Tiểu luận: Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta - Pdf 18

Trường……………….
Khoa………………….
TIỂU LUẬN
Quá trình công nghiệp hóa và
hiện đại hóa ở nước ta

1
MỤC LỤC :
Quá trình công nghi p hóa v hi n i hóa n c taệ à ệ đạ ở ướ 1
M C L C :Ụ Ụ 2
PH N I : M UẦ ỞĐẦ 4
CH NG I: C S LÝ LU NƯƠ Ở Ở Ậ 6
1. N i dung khoa h c công nghộ ọ ệ 6
2. Vai trò c a khoa h c công nghủ ọ ệ 6
CH NGII: C S TH C TI NƯƠ Ơ Ở Ự Ễ 8
1.S c n thi t ph i phát tri n KH- CNự ầ ế ả ể 8
4. Các ngu n l c phát tri n KH- CNồ ự để ể 16
a. Ch m lo phát tri n ngu n nhân l c KH- CNă ể ồ ự 16
Nhân t con ng iố ườ 16
CH NG III : TH C TR NG KH- CN VI T NAMƯƠ Ự Ạ Ệ 18
1. Th nh côngà 18
CH NG IV: M T S GI I PHÁPƯƠ Ộ Ố Ả 25
28
C- K T LU NẾ Ậ 28
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 29
1. T P CH TRI T H CẠ Í Ế Ọ 29
2. T P CH C NG S NẠ Í Ộ Ả 29
3. GIÁO TRÌNH CNXHKH 29
4. GIÁO TRÌNH KTCT 29
5. C NG M T S TÀI LI U THAM KH O KHÁCÙ Ộ Ố Ệ Ả 29
BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN 29

Đất nước ta bước vào thời kì quá độ lên CNXH khi mà nền sản xuất chưa vận động theo
con đường bình thường của nó. Lịch sử đã để lại cho chúng ta một nền sản xuất nghèo nàn và
lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lực lượng sản xuất rất thấp kém. Nhưng ngày nay
khi độc lập dân tộc gắn kiền với CNXH là một xu thế tất yếu của lịch sử, khi giai cấp công
nhân đã nắm quyền lãnh đạo cách mạng thì kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ cũng là
lúc bắt đầu cuộc cách mạng XHCN. Cách mạnh XHCN ở nước ta là một quá trình biến đổi cách
mạng toàn điện, sâu sắc và triệt để. đó là một quá trình vừa xoá bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới
từ gốc đến ngọn. Phải tạo ra cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng mới, tạo ra của cải đời
sồng vật chất mới lẫn đời sống tinh thần và văn hoá mới. Do đó, trong quá trình đi lên CNXH
chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.theo quan điểm của ban chấp
hành trung ương Đảng khoá VII đã khẳng định“Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế –xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Quan điểm này đã
gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá đồng thời đã xác định vai trò khoa học-công nghệ là then
chốt đẩy mạnh công nghiệp hoá. Trong điều kiện giao lưu kinh tế giữa các nước chưa được mở
rộng, quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước chưa phát triển mạnh mẽ phải”tự lực cánh
sinh” thì đó chính là một trình tự hợp lí để tiến hành công nghiệp hoá. Song hiện nay cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ đang tác động một cách sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới
khoảng thời gian để phát minh mới ra đời thay thế phát minh cũ ngày càng được rút ngắn lại, xu
hướng chuyển giao công nghệ giữa các nước ngày càng trở thành đòi hỏi cấp bách, không chỉ
đối với các nước lạc hậu, mà ngay cả đói với các nước phát triển. Thực tế cho thấy có thể
chuyển giao một cách có hiệu quả cho các nước đi sau khi mà các nước đi sau đã có sự chuẩn bị
kĩ càng để đón nhận. Vấn đề đặt ra là các nước đi sau trong đó có nước ta cần phải làm ngững gì
đẻ iếp nhận một cách có hiệu quả nhất những thành tựu mà các nước đi trước đã đạt được. Bài
học thành công trong quá trình công nghiệp hoá của các nước NIC đã chỉ ra rằng: việc xây dựng
một cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa với bên ngoài ngằm tiếp nhận một cách có chọn lọc
những thành tựu của các nước đi trước kết hợp với việc đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và


2. Vai trò của khoa học công nghệ
Trong thời đại ngày nay, có lẽ không còn ai không nhận thức được rằng khoa học và
công nghệ có vai trò rất quan trọng về nhiều mặt đối với sự phát triển. Khoa học và công nghệ
là cái không thể thiếu được trông đời sống kinh tế – văn hoá của một quốc gia. Vai trò này của
khoa học và công nghệ càng trở lên đặc biệt quan trọng đối với nước ta đang trên con đường rút
ngắn giai đoạn phát triển để sớm trở thành một xã hội hiện đại. Ngay từ khi bắt đầu tiến hành

6
công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định khoa học và công nghệ là cái giữ vai trò quan
trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bản đảm chất lượng
và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân
giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh, khoa học và công nghệ phải trở thành “quốc sánh
hàng đầu”.
Nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH. Nghị
quyết Trung ương hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã xác định rõ :”CNH-
HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ” “khoa học và công nghệ phải trở
thành nền tảng và động lực cho CNH- HĐH”. Chỉ bằng con đường CNH- HĐH, phát triển khoa
học và công nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh
văn minh. Việc đưa khoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập những tri thức khoa học và
công nghê cần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện
nay. Nghị quyết trung ương II cũng đã nhấn mạnh phải thật sự coi “Sự phát triển khoa học và
công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần
chúng. Bởi lẽ dù chúng ta có tiến hành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, có đưa trang
thiết bị kỹ thuật tân tiến nhất, những quy trình công nghệ hiện đại nhất vào nước ta thì cũng
không có gì để có thể bảo đảm đẩy mạnh được CNH- HĐH. Nếu không có được những con
người am hiểu và sử dụng chúng. Do đó, xã hội hoá tri thức khoa học và công nghệ là một trong
những nhu cầu thiết thực và cấp bách nhất để đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
Phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình phát triển và nâng cao trình độ công
nghiệp. Việc nâng cao trình độ công nghệ được thực hiện trong quá trình điện khí hoá, cơ giới
hoá, tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá và sinh học hoá. Trong các ngành lĩnh vực kinh tế

Thêm vào đó, sự tăng dân số quá nhanh đã gây ra những khó khăn cho việc bảo đảm lương
thực, giải quyết công ăn việc làm cho những người lao động
Ngoài những khó khăn trong nước, nước ta còn phải chịu những di sản nặng nề do sự nô
dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân để kại, đồng thời các cường đế quốc lại đang
thực hiện chính sách kìm hãm sự phát triển khoa học và kỹ thuật nhằm duy trì tình trạng bất
bình đẳng của họ trong sự phân công lao động quốc tế

8
Nếu nước ta sau khi đã được giải phóng khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, lại chọn
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc đứng giữa ngã ba đường trong việc lựa chọn
phương hương phát triển xã hội dù chúng ta có sự cố gắng như thế nào đi nữa trong việc sử
dụng những thành tựu KH- CN hiện đại thì chúng ta cũng không thoát khỏi địa vị phụ thuộc vào
các nước đế quốc về mặt KH- CN và do đó phụ thuộc về mặt kinh tế, không thể khắc phục được
những mâu thuẫn xã hội do tiến bộ khoa học và kỹ thuật gây ra, không thể tiến hành thành công
cuộc cách mạng KH- CN
Do đó, điều kiện kiên quyết để tiến hành cách mạng KH- CN ở nước ta là phải tiến hành
cải tạo xã hội sâu sắc, chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân mới và các thế lực
phản động để đi lên CNXH.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, khoa học và công nghệ nước ta bước đầu có sự
chuyển biến tích cực. Tuy nhiên cho đến nay, nền khoa học và kỹ thuật nước ta vẫn đang trong
tình trạng lạc hậu, chậm phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước
Về trình độ kỹ thuật- công nghệ, so với các nước tiên tiến nhất trên thế giới, chúng ta lạc
hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ
Với thực trạng đó, việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học – công nghệ ở nước ta không
chỉ được coi là tất yếu khách quan, mà còn là một đòi hỏi bức xúc để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành
nước công nghiệp. Khác với các nước đi đàu, công nghiệp hoá nước ta đòi hỏi phải thực hiện
rút ngắn. chỉ có như thế, chúng ta mới có thể sớm rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi
kịp các nước phát triển. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá

Ở nước ta, cùng với việc tập trung nỗ lực KH- CN khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất-
kỹ thuật hiện có, cũng cần phải chăm lo, dành một số phần tiềm lực dư lớn cho việc thử nghiệm,
lựa chọn một sồ hướng công nghệ cao phù hợp để một mặt, hỗ trợ cho việc giải quyết có hiệu
quả hơn, mặt khác thúc đẩy việc hình thành một số lĩnh vực sản xuất công nghệ cao với quy mô
phù hợp để tạo ta các sản phẩm thay thế nhập và tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
Trong số những hướng công nghệ cao, cần quan tâm đầy đủ tới khâu tin học hoá một số
lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Cần có quyết tâm trong việc đầu tư phát triển một số lĩnh vực
sản xuất gắn với các hương ưu tiên của chương trình tổng hợp tiến bộ KH- CN. Đó là dịp tốt để
VN tham gia vào phân công lao động quốc tế về một số sản phẩm có hàm lượng khoa học cao
c. Thúc đẩy việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của các xí nghiệp nhỏ, của khu
vực tiểu thủ công nghệp cả ở thành thị và nông thôn.
Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng để có thể thực hiện có hiệu quả chiếm lược này, việc
nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu về công nghệ, sự yêú kém về năng lực quản lý, sự thiếu hụt
về lực lượng lao động có kỹ thuật là yêu cầu bức bách phải giải quyết .Bởi vậy việc giành một

10
phần nỗ lực đủ mạnh hướng vào việc giải quyết các nhu cầu khoa học và công nghệ phục vụ
phát triển công nghiệp nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt
Những phân tích nêu trên đã tới gợi ý quan trọng là chiến lược phát triển khoa học và kỹ
thuật không thể không quan tâm đến việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ ,cải tiến và
nên coi đây là một hướng có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và lâu dài .
d.Kết hợp hữu cơ việc tập trung nỗ lực giải quyết các vấn đề trước mắt và tiếp tục tăng
cường tiềm lực khoa học và kỹ thuật nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của giai đoạn phát
triển tiếp theo
3. Vai trò của KH- CN đối với một số lĩnh vực
a. Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển nông thôn
Gần 20 năm qua sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt được những thành
tựu to lớn góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh tế xã hội đưa nước ta bước sang giai
đoạn mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Tuy nhiên cho đến nay với gần 80%
dân số của cả nước sống ở nông thôn, trong đó tỷ lệ đói nghèo vẫn còn trên 22%, có nơi như ở

CN chưa có sự tác động cần thiết và hiệu quả bản đảm tính ổn định, bền vững của nông sản
hàng hoá khi gặp phải rủi ro của thiên tai và thị trường
- Phát triển công nghệ chế biến là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thực hiện CNH-
HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhưng phát triển công nghiệp, chế biến như thế nào lại là vấn đề
bức xúc đang đòi hỏi nghiên cứu và làm rõ
- Gần đây, Nhà nước tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nông nghiệp, nông thôn. Hiện có rất nhiều vấn đề về kỹ thuật để bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư
của nhà nước chưa được giải quyết tốt. Do đó, nông nghiệp, nông thôn đang rất cần có sự tác
động của lực lượng KH- CN
Tình hình trên khẳng định vai trò của KH- CN trong quá trình thực hiện CNH- HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay và đó cũng chính là những yêu cầu bức xúc đặt ra
đối với các nhà khoa học vì sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để huy động
được các lực lượng KH- CN phục vụ nông nghiệp, nông thôn, chú ý các vấn đề về tổ chức bộ
máy, cơ chế vận hành và các chính sách tác động, trong đó cốt lõi là giải quyết hợp lý lợi ích
cho người làm nghiên cứu, triển khai các thành tựu của KH- CN.
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật phục vụ
kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một việc làm hiệu quả, đã khẳng định vai trò, động lực chủ
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, cần tổ chức, vận
động thành phong trào rộng lớn đưa KH- CN về phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
nhằm tạo ra bước chuyển biến rõ rệt về năng suất chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của
nông sản hàng hoá, chủ động hội nhập cới khu vực và quốc tế, góp phần chuyển đổi nhanh cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi để có cơ sở lựa

12
chọn, nhân giống các sản phẩm có ưu thế ở từng vùng, từng địa phương, phát triển công nghiệp,
công nghệ chế biến, ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch nhằm hạn chế tổn thất, duy trì chất
lượng nông sản, khai thác các tiềm năng chưa phát huy hết, tăng cường luận cứ khoa học để bảo
đảm hiệu quả đầu tư cho khu vực nông nghiệp và nông thôn.
b. Mối quan hệ giữa KH- CN với sản xuất vật chất
Khoa học có nguồn gốc, bản chất, chức năng sứ mạng từ đời sống thực tiễn của xã hội,

ngày, từng giờ ở khắp mọi nơi trên thế giới đã có tác dụng cụ thể. Sức tiến công vũ bão của
phong trào giải phong dân tộc, giai cấp tư sản đã chủ động ra sức đẩy mạnh cuộc cách mạng
KH- KT, sử dụng các thành quả của nó để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế một
cách thành công
Tuy không lạc quan đến mức vội vã và ngộ nhận mà cho rằng, cuộc cách mạng KH- CN
hiện đại sẽ tự động và trực tiếp đưa ngay đến một xã hội thực sự là “ hậu TBCN “, nhưng chúng
ta vẫn có thể ghi nhận những thành tựu lớn lao của cuộc cách mạng này và có đủ cơ sở để tin
tưởng rằng, những thành tựu ấy trong hôm qua, hôm nay và ngày mai đều góp phần thiết thực
thúc đẩy CNTB đi nhanh hơn tới điểm kết thúc không thể tránh khỏi.
c. Khoa học – công nghệ đã nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở nước ta
Việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là dự đoán thiên tài của C.Mác. Dựa
trên cơ sở phân tích rõ vai trò của khoa học trong sự phát triển của công nghiêp, ông đã kết luận
: Việc biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp là một quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội. Ngày nay dự đoán ấy đang trở thành hiện thực trong nhiều nước công nghiệp phát
triển
Khoa học là một hệ thống tri thức được tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn
kiểm nghiệm, phản ánh những quy kuật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như hoạt động
tinh thần của con người, giúp con người có năng lực cải tạo thế giới
Như vậy, khoa học là” văn hoá biết”, còn sản xuất, kỹ thuật, công nghệ là “ văn hóa làm “.
Từ “biết” đến “ làm “ có một khoảng nhất định nhưng không hề có bức tường nào ngăn cản
tuyệt đối cả. Khoảng cách ấy có thể bị rút ngắn và được rút ngắn đến đâu là tuỳ thuộc ở trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, của kỹ thuật, công nghệ và khoa học
Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đến lượt mình
nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất. Do đó con người hoàn toàn
có khả năng biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trong thực tế, sự phát triển của khoa học đã giúp con người tăng cường sức mạnh trong
quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng có hiệu quả những sức mạnh của nó. Nếu không có sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học, làm sao con người có thể tạo ta năng lượng hạt nhân, phóng

14

để một lý thuyết khoa học đi vào thực tế sản xuất, trực tiếp tạo tra sản phẩm hàng hoá đang
ngày càng được rút ngắn

15
4. Các nguồn lực để phát triển KH- CN
a. Chăm lo phát triển nguồn nhân lực KH- CN
Nhân tố con người
Nhân tố con người, đã và đang là điều kiện quyết định trong sự nghiệp phát triển KH-
CN của nước ta. Thành công của chúng ta là ở chỗ đã tạo ta một lực lượng cán bộ KH- CN ban
đầu tương đối đông đảo. Mặt khác, chính lĩnh vực này cũng là nơi đang đặt ta những vấn đề bức
thiết, mà việc giải quyết chúng, về thực chất, sẽ quyết định tính hiện thực của những bước tiếp
theo
Đối với KH- CN vấn đề không chỉ là những nhà khoa học, các kỹ sư, kỹ thuật viên với
nghề nghiệp chính thức của họ là làm công tác KH- CN, mà trước hết phải nói đến cả phong
trào quần chúng nhân dân đang tham dự vào hoạt đông công nghệ trong sản xuất xã hội. Bất cứ
hoạt động gì trong thực tiễn đời sống và sản xuất đều có quan hệ tới KH- CN.
Yếu tố quan trọng hàng đầu cho tiến bộ khoa và công nghệ là phải tạo ra một mội trường
xã hội thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển. Ở một mức độ đáng kể, môi trường đó
được tạo nên bởi nhận thức của con người ở mọi tầng lớp xã hội về vai trò của khoa học và
công nghệ
Thấy được ý nghĩa của môi trường khoa học và công nghệ dân chúng là để từ đó cần chú
trọng các biện pháp tác động về mọi mặt : giáo dục, đào tạo, tuyên truyền, phổ biến, kích thích
kinh tế và các biện pháp khác
Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học
Đào tạo là khâu đầu tiên của một chu trình hình thành và sử dụng nguồn nhân lực quốc
gia về mặt khoa học và công nghệ. Nói đến đào tạo đối với nguồn nhân lực này trước hết phải
kể đến toàn bộ hệ thống giáp dục các cấp, từ phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, giáo dục
chuyên nghiệp đến đại học và trên đại học.
Tuy nhiên, so với yêu cầu chuẩn bị cán bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh công
nghệ hoá trong giai đoạn sắp tới thì đội ngũ cán bộ ấy vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất

Không ít trường hợp sự đánh gía tiềm lực khoa học- công nghệ của đất nước ta hiện nay
tỏ ra lạc quan, khi chỉ nhìn vào số lượng cơ cấu, trình độ đào tạo ban đầu của đội ngũ cán bộ.
Chúng ta hầu như đã có đủ tất cả các ngành nghề với số lượng khá đông cho một nền kinh tế
như nước ta. Song nhiều lĩnh vực chúng ta không thể huy động được lực lượng cần thiết, mặc
dù, trên danh nghĩa, chuyên ngành nào đó đã có một đội ngũ cán bộ được đào tạo không nhỏ.
Như vậy, năng lực thực tế kém xa năng lực trên danh nghĩa.
Như vậy nếu đào tạo không đi đôi với sử dụng và phát huy trình độ đã có thì không làm
tăng thêm tiềm lực khoa học- công nghệ của đất nước, trái lại còn có thể giảm sút so với tích tụ
ban đầu của nguồn nhân lực.

17
b. Bảo đảm nguồn vốn cho sự phát triển KH- CN
Bên cạnh nhân lực thì vốn là điều kiện quan trọng cho phát triển khoa học- công nghệ.
Muốn cho sự nhiệp công nghiệp hoá, hiện đai hoá được tiến hành với tốc độ nhanh cần phải có
cơ chế, chính sách và biện pháp huy động được nguồn vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn
có hiệu quả nhất.
Vấn đề huy động vốn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá có ý nghĩa quan trọng
đối với nền kinh tế nước ta. Song song với việc huy động các nguồn vốn, vấn đề sử dụng, bảo
toàn và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Yêu cầu bảo toàn vốn được thể hiện
trước hết trong công tác tổ chức tài chính, có nghĩa là phải lựa chọn các phương án tối ưu trong
tạo nguồn tài chính. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển vốn trước hết xuất phát từ
yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, phải hoạch toán kinh tế kinh doanh, xuất phát từ yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao. Vì
vậy, để quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và dản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế
cao, để nền kinh tế phát triển bền vững, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, phải nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG KH- CN VIỆT NAM
1. Thành công
KH- CN đã tập trung vào sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Đã
áp dụng các công nghệ và phương pháp nghiên cứu tiên tiến: viễn thám, địa vật lý… vào công

bình quân khoảng 23% năm 2004 đạt 2,1 tỷ USD, công nghiệp viễn thông đạt 200 triệu USD,
máy tính 1 triệu USD, điện tử 730 triệu USD, công nghệ phần mềm 170 triệu USD.
Trong lĩnh vực năng lượng, nhiều công trình, nghiên cứu KH- CN đã tập trung vào công
tác quy hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng. Đổi mới CN xây dựng các nhà máy thuỷ
điện, nhiệt điện, nghiên cứu các phương pháp giảm tổn thất năng lượng trong truyền tải điện và
đổi mới CN. Hệ thống năng lượng đã phát triển nhanh chóng : 80% địa bàn xã ở khu vực nông
thôn, hơn 50% hộ gia đình đã có điện sử dụng.
Trong giao thông vận tải, KH- CN đã góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và phát
triển mạng lưới, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông… đã xây dựng một số công
trình quan trọng bằng việc áp dụng các CN mới : đóng tàu biển trọng tải 3.000 tấn, công trình

19
hạ tầng cất cánh sân bay Tân Sơn Nhất, thắng thầu nhiều công trình giao thông ở Lào,
Campuchia… với việc áp dụng CN mới trong gia cố nền móng và thi công mặt đường.
Trong viễn thông, đã xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thông tin hiện đại bằng việc áp
dụng kỹ thuật số, thông tin vệ tinh, cáp sợi quang… đủ mạnh để hoà nhập mạng thông tin quốc
tế và khu vực. Viễn thông nước ta hiện được xếp vào một trong những nước có tốc độ phát triển
nhanh nhất thế giới. Bên cạnh mạng lưới hữu tuyến điện phát triển rộng khắp với các loại hình
dịch vụ đa dạng, các hệ thống thông tin di động, máy sóng ngắn, cực ngắn, cũng phát triển
mạnh, được các tổ chức kinh tế, cơ quan trong và ngoài nước sử dụng. Thị trường tin học nước
ta những năm qua, có tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 40-50%. Hiện các cơ
quan Đảng, chính phủ đang sử dụng hàng vạn chiếc máy vi tính, trong đó lưu giữ nhiều thông
tin, số liệu bí mật quan trọng. Liên quan đến kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia. Trên đà
ấy, việc sử dụng máy vi tính ở nước ta bắt đầu chuyển từ giai đoạn sử dụng riêng lẻ, sang hình
thức sử dụng mạng cục bộ và mạng diện rộng.
Trong y tế, hàng loạt các thành tựu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, miễn dịch học, cắt giảm,
tỷ lệ mắc các chứng bệnh nguy hiểm : lao, phong, sốt rét, ho gà, bại liệt, sởi… Kết hợp y học
truyển thống với y học hiện đại, sản xuất nhiều mặt hàng thuốc mới. Nâng cao trình độ trong
phòng và chuẩn đoán bệnh, ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm : viêm gan, viêm não Nhật Bản…
Đến nay nước ta đã có đội ngũ cán bộ KH- CN hơn 800.000 người trình độ đại hoc, 8.775

Với mức đầu tư như vậy nên chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu, phòng thí nghiệm và
cụng cụ thí nghiệm thiếu… cơ quan khoa học và công nghệ chỉ có thể hoạt động cầm chừng, chỉ
giải quyết những vấn đề trước mắt mà không thể tạo ra được thành quả khoa học có tầm chiến
lược. Nếu không có các chính sách điều chỉnh, các cơ quan nghiên cứu khoa học chắc chắn sẽ
rơi vào tình trạng tồi tệ hơn, đội ngũ cán bộ nghiên cứu có thể bị chia xẻ và giã từ những công
việc chuyên môn mà lâu nay họ tâm huyết.
Lực lượng cán bộ nòng cốt thiếu và già yếu
Kết quả điều tra 233 cơ quan khoa học công nghệ chủ yếu thuộc trung ương cho thấy :
trong số 22.313 cán bộ công nhân viên thì số người có trình độ trên đại học là 2.509 người, cao
đẳng và đại học 11.447 người và dưới cao đẳng là 8.357
Trong số các cán bộ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ chỉ có 15,1% là nữ, cũng trong số
các cán bộ có trình độ học vấn cao này chỉ có 19,9% giữ các chức vụ lãnh đạo.
So với yêu cầu phát triển thì nhiều ngành còn thiếu lực lượng lao động có trình độ khoa
học- kỹ thuật. Trước tình hình mở cửa nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty tư nhân
đã thu hút số lượng đáng kể lao động có trình độ chuyên môn cao từ các cơ quan khoa học công
nghệ của nhà nước. Ở tất cả các đối tượng lao động, số trường hợp ra đi nhiều hơn số trường
hợp đến, đặc biệt với số cán bộ khoa học có học vị cao, số ra đi vượt hẳn số đến.

21
Tuổi trung bình của cán bộ khoa học có học vị, học hàm khá cao. Bình quân chung là
57,2 tuổi trong đó giáo sư là 59,5 tuổi và phó giáp sư là 56,4 tuổi. Số cán bộ cán học vị, học
hàm cao ở tuổi 50 chỉ chiếm 12% trong khi đó tuổi từ 56 trở lên là 65,7%, riêng giáo sư chiếm
tới 77,4% và phó giáo sư chiếm 62%. Khi phân chia theo lứa tuổi các cán bộ khoa học công
nghệ có học hàm thì phần đông giáo sư có tuổi trên 60 và phó giáo sư có tuổi từ 56 đến 60. Khi
một bộ phận lớn các cán bộ khoa học chủ chốt đang về già và sẽ không có khả năng làm việc thì
đội ngũ cán bộ trẻ thay thế lại chưa được chuẩn bị bồi dưỡng đào tạo. Hẫng hụt đội ngũ cán bộ
khoa học công nghệ đầu ngành sẽ diễn ra trong tương lai rất gần.
Sự phân bố lực lượng lao động khoa học không hợp lý
Có thể nói sự phân bố lực lượng lao động mất cân đối giữa các ngành, các khu vực giữa
các vùng, giữa các thành phần kinh tế đã gây ra hậu quả xấu cho quá trình phát triển, càng làm

nghệ
3.Thực tế đổi mới vừa qua đã xuất hiện một nghịch lý và mở của mang lại sự khởi sắc cho
nền kinh tế thì nó lại làm cho vị thế của các nhà khoa học trong nước giảm xuống tương đối.
Một bộ phận không nhỏ đội ngũ các nhà khoa học công nghệ buộc phải làm thêm nghề khác
hoặc đổi hẳn nghề.
Sự lão hoá của đội ngũ khoa học cũng lý giải một phần cho hiện tượng này. Tuổi trung
bình của cán bộ khoa học công nghệ làm việc ở các viện nghiên cứu là 45- 46 tuổi, tuổi trung
bình của cán bộ nghiên cứu có trình độ cao vào khoảng 55 và 60… có thể do nhiều lý do, trong
đó một lý do quan trọng là : coi giai đoạn hiện nay như là quá độ chuyển đổi từ mô hình nghiên
cứu khoa học công nghệ kiểu cũ sang mô hình nghiên cứu kiểu mới. Đối với lớp trẻ, hình mẫu
các nhà nghiên cứu thế hệ trước không còn mấy hấp dẫn, họ đang tìm kiếm những con đường
khác, những phương thức hoạt động khoa học khác
4. Chúng ta từng hy vọng có thể thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài vào VN để nhận
được những công nghệ cần thiết tiến hành CNH, HĐH. Tuy nhiên thực tế diễn ra không như
mong muốn. Trước hết, luồng đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chững lại sẽ hạn chế khuôn
khổ chuyển giao công nghệ. Thứ hai, cơ cấu đầu tư với 18,7% vào khách sạn dụ lịch… là một
nhân tố góp phần hạn chế quy mô chuyển giao công nghệ tiên tiến. Thứ ba, ngay trong bản thân
lĩnh vực công nghiệp, các chủ đầu tư nước ngoài dường như chẳng hề sốt sắng du nhập các
công nghệ tiên tiến vào VN, thay vào đó, họ chú ý nhiều đến các công nghệ thế hệ cũ cho phép
thu lại lợi nhuận tức thì từ lao động rẻ, môi trường đầu tư dễ dãi và miền đất đầu tư mới mẻ.
3. Nguyên nhân của những thực trạng ấy
Do tỷ lệ cán bộ KH- CN trong các doanh nghiệp còn thấp ; cấu trúc và phân bố đội ngũ
chưa hợp lý ; số cán bộ được đào tạo về các ngành KH và KT chỉ chiếm 15,4% trong tổng số

23
đội ngũ cán bộ KH- CN ; sự phân bố cán bộ KH- CN theo vùng lãnh thổ còn mất cân đối lớn.
Đội ngũ cán bộ KH đông nhưng chưa mạnh
Chất lượng đào tạo cán bộ KH- CN thấp. Về trình độ, chưa cập nhật CN và tri thức hiện
đại của thế giới, bị hổng nhiều về CN cao, quản tri kinh doanh, tiếp thị, ngoại ngữ… Đội ngũ
cán bộ KH- CN nước ta có tiềm năng trí tuệ đáng kể, tiếp thu nhanh tri thức mới, nhưng còn

các hoạt động KH- CN, quản lý nhà nước về chuyển giao CN, trình độ CN trong sản xuất và
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, công tác quản lý chưa thể hiện được tính đồng bộ, chưa gắn kết
chặt chẽ với quản lý kinh tế và xã hội, chưa tạo lập thị trường rộng rãi cho KH- CN. Nhiều công
trình KH khi áp dụng vào sản xuất, còn gặp trở ngại. Bởi sản xuất chưa thực sự có nhu cầu KH.
Cạnh đó, nhiều viện nghiên cứu có khả năng đáp ứng nhu cầu của sản xuất, lại không có đơn
đặt hàng. Hiện tượng tách rời gữa KH và sản xuất còn phổ biến.
Thành tựu KH, các tiến bộ CN, chưa được áp dụng rộng rãi nên chưa tạo chuyển biến rõ
nét về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Chưa tạo được
những ngành nghề mới xuất phát từ kết quả của hoạt động KH- CN. Thị trường cho KH- CN
chưa được hình thành. Trình độ CN nói chung còn ở mức thấp. Trong các ngành công nghiệp,
hệ thống máy móc thiết bị hiện tại lạc hậu so với thế giới và hình thành từ nhiều nguồn chắp vá.
Mẫu mã hàng hoá đơn điệu, chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh, xuất khẩu kém.
Quy mô dự án còn nhỏ, chưa tương xứng với tầm nhiệm vụ cấp nhà nước, phần lớn chỉ dừng ở
quy mô ngành, địa phương, hoặc cấp cơ sở, ít có tác dụng thúc đẩu sản xuất.
Công tác quản lý KH- CN tuy đã được đổi mới, nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh. Cơ
chế quản lý các chương trình trọng đIúm cấp nhà nước còn nhiều thủ tục rườm ràc không chặt
chẽ, chưa bảo đảm tập trung các nguồn lực vào những mục tiêu chủ yếu. Cơ chế chính sách hiện
hành không khuyến khích và bắt buộc các doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu triển khai hoặc có
chiến lược lâu dàI về đổi mới CN, đổi mới sản phẩm.

CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Khoa học có tính độc lập tương đối trong sự phát triển của nó, luôn được tích luỹ, có tính
kế thừa, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ nước này qua nước khác. Nhờ thế một
nước lạc hậu đI sau có thể đuổi kịp các nước phát triển nếu có những chính sách khôn ngoan,
biết tiếp thu thành tựu khoa học của nước khác và biết vận dụng phù hợp với điều kiện nước
mình. Chúng ta cần biết tranh thủ tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ
hiện đại của các nước phát triển bằng mọi cách có thể được, nếu việc làm ấy có hiệu quả cao
hơn, dỡ tốn kém hơn đầu tư nghiên cứu trong nước.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status