Khung pháp luật chung cho nhà đầu tư trong và ngoài nước 5 potx - Pdf 18


61
nước đi sau như nước ta nếu chủ động được trong lộ trình hội nhập, thì sẽ hạn chế
được rủi ro và có cơ hội phát triển nhanh. Chúng ta cần tận dụng tối đa những
thuận lợi, những cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập, đồng thời phải né tránh, hạn
chế những mặt trái, những rủi ro, tiêu cực rất lớn của nó.
Trong bối cảnh của tình hình trong nước và quốc tế như trên, thời gian tới,
Nhà nước ta sẽ phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ
việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh
tế nông thôn, các dự án ứng dụng công nghệ thông tinh, công nghệ sinh học, dầu
khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, sản xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
– xã hội và các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh với công nghiệp
hiện đại, tạo thêm việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Để chủ động hội nhập có hiệu quả, cần nỗ lực chủ quan rất lớn và phải có
kế hoạch tổng thể tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng lộ trình hợp lý và
chương trình hành động trong từng thời kỳ, phát huy quyền chủ động của các
cấp, các ngành. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi
mỗi quốc gia phải phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu tư nước
ngoài nói riêng để tương đồng với các nước ASEAN và các nước khác trong khu
vực và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây có thể nói là yêu cầu mang tính khách
quan, bởi lẽ nếu ta không phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu
tư nước ngoài nói riêng, thì nước ta rất khó hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Vì những lẽ đó, để công cuộc đổi mới về kinh tế tiếp tục phát triển và thực
hiện được các mục tiêu của chiến lược 10 năm 2001-2010 mà Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ IX đã đề ra, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp giữa sự phát huy nội lực và
nhân tố bên ngoài, trong đó việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài là yêu
cầu mang tính cấp thiết hiện nay.

3.2. Các nguyên tắc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư nước

phát triển kinh tế, sử dụng nội lực, đồng thời mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế để

63
việc hoàn thiện pháp luật đi đúng hướng và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện
phát triển của Việt Nam.
Nguyên tắc thứ hai: Hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài phải phù hợp
với Hiến pháp, đồng thời hoàn thiện một cách đồng bộ các đạo luật khác có liên
quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị
quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Đáng chú ý, Điều
16 Hiến pháp năm 1992 về các thành phần kinh tế đã được bổ sung thêm cụm từ
“kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, thay cụm từ “kinh tế quốc doanh” bằng cụm
từ “kinh tế nhà nước”, bổ sung cụm từ “tiểu chủ” vào sau cụm từ “kinh tế cá
thể”; thay cụm từ “giải phóng” bằng cụm từ “phát huy” cho phù hợp với thực tế.
Ngoài ra Điều 16 Hiến pháp năm 1992 còn được bổ sung quy định về
hoạt động đầu tư như sau: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức, cá
nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những
ngành, nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác bình đẳng
và cạnh tranh theo pháp luật”.
Vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc đặt ra những quy định có
tính chất nền tảng của chế độ Nhà nước, chế độ xã hội, quyền và nghĩa vụ của
công dân, tổ chức bộ máy nhà nước và là cơ sở để xác định toàn bộ hệ thống
pháp luật Việt Nam, cho nên việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này có ảnh
hưởng nhất định tới pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do đó, việc hoàn
thiện pháp luật đầu tư nước ngoài phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp.
Vì pháp luật đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại với
các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nên việc hoàn thiện pháp
luật đầu tư cũng phải được tiến hành trên cơ sở hoàn thiện một cách đồng bộ các
đạo luật đó. Nguyên tắc này đòi hỏi không được để các "lỗ hổng" trong pháp luật

xã hội gần với nước ta, như Trung Quốc và các nước ASEAN.
Nguyên tắc thứ tư: Chú trọng nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của
môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

65
Đối với Việt Nam, vấn đề thu hút đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài
trong những năm tới có ý nghĩa rất to lớn đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong điều kiện đó, việc tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, có tính cạnh tranh
đang là vấn đề bức xúc. Để nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi
trường đầu tư, phải xây dựng được một cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ về
đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, trong đó việc hoàn thiện pháp
luật đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng. Trong quá trình hoàn thiện
pháp luật đầu tư nước ngoài, phải luôn luôn quán triệt quan điểm này ngay từ khi
xây dựng ý tưởng sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài.
Để nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ngoài,
phải có quan điểm mang tính tổng thể, có tính chiến lược cao; phải có sự nghiên
cứu nghiêm túc môi trường đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực và
trên thế giới, cũng như hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh nó để rút ra
những kết luận cần thiết đối với môi trường đầu tư, pháp luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam. Làm được điều này, chúng ta sẽ tránh được tình trạng bị động lâu
nay, chạy theo các nước trong khu vực trong việc nâng cao tính cạnh tranh, tính
hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nguyên tắc thứ năm: Kết hợp mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài với việc
bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.
Đây là nguyên tắc được đặt ra không những đối với đầu tư nước ngoài, mà
còn được đặt ra đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta nói chung.
Chính vì vậy, nguyên tắc này đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện của
Đảng và được khẳng định ngay tại Điều 1 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành:
"Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ

sản xuất trong nước phát triển.
Nguyên tắc thứ bảy: Đảm bảo tính trong sáng, rõ ràng, minh bạch và công
khai các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài
Xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật về đầu tư rõ ràng, minh bạch
là vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay, bởi lẽ trong xu thế hội nhập kinh tế quốc

67
tế và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài không chấp nhận
hợp tác với quốc gia có hệ thống pháp luật mập mờ, không rành mạch. Nguyên
tắc này đòi hỏi việc hoàn thiện pháp luật đầu tư, phải được thực hiện theo
hướng: mỗi quy phạm pháp luật đầu tư đều phải dễ hiểu, hiểu theo một nghĩa,
không thể hiểu theo nhiều nghĩa và phải hết sức rành mạch, nhất là đối với các
thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư.
Ngoài ra, các quy định của pháp luật nói chung, về đầu tư nước ngoài nói
riêng sau khi được ban hành cần phải công bố công khai, rộng rãi và kịp thời cho
mọi đối tượng, trên cơ sở đó các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, cũng như
các cán bộ trong các cơ quan nhà nước ở các cấp có thể nắm bắt kịp thời, từ đó
mới có thể quyết định đầu tư và thực hiện một cách chính xác triệt để các quy
định của pháp luật. Lúc đó, các quy định của pháp luật mới thực sự đi vào cuộc
sống và phát huy hiệu quả.

3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định sự cần thiết
phải nghiên cứu để tiến tới áp dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác,
theo kế hoạch đến 2005 sẽ diễn ra Đại hội X của Đảng, đó cũng là thời điểm ta
phải thực hiện các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
hoặc gia nhập, nhất là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định Tự
do, Xúc tiến và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt nam và Nhật Bản và cũng là thời điểm
mà Việt nam dự kiến sẽ tham gia WTO. Vì vậy, dưới góc độ là một sinh viên

Thứ năm, quy định tiêu chí để hưởng ưu đãi và mức miễn, giảm tiền thuê
đất.
Thứ sáu, quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước,
thì được hưởng các ưu đãi đặc biệt.
Thứ bảy, quy định việc mở rộng diện các đối tượng được Nhà nước đảm
bảo cân đối ngoại tệ, diện hỗ trợ cân đối ngoại tệ.
Thứ tám, quy định việc bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án BOT,

69
BTO, BT; các dự án xây dựng hạ tầng, các dự án đặc biệt quan trọng.
Thứ chín, quy định về thẩm quyền, thủ tục xét giải quyết cho hưởng ưu đãi
của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương.
Đồng thời, để Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài đi vào cuộc sống, cần
sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ các đạo luật có liên quan. Cụ thể là:
- Luật Doanh nghiệp cần bổ sung đối tượng áp dụng bao gồm cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và quy định trình tự, thủ tục thành lập,
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả việc chia, tách,
sáp nhập, hợp nhất
- Luật Phá sản doanh nghiệp cần bổ sung quy định về một số đặc thù của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, như: việc tính tài sản của doanh nghiệp
khi Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; trường hợp tuyên bố
phá sản doanh nghiệp khi các bên chưa góp đủ vốn pháp định
- Luật Đất đai cần bổ sung quy định về các trường hợp cho thuê đất, giải
phóng mặt bằng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Luật Kinh doanh bất động sản cần quy định những vấn đề liên quan đến
việc kinh doanh bất động sản của các nhà đầu tư nước ngoài.
3.3.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài đối
với từng vấn đề cụ thể:
Bên cạnh giải pháp chung, tổng thể nêu trên, để khuyến khích đầu tư nước
ngoài tăng sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt nam,

uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm cá nhân cao đối với khách hàng về
dịch vụ do mình cung cấp.
Do đó, để góp phần nâng cao chất lượng một số loại dịch vụ thiết yếu, bảo
đảm lợi ích của người tiêu dùng, cần cho phép thành lập doanh nghiệp hợp danh
có vốn đầu tư nước ngoài giống như quy định chung của Luật Doanh nghiệp
hiện hành. Doanh nghiệp hợp danh có vốn đầu tư nước ngoài này có những đặc
thù chủ yếu là: phải có ít nhất một thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài.
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
(kể cả tài sản cá nhân) về các nghĩa vụ của doanh nghiệp (trách nhiệm vô hạn).

71
* Chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam để đầu tư, kinh doanh
Việc thành lập chi nhánh ở nước ngoài để mở rộng hoạt động đầu tư và
thương mại là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu hóa của các công ty
xuyên quốc gia. Trên thế giới, các nước đều xem chi nhánh sản xuất của công ty
nước ngoài là một trong những hình thức đầu tư nước ngoài. ở nước ta, Luật
Thương mại đã cho phép thương nhân nước ngoài có đủ điều kiện được thành
lập Chi nhánh thương mại theo mục đích, phạm vi và thời hạn quy định trong
Giấy phép (như mua, bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, gia công hàng
hóa, giám định hàng hóa, đại lý, quảng cáo, giao nhận hàng hóa ).
Để mở rộng hình thức thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là tranh thủ tiềm lực
của các công ty xuyên quốc gia, cần bổ sung các quy định cho phép thành lập chi
nhánh của Công ty nước ngoài tại Việt Nam với tư cách là đơn vị phụ thuộc của
công ty nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Điều đó có
nghĩa là không chỉ dừng lại ở việc cho phép thành lập chi nhánh thương mại theo
Luật thương mại đã nêu ở trên, mà cần phải mở rộng cho cả chi nhánh sản xuất.
* Công ty quản lý vốn (Holding Company)
Việc thành lập công ty quản lý vốn hoạt động đa mục tiêu được áp dụng
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Thời gian qua, ở nước ta đã có một số tập
đoàn kinh tế lớn của thế giới cùng lúc được phép triển khai nhiều dự án đầu tư

- Đầu tư thêm vốn cho dự án mà công ty mẹ đang đầu tư 100% vốn tại
Việt Nam; hoặc đầu tư thêm cho phần góp vốn của công ty mẹ trong các dự án
liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam, nhằm tăng vốn pháp
định hoặc bù lỗ; hoặc đầu tư dự án mới;
- Tiến hành các hoạt động tìm hiểu thị trường, xúc tiến đầu tư nhằm phục
vụ cho hoạt động đầu tư của công ty mẹ cũng như hỗ trợ các công ty mà công ty
mẹ có đầu tư tại Việt Nam
- Hỗ trợ cho các dự án của công ty mẹ đầu tư tại Việt Nam làm các thủ tục
về đầu tư, như: thủ tục về xuất nhập khẩu, xây dựng, môi trường, bao tiêu sản
phẩm,
3.3.2.2. Hoàn thiện các quy định liên quan đến đất đai trong các doanh

73
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
* Giảm giá tiền thuê đất đối với dự án đầu tư nước ngoài ngang bằng với
giá thuê đất của các doanh nghiệp trong nước
Trước đây, giá thuê đất đối với các dự án đầu tư trong nước bằng khoảng
60% so với giá thuê đất áp dụng cho các dự án đầu tư nước ngoài; sau khi có
Quyết định 179/1998/QĐ-BTC của Bộ tài chính thì giá này bằng 70%-80% và
đến nay khi có Quyết định số 189/2000/QĐ-BTC ngày 24/11/2000 của Bộ Tài
chính thay thế Quyết định 179/1998/QĐ-BTC thì bằng khoảng 80%-90% giá
thuê đất của các dự án đầu tư nước ngoài. Mức chênh lệch về giá thuê đất này là
không cần thiết và cần được xóa bỏ để tận dụng những lợi thế của Việt Nam, cạnh
tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.
* Cần hướng dẫn trường hợp thuê đất đến 70 năm
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã cho phép thời hạn hoạt
động của dự án thông thường tối đa là 50 năm. Ngoài ra, căn cứ vào quy định
của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với
từng dự án, nhưng tối đa không quá 70 năm. Tuy vừa qua Luật Đất đai được
Quốc hội thông qua, trong đó cũng quy định cho phép thuê đất đến 70 năm,

quyền sử dụng đất. Do vậy, việc mở rộng hơn nữa khả năng thế chấp giá trị
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng ở nước ngoài là
cần thiết hiện nay.
3.3.2.3. Sửa đổi một số quy định về thuế
* Sửa đổi thuế thu nhập cá nhân đối với người Việt Nam
Hiện nay, các quy định về thuế thu nhập của người Việt Nam là yếu tố cản
trở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng người Việt Nam ở những vị
trí quản lý hoặc làm việc có trình độ kỹ thuật cao. Theo quy định hiện hành, với
thuế suất lũy tiến từng phần tối đa là 60% và phụ thu 30% đối với phần thu nhập
sau thuế lớn hơn 8 triệu đồng (mức thu lên đến 72% đối với thu nhập sau 11, 75
triệu đồng), chi phí để thuê lao động Việt Nam ở các vị trí này sẽ trở nên quá
lớn, có thể thuê được chuyên gia nước ngoài.
Theo biểu thuế thu nhập cao hiện hành, ta dễ dàng nhận thấy: cùng với

75
một công việc đòi hỏi trình độ cao như nhau, trả lương cao như nhau, thì người
lao động Việt Nam bị khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cao hơn nhiều so với người
lao động nước ngoài. Điều đó đã không khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao
động có trình độ cao của Việt Nam. Vì vậy, cần nâng mức khởi điểm đánh thuế
thu nhập cao đối với người Việt Nam, và hạ mức thuế suất lũy tiến đối với người
Việt Nam, để những người có trình độ của Việt Nam khi làm việc cho doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đối xử tương xứng; đồng thời doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không phải trả lương quá cao cho người
lao động, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
3.3.2.4. Quản lý ngoại hối
* Quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất
Nghị định 36/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1997 về Khu công nghiệp, khu chế
xuất, quy định: việc quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất được thực hiện theo
quy định chung về quản lý ngoại hối. Nhưng Điều 1 khoản 3 Nghị định
63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về quản lý ngoại hối lại quy định: vấn đề quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status