49
Bản và ASEAN đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong bối cảnh
mới khi mà các quốc gia lớn đều có chiến lược tranh thủ ASEAN, coi
ASEAN như là cơ sở ban đầu để thúc đẩy mở rộng hợp tác trong khu vực,
đòi hỏi Nhật Bản cũng phải có những điều chỉnh. Và trên thực tế trong
những năm gần đây các nhà lãnh đạo của Nhật Bản đều nhấn mạ
nh tầm
quan trọng trong hợp tác Nhật Bản – ASEAN. Việt Nam là một quốc gia có
quy mô lớn thứ 2 trong ASEAN và có tiềm năng phát triển. Vai trò và đóng
góp của Việt Nam trong ASEAN ngày một tăng dần tương thích với tầm cỡ
của mình. Hợp tác với Việt Nam, Nhật Bản không những có điều kiện khai
thác các tiềm năng của Việt Nam mà qua đó nâng cao uy tín, vai trò của
mình trong khu vực.
Nhật Bản e ngại một Trung Quốc trong tương lai thách thứ
c vị trí,
vai trò của mình trong khu vực. Chính vì vậy trong chiến lược phát triển
của Nhật Bản đi liền hợp tác – cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Gần đây
các công ty Nhật Bản cũng đã có động thái điều chỉnh dòng FDI vào Trung
Quốc. Cuộc đụng độ thương mại Nhật – Trung 2001 càng làm gia tăng một
tâm lý lo ngại sự nổi lên, lấn át của Trung Quốc.
Nhu cầu gia tăng hợp tác với Việt Nam c
ủa Nhật Bản còn xuất phát
từ việc muốn đẩy nhanh tạo lập nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và qua
đó tách Việt Nam khỏi ảnh hưởng của Nga và trung Quốc. Điều này không
chỉ là mong muốn của Nhật Bản mà còn nằm trong chiến lược toàn cầu của
Mỹ. Trên thực tế cả Nhật Bản và Mỹ đều lo ngại Trung Quốc. Trong thế
trận bao quanhTrung Quốc từ
Đông sang Tây, nếu Trung Quốc muốn mở
xuống phía Nam thì không thể không tính đếnViệt Nam. Đẩy mạnh hợp tác
với Việt Nam, một mặt tạo cơ hội để gia tăng quan hệ với các quốc gia
cơ tụt hậu.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản kể từ sau khi chiến tranh
lạnh kết thúc đã có bước phát triển mới mà nhiều người gọi đó là thời đại
mới của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản. Riêng trong lĩ
nh vực kinh tế quan
hệ hợp tác không chỉ dừng lại ở các hoạt động đầu tư trực tiếp đã được thực
hiện và phát triển nhanh. Tuy nhiên điều cũng cần thấy là quy mô của quan
hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản còn rất khiêm tốn so với khả năng và nhu
cầu của 2 nền kinh tế. Mặc dù Nhật Bản là bạn hàng thương mại số một,
nhà tài trợ
số một và cũng là một trong 3 nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào
Việt Nam, song so với tổng lượng kim ngạch xuất- nhập khẩu cũng như
tổng FDI của Nhật Bản ra nước ngoài thì phần của Việt Nam trong đó quá
ít ỏi, và thấp hơn so với phần của các quốc gia thuộc ASEAN. Điều này
cho thấy cần phải và có thể gia tăng hơn nữa quan hệ kinh tế gi
ữa hai quốc
gia.
51
Mở rộng hợp tác kinh tế theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá là
một chủ trương của nhà nước Việt Nam. Mở rộng hợp tác với Nhật Bản
trong bối cảnh toàn cầu hoá là một phương cách đảm bảo an ninh kinh tế
nước nhà. Bởi lẽ nếu chỉ hạn chế trong một số bạn hàng sẽ rất bất lợi khi
đối tác gặp khó khăn, việc mở rộ
ng các nối quan hệ sẽ tạo cho Việt Nam có
nhiều cửa mở ra thế giới bên ngoài, đó là những kênh hàng hoá - dịch vụ
chảy vào chảy ra, bảo đảm cho sự vận hành bình thường của nền kinh tế.
Hơn nữa Nhật Bản là một thị trường lớn, một đầu nguồn về dòng vốn và
công nghệ, cho nên mở rộng quan hệ với Nhật Bản sẽ gia tăng các cơ hội
phát triển cho Việt Nam.
năm 1995 đã rơi vào chiều hướng giảm sút. Năm 2001 chỉ đạt 160 triệu
USD, và 9 tháng đầu năm 2002 là 90 triệu USD. Trong khi đó mức đầu tư
vào Châu Á tuy cũng có sự giảm sút từ sau cuộc khủ
ng hoảng tài chính –
tiền tệ khu vực nhưng vẫn đạt 655,5 tỷ Yên chiếm 12,2% tổng FDI của
Nhật Bản ra nước ngoài. Với số liệu trên ta thấy mức FDI của Nhật Bản
vào Việt Nam còn ít so với tổng mức chung, cũng như so với mức thu hút
của các quốc gia trong khu vực. Như vậy mở rộng quan hệ, thu hút FDI
không những là nhu cầu của Việt Nam mà phía Nhật Bản cũng có khả năng
đ
áp ứng. 2. Các quan điểm cơ bản phát triển hợp tác Việt – Nhật
Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mới có nhiều yếu tố
thuận lợi, chẳng hạn môi trường hợp tác – liên kết trong khu vực gia tăng là
điều kiện rất có ý nghĩa đối với hợp tác Nhật Bản – Việt Nam. Cái quan
trọng, có tính xuất phát là 2 bên đều có nhu cầu gia tăng hợp tác do quá
trình chuyển đổ
i, cải cách của mỗi nền kinh tế. Sự tương đồng văn hoá và
truyền thống hợp tác cũng là cơ sở, kinh nghiệm cho gia tăng hợp tác hiện
nay. Tuy nhiên, cũng cần thấy việc gia tăng hợp tác không phải là con
đường rộng mở, thẳng tắp mà cũng có những trở lực cần vượt qua. Chẳng
hạn hiệu quả hợp tác vừa qua còn hạn chế do môi trường kinh doanh 2 bên
có những thay đổi
ảnh hưởng đến tâm lý các nhà kinh doanh. Cuộc cạnh
tranh quyết liệt trong khu vực, nhất là trong lĩnh vực thu hút FDI cũng tác
động đến FDI Nhật Bản vào Việt Nam. Đó là chưa nối đến sự cản trở của
một số thế lực thù địch không thấy sự vươn lên của một Việt Nam XHCN.
Những điều đó đương nhiên tác động đến quan điểm phát triển hợp tác 2
ến bước, thúc đẩy quan hệ ổn định
lâu dài và tin cậy lẫn nhau. Điều này thuận lợi cho Nhật Bản trong việc
khẳng định vai trò kinh tế cũng như trên các phương diện khác theo mong
muốn của Nhật Bản.
2.2. Quan điểm chung của Việt Nam trong quan hệ với Nhật
Với chính sách đổi mới quan hệ của Việt Nam với nước ngoài ngày
càng phát triển, Việt Nam đã triển khai chính sách đối ngoại độ
c lập tự chủ,
đa dạng hoá, đa phương hoá theo tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển”. Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Việt Nam “Mong muốn
54
các nước trong khu vực cùng nhau hợp tác làm cho Châu Á - Thái Bình
Dương có hoà bình, ổn định lâu dài, trở thành một khu vực phát triển kinh
tế năng động nhất và mạnh nhất”.
Với quan điểm chung đó và xuất phát từ nhu cầu thực tế của Việt
Nam, ngay sau thời kỳ chiến tranh lạnh, ta đã xúc tiến mạnh trong quan hệ
với các quốc gia khu vực, trong đó có Nhật Bản. Thời kỳ này quan hệ Việt
– Nhật đượ
c thực hiện trên nguyên tắc:bình đẳng, cùng có lợi. Trên cơ sở
nguyên tắc này, hai bên đã có những thoả thuận tăng cường đối thoại chính
trị – an ninh, mở rộng các lĩnh vực và các hình thức hợp tác kinh tế, phối
hợp hoạt động hợp tác dài hạn, khuyến khích hợp tác giao lưu văn hoá giữa
hai quốc gia. Với quan điểm đó quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ngày càng
củng cố, phát triển. Nhậ
t Bản trở thành một đối tác, thị trường quan trọng
hàng đầu của Việt Nam trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên trên thực tế quan hệ của Việt Nam với Nhật Bản được chú
trọng nhiều trong quan hệ kinh tế. Việt Nam hy vọng tranh thủ ở Nhật Bản