Báo cáo thực tập "thực trạng bội chi ngân sách Việt Nam năm 2010" potx - Pdf 18

B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC
KHOA

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“Thực trạng bội chi ngân sách
việt nam năm 2010"
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
A . NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG CƠ BẢN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC 3
I.KHÁI NIỆM VỀ NSNN: 3
II.ĐẶC ĐIỂM CỦA NSNN: 4
III. BỘI CHI NGÂN SÁCH 5
3 . Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm chế lạm phát 10
B. CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 13
KẾT LUẬN 24
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí và vai
trò của tài chính nhà nước ngày càng quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế xã hội. Vì vậy xây dụng nền tài chính tự chủ vững mạnh là
yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ở nước ta, trong đó Ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò chủ đạo
trong nền tài chính quốc gia.
Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong
nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ vởi tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân cùng mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của hệ
thống tài chính đặc bịêt là tài chính doanh nghiệp và tín dụng. Hơn nữa
NSNN là kế hoạch tài chính vi mô là khâu chủ đạo trong hệ thống các
khâu tài chính quyết định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội, đảm

tham gia phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp là chủ yếu. Những khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ
NSNN là các quan hệ được xác định trước, được định lượng và NN sử
dụng chúng để điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Từ những phân tích trên, ta có thể xác định được ‘’NSNN phản
ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của NN khi NN tham gia phân phối
các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của NN trên
cơ sở luật định’’
II.ĐẶC ĐIỂM CỦA NSNN:
Thứ nhất: Tạo lập và sử dụng NSNN gắn liền quyền lực với
việc thực hiện các chức năng của NN, đây cũng chính là điểm khác biệt
giữa NSNN với các khoản tài chính khác. Các khoản thu NSNN đều
mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính cấp phát ‘’không
hoàn trả trực tiếp’’. Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm
vụ kinh tế-Xã hội NN đã sử dụng để quy định hệ thống pháp luật tài
chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của
mình cho NN với tư cách là một chủ thể.
Thứ hai: NSNN luôn gắn chặt với NN chứa đựng lợi ích chung
và công, hoạt động thu chi NSNN là thể hiện các mặt KT-XH của NN,
dù dưới hình thức nào thực chất cũng là quá trình giải quyết quyền lợi
kinh tế giữa NN và XH thể hiện qua các khoản cấp phát từ NSNN cho
các mục đích tiêu dùng và đầu tư. Quan hệ kinh tế giữa NN và XH dó
đó thể hiện ở phạm vi rộng lớn.
Thứ ba: Cũng như các quỹ tiền tệ khác NSNN cũng có đặc điểm
riêng của một quỹ tiền tệ, nó tập chung lớn nhất của NN là nguồn tài
chính nên NSNN là giá trị thặng dư của xã hội do đó nó mang đặc
đIểm khác biệt.
Thứ tư: Hoạt động thu cho của NSNN được thể hiện theo nguyên
tắc không hoàn lại trực tiếp đối với người có thu nhập cao nhằm mục

- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng
hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng
lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm
cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của
Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó
làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh
doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi
của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích
thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện
chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN
sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra
được gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai
lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi
NSNN.
IV. TÌNH HÌNH BI CHI NĂM 2010
1. Bội chi năm 2010
Bội chi NSNN năm 2010 bằng 5,8% GDP, giảm 0,4% so với mục chỉ
tiêu của Nghị quyết Quốc hội là 6,2% GDP.
Bộ Tài chính cho biết năm 2010 các công cụ thuế, phí, lệ phí đối với
hàng hóa xuất, nhập khẩu đã được sử dụng linh hoạt để đẩy mạnh xuất
khẩu, kiểm soát nhập khẩu, khuyến khích sử dụng hàng hóa sản xuất
trong nước để hạn chế nhập siêu.
Bên cạnh đó là việc đẩy mạnh triển khai thủ tục hải quan điện tử, hiện đại
hóa thu NSNN nhằm giảm thiểu chi phí, thời gian cho các doanh nghiệp
hoạt động xuất nhập khẩu.
Bộ Tài chính xác định nhiệm vụ năm 2011 là tăng cường phối hợp đồng
bộ, chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách
khác nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện có hiệu quả các

Một là, lạm phát đã làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng, trong đó có
những loại tác động trực tiếp vào sản xuất kinh doanh như xăng dầu, sắt
thép, vật liệu xây dựng (6 tháng đầu năm 2008 giá xăng dầu nhập khẩu
tăng 61,8%, sắt thép tăng 29,8%…), đời sống người lao động bị tác động
trực tiếp bởi sự tăng giá lương thực, thực phẩm. Sáu tháng đầu năm 2008
so với tháng 12 năm 2007, giá lương thực tăng 57%, thực phẩm tăng
22,44%, ăn uống ngoài gia đình tăng 24,6%… Tính đến hết tháng 7 năm
2008 chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam đã bằng 121,28% so với cùng kỳ
năm 2007 (tăng 21,28%) và bằng 119,78% so với cuối năm 2007 (tăng
19,7%, tính trung bình mỗi tháng tăng 2,83%).
Hai là, với biện pháp khống chế tăng trưởng tín dụng ở mức 30%, nâng
lãi suất cơ bản lên 14%/năm làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại
định lãi suất kinh doanh phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường, tạo
mặt bằng lãi suất huy động, cho vay hợp lý khiến cho các doanh nghiệp,
hộ sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn về vay vốn kinh doanh và
phải chịu lãi suất rất cao. Chính vì vậy, chi phí sản xuất của các doanh
nghiệp và xã hội sẽ tăng cao làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh
tế chung của nền kinh tế, mặt khác làm yếu sức cạnh tranh của hàng hóa
Việt Nam trên trường quốc tế.
Ba là, kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu đi xuống do tác động của lạm
phát (Chính phủ đã phải đề nghị Quốc hội phê duyệt chỉ tiêu tăng trưởng
kinh tế năm 2008 chỉ còn khoảng 7%). Nhiều doanh nghiệp phải giảm
quy mô sản xuất, thậm chí có những doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có
thể phá sản.
Nguyên nhân của tình trạng lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua là
do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Do chi phí đẩy (giá dầu tăng cao, nhập siêu lớn trong điều kiện tỷ giá biến
động, chi phí sử dụng vốn tăng, tác động của các chính sách vĩ mô…);
Do cầu kéo (khủng hoảng lương thực thế giới, dịch bệnh triền miên…
làm lượng nhiều loại hàng hóa bị suy giảm, tuy nhiên tổng lượng cầu

như kiểm soát vấn đề bội chi NSNN. Tuy nhiên, trong quá trình xử lý bội
chi NSNN, đặc biệt trong tình hình hiện nay khi vấn đề lạm phát đang
gây ra những khó khăn rất lớn cho nền kinh tế và đời sống nhân dân,
chúng ta cần lưu ý đến những vấn đề sau trong việc xử lý bội chi NSNN:
- Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh
tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp. Điều này được thể hiện qua việc
chúng ta chỉ vay để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình
trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Nhưng, trên
thực tế số tiền vay, đặc biệt của nước ngoài, chưa được quản lý chặt chẽ.
Tình trạng đầu tư dàn trải ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục
triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và
thiếu hiệu quả. Chính vì vậy, các khoản đầu tư phát triển lấy từ nguồn
vốn vay (cả trong và ngoài nước) cần bảo đảm các quy định của Luật
NSNN và mức bội chi cho phép hằng năm do Quốc hội quyết định.
- Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như một
công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng
năm. Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác
định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên,
khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông
thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được
Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân
sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều
đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân
nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư
phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn
việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN
trong tương lai hay không.
- Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên. Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách

cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Điều đáng lưu ý là
trong khi nguồn vốn ngân sách hiện có chưa tận dụng hết, các địa phương
vẫn tiến hành vay vốn; tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng
chi đầu tư phát triển. Trong khi phải đi vay thì ngân sách địa phương lại
để kết dư lớn, có tỉnh cuối năm kết dư bằng 78,5% số bổ sung từ ngân
sách trung ương và bằng 24,9 % so với tổng chi ngân sách địa phương.
Mặt khác, còn một số khoản vay không cân đối vào ngân sách tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương tạo nên khoản thu chi ngoài ngân sách và khi
đến hạn, ngân sách địa phương không có nguồn để thanh toán gốc và lãi.
Thực chất các khoản vay của ngân sách địa phương chính là bội chi
NSNN. Một trong những nguyên tắc quản lý NSNN ở Việt Nam là tuân
theo theo nguyên tắc thống nhất, tổng thể NSNN bao gồm ngân sách các
cấp, điều đó đòi hỏi các khoản bội chi của ngân sách địa phương phải
được tổng hợp để tính bội chi NSNN. Tuy nhiên khi vay, các địa phương
phải cân đối ngân sách nên không thể hiện đầy đủ bội chi khi quyết toán
NSNN. Mức bội chi NSNN hằng năm trình Quốc hội mới chỉ phản ánh
được mức bội chi của ngân sách trung ương. Đây là một trong những mắt
xích cần phải được giải quyết trong việc xử lý bội chi NSNN.
B. CC GIẢI PHP XỬ LÝ BI CHI NGÂN SCH NH
NƯỚC
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm , bởi nó không chỉ tác
động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của
mỗi quốc gia .Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như :
giá dầu tăng cao .khủng hoảng tái chính tại mỹ ,tình trạng lạm phát diễn ra nhiều
nước trên thế giới,vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở
việt nam .Vậy xử lý bội chi ngan sách như thế nào đẻ ỏn định vĩ mô ,thực hiện
hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội ,tăng trưởng kinh tế
và kiềm chế lạm phát hiện nay ?
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường lam các nhà chính trị gia đau đầu giữa một
bên là phát triển bền vững ,duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là

ngân sách trung ương.
2 – Giải quyết tốt mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi
thường xuyên, nhất là ngân sách các địa phương.
Do vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư, sẽ kiên quyết không bố trí
nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành
và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình,
làm giảm hiệu quả đầu tư. Có như vậy, các địa phương phải tự cân đối
nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách.
3 – Nếu chấp nhận bội chi ngân sách địa phương thì cần quản lý và
giám sát chặt chẽ việc vay vốn.
Các khoản vốn vay chỉ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển các
cơ sở kinh tế. Các khoản vay của ngân sách địa phương cần được tổng
hợp và báo cáo Quốc hội để tổng hợp số bội chi NSNN hằng năm. Vấn đề
vay vốn của các địa phương không được kiểm soát chặt chẽ chẳng những
tạo ra nguy cơ vay vốn tràn lan, đầu tư kém hiệu quả mà còn ảnh hưởng
đến tính bền vững của NSNN trong tương lai. Bội chi NSNN hằng năm
không được kiểm soát chặt chẽ trước khi trình Quốc hội, mức bội chi
thực tế khác với mức bội chi báo cáo cáo Quốc hội. Điều đó tạo nên gánh
nặng nợ cho NSNN, bởi NSNN là một thể thống nhất và đa số các địa
phương trông chờ chủ yếu vào ngân sách trung ương, do vậy suy cho
cùng, các khoản nợ của ngân sách địa phương sẽ là gánh nợ của NSNN
trong khi việc đầu tư lại dàn trải, kém hiệu quả.
4. Tăng thu, giảm chi
Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi ngân
sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các
khoản thu và cắt giảm chi tiêu .Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng
không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra hai nghịch
lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh
hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng ở khu vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm
động lực phát triển kinh tế .Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất

kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến
khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô, một số mặt
hàng điện tử điện lạnh…) ; điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm
mặt hang thiết thực phục vụ sản xuất (clinke một số mặt hang sản xuất thức ăn
chăn nuôi, giấy in báo…) để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu
đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô,than đá, quặng
kim loại…) điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10
chỗ ngồi; thực hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối
với các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do giá đầu vào tăng cao, duy trì và
tăng sản xuất xuất khẩu.
Giảm chi: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ
ngân sách nhà nước . Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế ,nhưng vô
cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra bội chi ngân sách và xuất hiện lạm
phát .triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự
án mang tính chủ đạo , hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh
tế _xã hội ,đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm
,thậm chí không đầu tư .Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu
đầu tư công ,những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng
phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Một trong những giải pháp quan trọng được quốc hội thông qua là cơ cấu lại
chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng
điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61
huyện có tỉ lệ nghèo cao.
Quốc hội quyết định: cần rà soát kĩ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án,
công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước sao cho các tập
đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách nhà nước cho
các dự án công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước đầu tư.
Chính phủ việt nam vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách
tài khóa của chính phủ trong thời gian vừa qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi

giảm được khoảng 3000 tỷ đồng chi hội họp và mua sắm xe ,tức giảm được
khoảng 0,8 tổng chi ngân sách nhà nước .
5. Biện pháp vay nợ
a. Vay nợ trong nước
Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế quá
lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp . Điều này được thể hiện qua việc chúng ta chỉ
vay để đầu tư phat triển kết cáu ha tầng và các công trình trọng điểm quốc gia
phục vụ lợi ích phát triển đất nước . Nhưng trên thực tế số tiền vay ,đặc biệt của
nước ngoài chưa được quản lý chặt chẽ .Tình trạng đâu tư dân trải ở các địa
phương vẫn chưa đươc khắc phục triệt để tiến độthi công nhưng dự án trọng điểm
quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả .Chính vì vậy các khoản đầu tư phát triển lấy
từ nguồn vốn nay cả trong và ngoài nước cần đảm bảo các quy định của ngân
sách nhà nước và mức bội chi cho phép hằng năm do quốc hội quyêt định
Tập trung các khoản vay do trung ương đảm nhận các nhu cầu đầu tư của địa
phương cần được xem xét và thực hiện bổ xung từ ngân sách cấp trên thực hiện
như vậy ,tránh được đầu tư tràn lan kém hiệu quả va để tồn ngân sách quá lớn
quản lý chặt chẽ số bội chi ngân sách nhà nước .Hiên tại chúng ta đang đưng rước
mâu thuẫn giưa nhu cầu vốn cho vay đầu tư với nguồn nhân lực hạn hẹp . Nếu
thực hiên thắt chặt ,hạn chế vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh
tế đang có nhu cầu vay vốn rất cao .Nhưng nếu chung ta không kiểm soát chặt
chẽ các khoản vay của ngân sách nhà nước ,nhất là vay vốn của ngân sách địa
phương thi nguy cơ ảnh hưởng tới nên an ninh tài chính quốc gia ,sự bền vững
của ngan sách nhà nước .Thực hiên đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát
triển hài hòa cân đối giưa các vùng miền trong toàn quốc . khi các địa phương
vay vốn để đầu tư sẽ kien quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc
vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy
tu ,bả dưỡng các công trình ,làm giảm hiệu quả đầu tư . Có như vậy các địa
phương phải tự cân đói nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ
sung ngân sách nhà nước
Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái

phiếu kho bạc )
b, Vay nợ nước ngoài
Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông
qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước
nước ngoài ,các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy
Tiền tệ Quốc tế (IMF) ,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên
chính phủ ,toor chức quốc tế …
Viên trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ ,các tổ chức
nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ
yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA
Ưu điểm :nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu ,có thể bù đắp
được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế .Đây
cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước
,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội
Nhược điểm : Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần ,nghĩa vụ trả nợ tăng lên ,giảm
khả năng chi tiêu cho chính phủ .Đông thời ,nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở
nên bị phụ thuộc vào nước ngoài .Thậm chí ,nhiều khoản vay ,khoản viện trợ còn
đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị ,quân sự ,kinh tế khiến
cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều .
Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ nước ngoài ,thực hiện chính sách chỉ
vay ưu đãi nước ngoài ,không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát
triển .Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây
đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ luân đôn . thực hiện xử lý nợ với
Nga ,Angiêri … Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ ,cũng như chính sách
vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm 2005 ,mức an
toàn ,đảm bảo an ninh tài chính quốc gia .
6. Vay ngân hàng
Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù
đắp .đáp ứng nhu cầu này ,tất nhiên ,ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền
.Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ .Chính vì vậy ,nó được gọi là tiền tệ hóa


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status