chiếm Sưu Cầu (1827- 1879), chiếm Đài Loan
(1895), chiếm phía nam đảo Xa-kha-lin, Lữ
Thuận, Liêu Đông (1905), chiếm bán đảo
Triều Tiên (1910) và mở rộng ảnh hưởng ở
Mãn Châu – Trung Quốc, chiếm Sơn Đông
(1914)
Đinh Thị Bích Nga Trường THCS Phù Đổng – Đại Lộc – Quảng Nam
23
Kinh nghiêm khai thác tốt kênh hình trong giảng dạy môn Lịch Sử lớp8 bậc THCS
thuộc địa của đế quốc Nhật ngày càng mở rộng.
b;d2?!(E-Z*D,2
-Câu hỏi nêu vấn đề: Dựa vào H 91, hãy nêu lợi
thế của cứ điểm Ba Đình?
-Nội dung khai thác từ lược đồ: các công sự Ba
Đình có khu ngập nước, lũy tre dày, ruộng lúa và
8W1&2
Câu hỏi nêu vấn đề: Chi
tiết biếm hoạ của H32? quyền
lực của tổ chức độc quyền
được thể hiện như thế nào?
-Chi tiết biếm họa: công ti
độc quyền được ví như một
con mãng xà khổng lồ có !9
vô địch, dùng để
quấn quanh tòa nhà trắng (trụ
sở chính quyền nước Mĩ) và
G há to có thể nuốt chửng
người phụ nữ.
-Nội dung: sức mạnh của công ty
độc quyền, có thể chi phối quyền lực
chính trị, thao túng đời sống nhân dân.
Z9 * 6 0
?3 ! \B6 ) G
RB%]
- Câu hỏi nêu vấn đề: Qua H 69,
hãy cho biết chi tiết biếm họa, tác dụng
của Chính sách mới?
Chi tiết biếm họa: Nhà nước được
ví như một người khổng lồ đang dùng
!9 hai tay túm chặt các đầu dây
cột toàn bộ các tòa nhà đồ sộ ở nước
Mĩ
-Nội dung: sức mạnh của nhà nước trong việc kiểm soát, chi phối nền kinh
tế nước Mỹ trong tất cả các lĩnh
vực qua Chính sách mới